Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
17/3/13

Lễ - Triển Tĩnh

Lễ
Triển Tĩnh
Hoàng Thị Mai Hương dịch

Hai nhà Triệu, Vương cùng dọn đến nơi ở mới, hai căn hộ đối diện nhau qua cái hành lang. Tục ngữ nói Thân xa không bằng láng giềng gần. Láng giềng gần không bằng đối diện. Hai bên cùng có tính nết ôn hòa, đều thông nghĩa hiểu lễ, nên có mối quan hệ khá tốt.
Nhà Triệu thích ăn rượu nếp, cứ khoảng tuần lễ, chậm nhất là chục ngày lại ủ ủ ngâm ngâm. Làm xong, bao giờ vợ Triệu cũng đem biếu nhà Vương một bát. Nhà Vương lại khoái món sủi cảo, cũng hay vê vê nặn nặn. Lễ thường có qua có lại, hễ khi nhà họ Triệu biếu rượu nếp thì chỉ sau một hai hôm nhà Vương lại tặng sủi cảo. Tới lui như vậy thành ra thắm thiết lắm. Thời gian càng trôi hai nhà càng cảm thấy rất vừa ý đẹp lòng.
Rồi sự việc bỗng có chút thay đổi.
Hôm đó, vợ nhà Vương làm xong sủi cảo, đã xếp đầy bát, đã bưng lên tay, song khi vừa dợm chân bước đi thì ông chồng đứng bên bỗng nói:
“Chậm đã”.
“Sao?”. Bà vợ đưa mắt nhìn.
“Hôm qua bà không để ý là nhà Triệu biếu mình rượu nếp đầy hơn bình thường ư?”.
Bà vợ gật gù: “Đúng, có đầy hơn thật”.
“Vậy… hãy làm bát to hơn đi. Phong khí xã hội bây giờ là vậy. Trả lễ phải trọng hơn lễ. Bà quên à? Tháng trước, con trai lão Lý ở cơ quan vào trung học trưởng điểm chúng mình cho nó 20 tệ. Mấy hôn sau con mình trúng vào đại học, lão Lý cho nó 30 tệ, hơn mình những 10 tệ. Sủi cảo này thì đáng gì, đừng khiến họ nghĩ mình bủn xỉn”.
Bà vợ liền đổi bát to hơn.
Cỡ chục ngày sau, như thường lệ, nhà Triệu lại biếu rượu nếp. Cả vợ lẫn chồng nhà Vương đều nhận thấy bát này còn to hơn so với bát họ biếu lần trước.
Ông chồng nói: “Bà xem, người ta rất hiểu lễ. Ngày mai bà băm một cân thịt ngon hơn, và bát sủi cảo đem sang cũng phải to hơn bát họ vừa biếu mới được”.
Hôm sau, làm sủi cảo xong, bà Vương lục khắp hòm tủ mới tìm được cái bát vừa ý, chìa ra như khoe với chồng. “Ông giương mắt ra mà xem, đây là cái bát to nhất nhà ta. Hết cỡ rồi. Cứ thế này rồi lấy gì mà biếu”.
Ông chồng ngậm điếu thuốc, im lặng.
Đâu khoảng mười mấy hôm nữa, nhà Triệu mang sang biếu nguyên liễn rượu nếp. Liễn rất to, có thể đựng cả con gà. Vợ chồng nhà Vương nhìn mà thộn mặt ra. Người ta dùng liễn, nhà mình dùng cái gì đây? Ông chồng hoa tay nói. “Mình dùng nồi. Nhà mình đâu phải không có chiếc nồi nào nhỉnh hơn cái liễn đó?”.
Hai ngày sau, bà vợ nhà Vương mang nồi sủi cảo đi, lúc về nói với chồng. “Tôi thấy như là vợ chồng nhà Triệu không vừa ý lắm”.
“Sao, họ không thích à?”.
“Không phải là không thích, song… cũng thật khó cho họ, lần sau họ không biết đựng rượu nếp bằng cái gì để mang biếu nhà ta? Ông thật lắm chuyện. Lễ với chả lạt”.
“Đàn bà thì biết gì. Lễ nhiều, người không trách. Vả lại, chúng ta có gì sai đâu”.
Mười mấy hôm sau, vợ nhà Triệu bưng sang cái nồi nhôm cỡ vừa đầy tú hụ rượu nếp. Vợ chồng nhà Vương trong lòng không yên nhưng vẫn phải nhiệt tình tiếp nhận.
Khi đóng cửa lại, hai vợ chồng thở dài, ngây người nhìn món quà.
Bà vợ bỗng la lên: “Hỏng bét rồi, họ đem tất cả rượu nếp sang biếu nhà ta. Tôi đã thấy vò rượu nếp nhà họ, nó cũng chỉ to thế này thôi”.
Ông chồng khoát tay: “Việc này hay đây, hay đây”.
Bà vợ thở dài. “Chắc họ nghĩ nhà mình chết thèm chết nhạt rượu nếp nên mới nhịn ăn mà biếu mình. Việc này kết thúc sẽ thế nào đây hả ông, tôi thì thấy nên thôi đi, mình đừng biếu gì họ nữa”.
Ông chồng gạt phắt, kiên quyết: “Không được, cứ biếu tiếp, và không thể thua họ”.
Ngày thứ ba, hai người bận suốt tối, mãi hơn 9 giờ mới làm xong.
Bà vợ vừa khệ nệ bê cái nồi nhôm cỡ đại đựng sủi cảo vừa nói. “Cho hết người ta à? Thế này là kiểu gì đây. Làm ra bao sủi cảo mà ăn không đủ dính chân răng, làm bao rượu nếp mà không có cái gì nhét vào mồm”.
Ông chồng mắng: “Lôi thôi quá, đàn bà chỉ nghĩ đến ăn thôi!”.
Vợ cong lưng bê cái nồi đi.
Lúc sau bà về, ông vội vàng: “Thế nào?”.
“Cái gì thế nào? Còn thế nào nữa. Tống táng như vậy, khóc không ra khóc, cười chẳng ra cười”.
“Kệ họ, chúng mình tận lễ là được rồi”.
“Vâng, lại là kiểu lễ của ông. Họ ăn cả tuần cũng không hết”.
Cả hai đều im lặng.
Lúc sau, bà vợ nói: “Tôi thấy nhà họ có một cái ang đen đựng gạo, tôi lo họ sẽ khiêng cái ang sang mất”.
“Cái gì? Họ dám làm thế?”.
“Thì họ cũng giống ông thôi, cứ đợi xem”.
“Hư… ừm…”.
Sau đó, hai người phấp phỏng lo, chỉ sợ nhà Triệu khiêng cái ang sang.
Quá mười ngày, rồi lại mười ngày nữa, rồi hai tháng qua đi.
Trong hai tháng này, hai nhà thường vẫn gặp nhau ở cầu thang, hoặc ngoài đường, và cả hai bên vẫn cười chào nhau, nhưng đều không nói gì.
Riêng vợ chồng họ Vương tự cảm thấy căng thẳng quá mức, hễ cứ vào nhà, đóng cửa là giày vò nhau. Bà vợ vừa nhăn nhó vừa ngờ vực. “Mẹ ơi, có thể không lâu đâu”.
Rồi sự việc cứ qua đi.
Nhưng sau bữa tối hôm đó…
Cốc cốc cốc… vang lên tiếng gõ cửa. Tiếp đó là giọng của vợ nhà Triệu. “Bác Vương, mở cửa ra”. Sau đó lại nghe thấy cả tiếng ông Triệu.
“Lão Vương mở cửa ra, chúng tôi đến biếu hai bác rượu nếp đây”.
Vợ chồng nhà Vương vừa nghe đã có cảm giác run rẩy. “Mẹ ơi, hai người đã khiêng cái ang đến”. Nhưng không thể không mở cửa. Hai người, một trước một sau, đi ra. Bà vợ từ từ mở then. Nhà Triệu xuất hiện, và cả hai đều nheo mắt cười. Chỉ là bát rượu nếp bình thường trên tay vợ nhà Triệu.
Lời bàn: Lễ vốn là việc tốt. Ta cứ hình dung Lễ là một người phong nhã, tốt, có giáo dục. Giống như hai nhà Triệu – Vương hòa khí, lễ lạt qua lại, hàng xóm tốt biết bao. Song phàm cái gì cũng có độ của nó, chỉ cần vượt qua cái ngưỡng một tấc thôi thì sẽ đi đến sai lầm. Nói Lễ nhiều người không trách là đúng, song nhiều đến mức không chịu đựng nổi thì lại trở thành phiền nhiễu. Nói Anh kính tôi một thước, tôi kính anh một trượng đâu có sai, nhưng anh kính tôi tới mười trượng thì lại là chuyện khó cho tôi rồi.
Thế mới thấy nỗi khổ của hai nhà Vương – Triệu.
16/3/13

Cao thủ - Trung Thôn

Cao thủ
Trung Thôn
Hoàng Thị Mai Hương dịch

Con đường đất vàng quạch lúc ẩn lúc hiện trên đỉnh núi cây cỏ rậm rạp, tươi tốt. Khi ấy là mùa hè, mặt trời như thiêu như đốt, ve kêu râm ran. Trên đường có hai bóng người, một đến từ phía đông, một đến từ phía tây, song đều leo lên một con dốc lớn, đều thở phì phò, mồ hôi ròng ròng. Rồi không hẹn mà cùng tới gốc cây to nghỉ ngơi uống nước.
Trên đỉnh núi hoang dã chỉ có hai người đồng hành cùng nhau. Người từ hướng đông nhỏ bé, gầy gò, gánh trên vai bộ đồ cắt tóc. Người từ hướng tây đến thì vạm vỡ mạnh khỏe, vác một cái bao nặng trịch. Đã cùng ngồi nghỉ dưới gốc cây bóng mát thì không thể không chuyện trò. Người to lớn sau vài lần đưa mắt sang đồng hành, bèn hỏi: “Ông anh cắt tóc à?”.
Người kia nheo mắt cười: “Ba cái đồ này còn để dùng làm gì nữa?”.
Người to lớn im bặt, lúc lâu không tìm được lời nào để nói, bèn hỏi: “Ông có biết tôi làm nghề gì không?”.
Người cắt tóc lại nheo mắt cười: “Tôi biết”.  
“Làm gì nào?”.
“Ông ấy à? Không phải là quan, cũng không phải người trồng hoa màu, càng không phải dân buôn bán… nhưng ông có tiền. Ông kiếm tiền không mất sức, chỉ là lúc nửa đêm canh khuya, người ngon giấc thì qua lại tất bật. Ông làm như vậy là moi đầu óc giắt vào cạp quần…”.
“Ha… ha…” người to lớn bật ra chuỗi cười như sấm, “ông anh… tôi không nhìn ra, ông anh thật tuyệt vời”.
Người thợ cắt tóc ngồi trên gánh đồ lề vẫn chỉ nheo mắt cười.
Người to lớn xoa xoa râu tóc rậm rì của mình, bên trong đẫm mồ hôi. “Dù ông anh biết tôi làm nghề gì thì cũng xin cắt tóc hộ tôi”, rồi vỗ vào cái bao bên hông, “tôi theo giá trả tiền, có dám không?”.
Người cắt tóc đứng dậy, vẫn mỉm cười như cũ. “Thợ cắt tóc thì coi cắt tóc là một thiên chức, sao lại có chuyện không dám”.
“Ồ tốt, làm đi”.
“Để tóc hay là cắt trọc?”.
“Trọc, cắt trọc cho thoải mái”.
Người cắt tóc đến cái vũng gần đó múc nồi nước rồi lấy đá đánh lửa đun lên, gội rửa sạch đầu người to lớn kia rồi lấy khăn mặt lau kỹ, sau đó để ngồi vào chiếc ghế gấp đan bằng dây lưới, choàng cái khăn trắng quanh cổ rồi mới bắt đầu vào việc chính. Soạt soạt soạt soạt, tóc như tuyết đen tới tấp rơi xuống.
Cắt tóc xong, người thợ mở rộng chiếc ghế gấp để người to lớn có thể nằm dài ra, rồi tỉ mỉ cạo từ quanh miệng đến khắp mặt, cổ. Người to lớn cảm thấy lưỡi dao sắc lạnh lướt êm trên da mình, vòng đi vòng lại, vèo vèo như gió, lướt đi như gần mà lại như xa, gây cảm giác ngưa ngứa, dễ chịu, và khoan khoái nhắm mắt lại.
Tóc đã cắt xong, người thợ cầm gương cho khách xem, hỏi: “Thế nào?”.
Người to lớn thấy râu tóc rậm rịt thường ngày của mình biến mất, trong gương xuất hiện một quả hồ lô nhẵn thín mà ngay cả mình cũng không nhận ra, bất giác sờ lên đầu mình. “Hà hà… không tồi chút nào. Xem ra tay nghề của ông anh cũng không đến nỗi. Bao nhiêu tiền?”.
“Hai mươi nhăm đồng”.
“Cái gì?”. Người cao lớn giật thót mình. “Hai mươi nhăm đồng? Ông anh không nói đùa đấy chứ?”.
Người cắt tóc vẫn với đôi mắt nheo nheo và cái miệng mủm mỉm: “Không nhiều đâu!”.
“Sao không nhiều? Cắt một mái tóc nhiều nhất là hai hào. Cứ cho là tóc tôi khó cắt đi, trả gấp đôi là bốn hào. Vậy mà ông dám đòi hai mươi nhăm đồng?”.
Người cắt tóc vẫn bộ dạng cũ: “Không đâu, quả thật không nhiều đâu”.
“Dù tôi trả gấp mười lần thì cũng không quá hai mươi đồng, ông đòi hai mươi nhăm đồng mà còn nói không nhiều?”.
Người thợ cầm con dao ném lên không, lưỡi dao như bánh xe gió quay vù vù, lóe nắng mặt trời rất lâu sau mới rơi xuống. Người thợ nhẹ nhàng đỡ lấy. “Hãy nhìn kỹ xem nhiều hay không, ông em!”. Người thợ vừa đùa với lưỡi dao vừa nheo mắt cười với người cao lớn.
Gã kia chợt tỉnh ngộ. Người ta đã biết về con người mình, cũng biết trong bao kia là cái gì rồi. Vừa rồi, khi cạo râu, lưỡi dao cứ lượn lờ quanh cổ, nếu có lòng dạ nào, hắn ta chỉ cần đưa một đường vào cổ thì tính mệnh mình… ô hô. Mấy trăm đồng trong cái bao này sẽ hoàn toàn thuộc về hắn. Ở cái nơi không bóng người này, giết người thật dễ như trở bàn tay.
Người cao lớn thấy luồng khí lạnh từ đôi bàn chân mình dâng lên đùi, rồi lại từ xương sống xông thẳng lên não. Chân tay gã lạnh toát.
Hai nhăm đồng một mạng người? Gã run lập cập, lẩm bẩm: “Không nhiều, không phải là nhiều…” rồi lấy tiền từ trong bao ra trả. Người thợ nhận tiền, mỉm cười. “Ông em đi nhé”. Rồi nhấc gánh đồ lề đi về phía đông. Đi một lúc, đột nhiên nghe người cao lớn gào đằng sau. “Ông anh chậm thôi”. Người thợ quay lại, thấy người cao lớn hổn hển chạy theo, đến trước mặt quỳ sụp xuống, đập đầu nói: “Đại ca, ông thật là cao thủ”. Người thợ mỉm cười không nói tiếng nào, quay mình lướt đi chỉ để lại “cái gáo múc nước” sáng loáng đờ ra trên đỉnh núi hoang dã.
Lời bàn: Cao thủ – chủ đề của tác phẩm lộ ra ở trạng thái mông lung mơ hồ, không dễ nhìn rõ nhìn thấu được. “Cao thủ” rõ ràng là người thợ cắt tóc. Vấn đề ở chỗ: cao ở chỗ nào? Về thân phận mà nói, anh ta cùng loại với tay cao lớn nhơ hổ kia, đều là công việc đem não giắt vào cạp quần, “kiếm tiền không phí sức”, chỉ có phương pháp thao tác cụ thể không giống nhau mà thôi.
Tay cao lớn hành nghề vào đêm, tất tả với việc trộm cắp. Còn tay thợ cắt tóc thì dùng lưỡi dao bé tí, cắt tóc với giá cắt cổ, cũng chẳng khác gì ăn cướp, tống tiền. So sánh hai người thì tay thợ cắt tóc có thể nói là “kỹ năng số một”.
7/3/13

Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn

Sống chết mặc bay
Phạm Duy Tốn

Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng... thuộc phủ... xem chừng núng thế lắm, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức gìn giữ, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy, ngập quá khuỷu chân, người nào người ấy, lướt thướt như chuột. Tình cảnh này trông thật là thảm.
Tuy đánh trống liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác, gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cũng mệt lử cả rồi. ấy vậy mà trên trời thời mưa vẫn tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất!...
Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu đuối mà đối với sức mưa to lớn, để bảo thủ lấy tánh mạng gia tài; thế thời quan cha mẹ ở đâu?
Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.
Trong đình, đèn thắp sáng trưng; nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chện ngồi. Xung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan, thì có thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết, giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh tổng sở tại, cùng ngồi chầu bài.
Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm dân phu rối rít; nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch nghiêm trang lắm, trừ quan phụ mẫu ra, mọi người không ai dám to tiếng. So với cảnh trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đoàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới; người nhà, lính lệ như khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: "Điếu, mày!" tiếng tên lính thưa: "Dạ"; tiếng thầy Đề hỏi: "Bẩm, bốc?" tiếng quan lớn truyền "ừ". Kẻ này: "Bát xách... Ăn", người kia: "Thất văn... Phỗng", lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái, khi cười khi nói, vui vẻ dịu dàng. Thật là tôn kính, xứng đáng với một vì phúc tinh...
Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọ, bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang dậy trời đất... Mọi người giật nẩy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Vì ngài sắp ù to.
Có người khẽ nói:
- Bẩm, đê có khi vỡ!
Ngài cau mặt gắt rằng:
- Mặc kệ.
Rồi ngài xếp lại bài, quay gối dựa sang bên tay phải, nghiêng mình, bảo thầy đề lại:
- Có ăn không thì bốc chứ!
Thầy đề vội vàng:
- Dạ, bẩm bốc.
Vừa lúc đó, thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe, càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, tiếng chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.
Bấy giờ ai nấy ở trong đình, đều nôn nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, tất tả chạy xông vào, thở không ra lời:
- Bẩm... quan lớn... Đê vỡ rồi!
Quan lớn đỏ mặt, tía tai, quay ra, quát rằng:
- Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
- Dạ, bẩm...
- Đuổi cổ nó ra!
Ngài quay vào, hỏi thầy đề:
- Thầy bốc quân gì thế?
- Dạ, bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc đi chứ!
Thầy đề, tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài lật ngửa, xướng rằng:
- Chi chi!
Quan lớn vỗ tay xuống sập kêu to:
- Đây rồi!... Thế chứ lại!
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười, vừa nói:
- Ù! Thông tôm, chi chi nẩy!... Điếu mày!...
*
* *
Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh sầu thảm, kể sao cho xiết!
Tạp chí Nam Phong, số 18, tháng 12 - 1918
6/3/13

Tro tàn - Claude Simon

Tro tàn
Claude Simon
Hoàng Ngọc Biên dịch

            Trước hết là những chuỗi ngày nóng bức kế tiếp kéo dài bên ngoài, phía bên kia những cánh cửa khép kín và, buổi tối, khi người ta có thể mở các cửa sổ, hắn nhìn bầu trời không mầu ngả xanh chầm chậm phía trên các mái nhà, nhạt dần, tan biến, trong mờ, cho đến khi các vì sao đầu tiên bắt đầu nhấp nhánh, và, sau đó, là hình thể kỹ hà của một chòm sao di động một cách lặng lẽ, xa xăm, oai nghi và lạnh lẽo, trong khung cửa sổ trong những giờ đêm, trong khi với một niềm tuyệt vọng thanh bình, với một nỗi chán chường dửng dưng, hắn nghĩ đến vết cắn chảy máu và đã thối ung, ở gần vai, bên trong thân thể nằm dài của hắn.
            Sau đó là những bầu trời êm đềm đầy mây, những cơn mưa làm dịu mát mà hắn nhìn thấy nhảy lăn tăn trên các mái ngói, từ những máng xối nhỏ giọt xuống trên những viên đá lát ngoài sân. Và rồi những buổi mai sáng khác mà bầu trời sáng loãng làm ta nghĩ đến những đồng cỏ, những khu rừng, những dòng sông xanh chầm chậm trôi đi, và rồi những hoàng hôn khác nhuộm dần màu hồng, mỗi ngày phủ xuống sớm hơn một tí, theo với mùa hè huy hoàng kéo lê chiếc bụng nặng nề của nó trên những cánh đồng, những ngọn đồi, những biển khơi qua lại thuyền bè, những thành phố với những thị dân đàn bà và đàn ông mỗi ngày bước đi trên các đường phố sáng đèn, đi qua, đi lại, trên đôi chân nhẹ nhàng và vương giả, mang những thân hình thẳng đứng, những chiếc đầu – những chiếc đầu, thứ đồ chơi vô dụng mỏng manh của trẻ con chứa đầy những tranh luận bi thảm, đam mê và bỡn cợt.
            Và sau đó nữa là mùa thu, với những cơn giông muộn màng và dữ dội, những buổi rạng đông đã lạnh, và, vẫn luôn nằm, vẫn với cái chết đỏ nhạt đè nén mà thật nghiêm nhặt bên trong hắn, đêm đêm nghe những tiếng còi xe lửa xa xa, ngày ngày nghe vô vàn những tiếng động trong căn nhà – những tiếng dội vô nghĩa và tuyệt diệu của những đời sống vô nghĩa và tuyệt diệu – hắn thấy như chính mình đang dần dần trở thành một cái gì không hủy hoại được, vô cơ và thụ động trên đó thời gian cũng đã tập thói quen lướt qua mà không để lại vết tích giống như những bóng mây trên mặt đất, đang trở thành một cái gì mà hiện hắn đã trở thành, không phải bởi những ngày bất động dồn dập, gần như hóa đá trong thế nằm như vậy, cũng như không phải bởi sau một sự biến hình đột ngột, hay đúng hơn là sự biến chất, tựa như tất cả những mảnh nhỏ của cái thể chất kia, mà không có nó thì không có tư tưởng mà cũng không có cảm giác, giống như muôn ngàn con mắt nhìn của một đám đông, vào giờ đó hướng về phía một cảnh tượng mới mẻ, bệnh hoạn, quyến rũ, sau khi hắn được biết, trong khoảnh khắc của buổi hoàng hôn, khi có thể nhớ lại được những bực thềm ấm áp, những con chim dần dần im tiếng, được biết tiếng thì thầm mơ hồ của những giọng nói chung quanh hắn, được biết mùi nồng nặng của rơm rạ, và, trên sườn đồi, phía bên kia thung lũng, chiếc máy kéo gần như không trông thấy được đang vội vã, đang tranh tốc độ với màn đêm, mỗi lần đi qua lại gặm mất những bờ đất của ruộng lúa mì hình tam giác trông có vẻ đang thun lại dần như bị xén bớt, như bị gặm nhắm bởi một con sâu kêu vo ve, lì lợm và tạp ăn, trong khi hắn, ngồi trong hơi ấm chết dần của buổi ban ngày, nghĩ: “bây giờ đây, bây giờ đây, bây giờ đây anh bạn ơi...” vừa nhận thấy bằng một thứ thèm khát tột độ, một thứ sắc bén đau đớn, cái hương vị chua chát của một thế giới cấm, trong miệng như đã sẵn có một mùi vị ghê tởm cảm thấy trước của cái dòng máu kia, trong khi tuôn qua cổ họng hắn, đã đánh thức hắn dậy trong bóng đêm, thở hổn hển, kinh hoàng, nhìn thấy ở môi hắn nhuộm đỏ trước hết là chiếc khăn tay, rồi một cái chén, rồi cả cái thau mà cô ta đem lại cho hắn, chính cô ta cũng kinh hoàng, nhìn chòng chọc vào hắn với đôi mắt mở lớn trong khi giữa hai tiếng nấc cụt, giữa hai đợt chất nước dịu dịu, lầy nhầy, phun ra, hắn vẫn ở đấy, trong thế ngồi, cái thau đầy máu để trên đầu gối, vẫn luôn luôn nghĩ với cùng lối mỉa mai chua chát, cùng mối tuyệt vọng đắc ý: “Bây giờ đây bạn ơi! Bây giờ hả? Bây giờ đây, bây giờ đây...”
            Thế rồi hết và, từ đó, hắn bước qua mặt sau cái cảnh trí nơi dường như đã sống (chính hắn cũng đã sống trong đó, nhưng đã lâu lắm rồi, đã xa lắm rồi) những người thường đến phòng hắn, với gương mặt sạm nắng, áo quần nhẹ nhàng và màu sáng. Họ ngồi xuống, nói chuyện, trắc ẩn, thương xót, bối rối, vô dụng. Họ cũng tới nhà thương, những người đàn bà với những chiếc áo nhiều màu, những cánh tay trần đầy vòng vàng, những người đàn ông không cà vạt, cổ áo để hở, và hắn thấy họ trong vùng sáng lờ mờ ấm áp và xanh xao, thứ ánh sáng xanh lá của bể nuôi cá mà hàng dương ngô đồng lớn không ngớt xào xạc tiếng gió phản chiếu vào: những bức tường cũng sơn màu lam xanh, gương mặt tái nhợt của dì phước; những đêm tối mà rốt cuộc rồi buổi ban ngày cũng tới: những chiếc xe đạp thợ thuyền đầu tiên hiện ra trước buổi rạng đông và tiếp theo là những người phu quét đường, bà bán cá – giọng rao khàn khàn, không thành tiếng, hét lớn: “Cá trích ngon, cá thu béo...” – và mỗi lần (khi nghe họ, rình rập họ) sự ao ước, sự ao ước xót xa được làm người đi xe đạp, làm anh phu quét đường, kẻ có được thứ giọng nói ở bên ngoài đó, được làm...
            Đó là một thứ thế giới bít bùng, lạ lùng, riêng biệt, với những thứ mùi hôi formol, mùi nhà bếp vô vị của nó, những hành lang trải vải sơn yên lặng của nó, tiếng sột soạt của những chiếc váy nặng nề hồ cứng nhắc, những thời khắc biểu nhất định, khắt khe, buổi sáng nào cũng dẫn đến anh chàng phụ tá cận thị nhỏ thó với nụ cười lì lợm, hai con mắt xếch của anh ta đàng sau cặp kính, cái lối thâm trầm nhà tu của anh và, sau đó, đi trước vị bác sĩ là tiếng náo động ồn ào của những cánh cửa đập ra vào, những tiếng nói, những mệnh lệnh, rồi vị bác sĩ to béo kéo theo sau ông, như một vị vua chuyên chế phì nộn, lộng hành, đoàn hộ giá bước theo nghi thức và theo đẳng cấp. Và, dừng lại chung quanh chiếc giường hắn, họ nhìn hắn bằng cặp mắt của bọn lái buôn trong khi môi họ cất lên những lời có tính cách cũng nghi thức, những câu pha trò nghi thức, bằng cái giọng lơ đễnh và mệt mỏi mà người ta thường dùng để nói với trẻ con hay nói với bọn khờ dại, mà vẫn không ngớt quan sát hắn, rình đợi hắn (những cái nhìn của họ như tách rời hẳn những lời nói, đúng hơn là ẩn núp dưới những lời nói, rình mò, tính toán, sắc bén, như cái nhìn quá chú ý của đám dân quê, quen thường với những trò đánh lừa của bệnh tật, đang ước lượng, đánh giá).
            Thường, sau đó, hắn vẫn hay phải bị đưa đến phòng mổ, ở ngay giữa căn phòng mà chính căn phòng cũng ở ngay giữa, chính căn phòng là lý do người ta sắp đặt cho có những hành lang lát cao su, có những cầu thang, những căn phòng cửa có ghi số, những thành tường bằng kính mờ ngang qua mặt kính hiện ra những hình thể mù mờ màu trắng nằm dài: một hang động tối mù và trống không, trừ cái thứ ngai vàng mọi rợ kia, dưới ánh sáng dữ dội của ngọn đèn chiếu, mà người ta bước lên bằng những bực cấp và trên đó hắn ngồi, mình trần, trong vùng ánh sáng tỏa lóng lánh, vẻ kỳ quái và vua chúa, trong khi chung quanh hắn các trợ tá đang bận rộn một cách lặng lẽ, như những vị hành lễ chăm chú của một đạo sùng bái bí mật và lén lút nào đó, những kẻ quấn chung quanh hắn những dải băng nhỏ, khoác lên người hắn những miếng vải trắng tinh có khoét những lỗ hổng tiếp nhận máu và thép, thứ thép nhọn của những dụng cụ hắn nghe được sau lưng hắn trên chiếc bàn mà người ta sắp xếp những thứ đó, tiếng kêu lẻng kẻng kim khí, độc ác và lạnh lẽo. Rồi thì (nhưng điều này hẳn chỉ có thể nhớ lại được, chứ không thể cảm giác lại, không thể biết được, bởi vì không ai có thể tưởng tượng được – dù họ có được những cảm giác này hay không – sự đau khổ và sự sợ hãi) những đồ vật bằng thép nhọn càng gặm vào da hắn – những con sâu với những đầu mũi nhọn hoắt, tinh xác, mau mắn – rồi tiếp đến là sự sụm xuống yếu ớt và chậm chạp kia, cái hư vô mù tối trong đó hắn thấy như mình đang lún sâu xuống từng bực một, hòa tan, thây phanh ra, treo ở đầu cái cánh tay kia buộc ở phía trên cao chỗ hắn, cảm thấy những đường rãnh mồ hôi từ thân thể hắn rỉ ra, chạy trên làn da hắn thành rất nhiều lọn, rồi tiếp đến nữa là ngọn lửa chính xác đánh quất vào hắn, dữ dội, sôi nổi và, đột nhiên, quét hết những tiếng rên rỉ, tiếng kêu mà hắn nghe từ trong người hắn phát ra, chộp hắn, giận dữ, bất lực, nhục nhã, phẫn uất...
            Bên ngoài, là ánh sáng xuống dần của một đêm hè, một cánh buồm lướt trên sông, những con thuyền mái chèo lấp lánh và, từ giường nằm của hắn, khi họ đỡ hắn dậy, ngồi thật thẳng, cứng nhắc, đuối sức, hắn có thể thấy, qua hàng dương ngô đồng lớn xào xạc, những thân hình trần truồng của bọn trẻ con chạy dọc theo bờ sông, đuổi bắt nhau, nhảy xuống nước, và khi những chiếc bóng bắt đầu dài ra (trong khi vùng màu xanh lá cây nhạt tranh tối tranh sáng đậm dần lên và trong mặt tủ kính đối diện với hắn hắn chỉ còn phân biệt rất khó tấm thân ma dại nhợt nhạt của hắn), nhảy nhót một cách khôi hài sau các bụi cây, lúng túng trong những bộ quần áo, cái thằng bé muôn thuở chạy chậm, áo quần mặc vào lại nửa chừng, chạy theo đuôi những thằng khác.
            Nhưng bây giờ chắc chắn là chẳng còn cánh buồm nào, chẳng còn thuyền bè, mà cũng chẳng còn thằng bé nào nữa và, vẫn ở đó, mưa sẽ rơi trên những bờ sông hiu quạnh, như nó vẫn bắt đầu rơi từ giữa tháng mười, ngày nào cũng vậy, hầu như không hề dứt đoạn, trên những ống khói, những mái nhà ngời sáng trong khung cửa sổ. Thỉnh thoảng mưa ngừng lại một hay hai giờ, rồi bắt đầu rơi lại, không một tiếng động, nhẹ nhàng, và hắn có thể trông thấy những miếng ngói vừa khô đã lại bóng lên dần, lại phản chiếu cả nền trời tái ngắt và ảm đạm.
            Vẫn cùng những mặt tiền kia, cùng những mái nhà kia, và nếu bây giờ hắn chết đi, chúng vẫn còn ở đó, và chắc chắn chỉ có như vậy thôi và không có gì hơn nữa: những chiếc giày và những bao tay trẻ con ngả màu trắng phấn viết phơi trên bờ cửa sổ trước mặt, những buổi sáng chủ nhật tháng tám và, buổi tối, hai chị em béo tròn đi xem hát bóng hay dự buổi khiêu vũ nào đó trong khu phố trở về muộn: những chiếc cửa sổ sáng đèn, tảng ánh sáng đột nhiên chiếu vào bức tường trong căn phòng từ đó, vẫn luôn luôn nằm, mà không ngủ được, hắn trông thấy hai người đi qua đi lại nhiều lần một cách lặng lẽ, cởi bỏ áo quần dần dần (hai vai và hai cánh tay trắng sữa của họ để ngoài những bộ áo quần lót màu đen), cặm cụi với những công việc lạ lùng và người ta vẫn làm lúc nửa đêm. Và như thế, ngày này qua ngày khác, bị bắt buộc phải nằm hoài ở cùng một chỗ, với cái chết nọ ẩn núp bên trong hắn mà người ta vẫn chăm nom ngăn ngừa cẩn thận, hắn có thể, qua hai chiếc cửa sổ của cái mặt tiền lớn trắng xóa, nhìn vở kịch câm kia diễn ra, bí ẩn (có nguyên cả một gia đình dường như sống trong hai căn phòng, và chắc hẳn gia đình không được khá giả lắm, bởi vì các cánh cửa chỉ đóng luôn có một tuần lễ, vào khoảng mười lăm tháng tám, sau đó hắn lại trông thấy họ: hai chị em gái, người em trai chải rất lâu cái áo vét trước khi ra khỏi nhà, bà mẹ to lớn, đứa bé gái ngồi cúi mình hàng giờ bên cửa sổ để nhìn xuống sân), có thể trông thấy như là qua những chỗ rách, những kiếp sống về trước kết sợi, những mảnh nhỏ của chính cuộc đời hắn trong đó hắn tự nhìn mình cùng một cách như khi hắn nhìn chuyển động những bóng hình quen thuộc và lạ lùng, đoạt mất bởi một đời sống chen chúc. Những chỗ rách. Như những vết thương kia mà các tên lính già để lộ làn da trắng của họ thường phô bày, lố bịch và đáng thương, khi các vị tướng thắng trận đi qua: những kỷ niệm, những vết thẹo xanh xao trên cái nền phai màu của thời gian.

5/3/13

Khi đứa trẻ khóc - Aziz Nesin

Khi đứa trẻ khóc
Aziz Nesin
Đỗ Quyên dịch

Thằng con trai tôi, phải nói là tuyệt vời nhé! Anh khoe. 
- Cầu trời cho cháu khoẻ mạnh! - Tôi đáp. 
Chúng tôi cùng làm một sở và hàng ngày gặp nhau hai ba lần. Và lần nào gặp, anh cũng khoe đứa con trai của mình.
- Nó không phải là đứa trẻ bình thường, mà là cả kho trí tuệ. Thằng bé rất tinh nghịch.
- Cầu Đức Ala phù hộ cho cháu.
- Không lúc nào nó để cho chúng tôi yên.
- Cầu mong cho cháu mạnh khoẻ!
Bản thân tôi cũng có bốn đứa con, nên tôi biết rõ có nhiều ông bố bà mẹ hay khoe con cái mình đến mức lố bịch. Tuy thế, tôi vẫn muốn được thấy đứa con trai của anh bạn Gavít của tôi. Hơn nữa lần nào gặp nhau anh cũng mời tôi về nhà anh chơi.
Hôm ấy ngày thứ bảy, hết giờ làm việc tôi đến nhà anh. Khi cửa vừa mở, từ trên cầu thang có một vật nặng gì đó lăn huỳnh huỵch xuống, lộn mấy vòng rồi rơi ngay dưới chân tôi. Rồi một hình hài kỳ lạ, nửa người nửa ngợm đứng dậy trước mặt tôi.
Anh Gavít giới thiệu:
- Đây là con trai tôi. Anh thấy thế nào?
- Rất khá. - Tôi trả lời.
Anh dẫn tôi vào phòng khách giới thiệu tôi với vợ anh, bà mẹ vợ và cô em vợ anh. Chúng tôi ngồi vào bàn. Tay tôi đang cầm tách trà nóng thì bỗng nghe thấy “tõm” một tiếng, có vật gì đó rơi xuống tách trà. Nước trà nóng bỏng bắn tung toé vào tay, tôi chưa kịp kêu đau thì có vật gì đó choàng lên đầu tôi. Không hiểu điều gì xảy ra với tôi. Tôi cố gỡ vật đó ra khỏi đầu thì vừa lúc cuộc rượt đuổi tán loạn bắt đầu. Anh Gavít và cả gia đình anh chạy theo thằng bé. Nó chạy lắt léo trong phòng, thi thoảng quay ngoắt đột ngột làm cho những người rượt theo nó va vào nhau, ngã quay xuống sàn nhà. Sau đó là cuộc đánh lộn. Những người trong nhà thỉnh thoảng lại vồ phải nhau. Tôi phải ngó nghiêng một lúc mới tìm được chỗ trốn sau cánh cửa để thoát khỏi cảnh hỗn loạn này, đó là giải pháp an toàn và kịp thời, bởi vừa chạy trốn bố mẹ, thằng bé vừa tóm bất cứ thứ gì để ném ra tứ phía. Cuối cùng thì cuộc vây ráp cũng thành công. Bố, mẹ, bà và dì thằng bé ép được nó vào góc phòng. Bí quá, nó lấy cả mười ngón tay cấu vào mặt dì là người gần nó nhất. Đoạn, y hệt như một con khỉ, phốc một cái, nó nhảy tót lên nóc tủ và vơ lấy tất cả những gì có trên đó ném tới tấp xuống đầu “đối phương” ở dưới. Khi nó ném hết mọi thứ, mẹ nó nói như van:
- Con yêu, con quý hãy xuống đi con! Con xem bác đến chơi nhà mình kìa. Xuống đi, kẻo bác bảo con là đứa không nghe lời dạy bảo. Đáp lại, không nói không rằng, thằng bé nhổ liền mấy bãi nước bọt vào mẹ nó. Bố nó nổi giận thực sự.
- Xuống ngay, quân mất dạy!
Câu trả lời đốp lại ngay lập tức:
- Cả bố cũng là đồ mất dạy!
Sau đó thằng bé dùng đến thứ vũ khí đã từng được thử nghiệm: nó đái một bãi vào người bố nó. Người bố chỉ còn biết nói:
- Được rồi, cho mày ngồi đấy.
Người mẹ nhìn tôi có vẻ mắc lỗi:
- Bác thông cảm cho.
Chúng tôi lại ngồi vào chỗ. Tôi lấy khăn tay lau chỗ nước trà dây vào quần. Hóa ra nước trà nóng làm bỏng cả một chỗ trên chân tôi.
Gavít nháy mắt tôi vẻ tự mãn:
- Thế nào anh, tôi kể có đúng không? Tôi không phóng đại chút nào phải không?
- Trái lại… Cháu lên mấy rồi?
- Cháu gần sáu tuổi.
- Cầu trời cho anh lòng kiên nhẫn.
Tôi khẽ đánh mắt nhìn trộm thằng bé ngồi trên nóc tủ. Mái tóc xoăn loà xoà rủ xuống mặt, che lấp cả cặp mắt thằng bé. Những tấm kính cửa sổ trong phòng chúng tôi ngồi trông như bị những mảng tạc đạn bắn vào. Chiếc đèn năm chùm trên trần nhà chỉ còn một chùm nguyên vẹn có bóng điện. Cánh cửa phòng mất tay nắm. Rõ ràng tất cả “vụ việc” này đều do tay thằng bé gây nên.
Anh Gavít nói:
- Tôi thề với anh là trong đời tôi chưa từng thấy thằng bé nào như thế này. Liệu anh có tin không, chứ từ bé đến giờ nó chưa khóc một lần nào cả!
Bà mẹ vợ khẳng định lời anh Gavít:
- Thằng bé nhà chúng tôi cừ thật đấy! Không có gì làm nó khóc được. Hôm qua bác có biết xảy ra chuyện gì không? Nó lấy cái rìu đút vào gầm tủ lạnh, bẩy cật lực, cái tủ đổ kềnh ra đè lên người nó. Lúc tôi vào phòng, nó vẫn nằm dưới chiếc tủ, không hề kêu la một tiếng, mặc dù trán bê bết máu. Tôi phải gọi người gác cổng giúp sức mới lôi được nó ra.
Gavít nói:
- Tôi không biết sau này cho nó làm nghề gì? Hay là cho nó vào lính?
Mẹ thằng bé nói:
- Ai cũng phải sửng sốt. Bởi chưa từng thấy đứa trẻ nào lại không hề khóc bao giờ. Ngày hôm kia nó rượt đuổi con mèo suốt một tiếng đồng hồ liền. Con mèo nhà em cứ thấy nó là chạy. Thằng bé liền đuổi theo nó. Con mèo sợ quá liền nhảy từ ban công xuống vườn. Rồi sự việc diễn ra thế nào, bác có biết không? Thằng bé liền nhảy xuống theo con mèo… Mà ban công cao cỡ đến bốn mét.
- Cháu có bị chấn thương không? - Tôi hỏi.
- Chắc có - Người mẹ đáp - Chúng em không bắt được nó để xem. Mất mấy ngày nó đi tập tễnh, sau đó thì khỏi.
Đúng lúc đó có một vật nặng gì đó đổ ụp vào người tôi, suýt làm tôi gãy gập cổ. Hoá ra thằng bé nhảy từ nóc tủ xuống thẳng đầu tôi rồi cưỡi trên lưng tôi nhong nhong, miệng la to:
- Phóng nhanh!
Bố thằng bé vội chạy đến, giáng cho nó hai cái tát trời giáng mà người lớn cũng khó mà đứng vững được. Nhưng, lạ thật, thằng bé vẫn cười khanh khách cứ như không có việc gì xảy ra.
Thú thật, thoạt đầu tôi cứ tưởng bố mẹ thằng bé cưng chiều, không đánh nó bao giờ, nên nó sinh hư như thế. Nhưng khi chứng kiến cảnh bố nó dạy nó bằng những cú tát “nẩy lửa” ban nãy mà nó vẫn cứ nhơn nhơn như không, thì tôi nghĩ rằng mình đã nhầm. Gavít túm lấy thằng bé, kẹp giữa hai đầu gối, lấy tay gạt những mớ tóc phủ lòa xòa trên mặt nó. Thằng bé có khuôn mặt tròn, trông như củ khoai tây. Chỉ vào chỗ sưng trên đầu, to bằng nắm đấm, anh Gavít nói:
- Tối hôm qua nó làm rơi cái lọ hoa vào đầu, anh xem bây giờ nó sưng to thế này.
Mẹ thằng bé chữa lại:
- Chỗ sưng ấy không phải tại lọ hoa, mà do ấm samôva. Lúc ấy trong ấm samôva đang chứa nước sôi.
Bà thằng bé tiếp tục chữa:
- Chỗ sưng do ấm samôva ở chỗ khác, sau gáy cơ. Còn chỗ sưng trên đầu là do nó ngã từ cầu thang xuống đống đá.
Thằng bé giãy giụa giữa hai đùi người bố. Gavít bảo vợ:
- Em mang cho anh lọ iôt. Nhân thể giữ được nó, mình xoa vào những chỗ bầm tím kẻo nó lại chạy mất.
Vợ anh mang iôt và bông đến. Khắp người thằng bé chỗ nào cũng thấy vết xước, vết bầm tím… Gavít thấm iôt vào bông rồi xoa những chỗ sưng tấy cho thằng bé. Tôi khẽ rùng mình vì đau, có cảm giác như chính tôi đang bị bôi iôt vào người. Thế nhưng thằng bé không hề nhăn mặt. Tôi nghĩ thầm, có khi nó đã bị mất xúc giác. Rồi, để ra về trong khi cái đầu còn nguyên vẹn, tôi đứng dậy chào chủ nhà. Trong lúc tôi ra đến cửa, thằng bé còn kịp làm đổ thêm vài đồ vật nữa.
Lúc chia tay, tôi dại dột nói:
- Mời anh chị có dịp đến tôi chơi.
- Thứ sáu chúng tôi sẽ đến - Họ đáp.
Tôi đã thấy lo lo trong bụng.
Về đến nhà tôi bảo mọi người trong nhà:
- Chuẩn bị tinh thần, thứ sáu này nhà ta sẽ gặp họa đấy. Hãy cất giấu tất cả những thứ gì có thể vỡ, gãy, chảy.
Hôm sau tôi hỏi Gavít:
- Anh chị cho cháu đến chơi chứ?
- Ấy chết! Làm sao cho nó đi cùng được.
Tôi mừng quýnh đến nỗi lỡ mồm buột ra:
- Không, không. Chúng tôi sẽ giận đấy. Nhất định anh chị phải cho cháu đến chơi.
- Không được đâu ạ. Không bao giờ tôi cho nó đến. Thằng bé sẽ lật nhào mọi thứ trong nhà cậu.
Nói thế nhưng rồi Gavít vẫn cho con trai đi cùng. Hoá ra lúc ra khỏi nhà, họ đã khóa trái thằng bé trong buồng tắm. Nhưng nó đã chui qua cửa sổ buồng tắm, theo ống máng tụt xuống sân, đuổi theo họ rồi tương hòn đá cảnh cáo vào ông bố.
Lúc bước vào gian sảnh, thằng bé vấp ngã, bị xây xát nhẹ, không đau lắm. Với cú ngã như thế, không nói gì đến một đứa trẻ cứng cỏi như nó, ngay cả đứa bé còm nhom, gầy yếu cũng chẳng khóc. Nhưng mẹ tôi vừa hét lên vừa chạy vội đến thằng bé:
- Ôi, thương cháu quá!…
Thằng bé lúng túng.
Vợ tôi kêu toáng lên:
- Ôi, cháu cưng của bác!… Cháu có đau lắm không? ái, a, ai… Rõ thật không may!… Có lẽ nó bị dập thương chỗ nào rồi…
Tôi cũng hoà theo:
- Sao lại thế này? Ngã đau không cháu bé? ái, a, ai. Cô giúp việc cũng chạy vào, kêu toáng lên từ ngoài ngưỡng cửa.
- Có bị sái chân không, hay bị gãy chân? Ôi - ôi - ôi. Tôi đi gọi bác sĩ nhé? Làm thế nào bây giờ?
Hai bà phụ nữ đến chơi nhà tôi cũng chạy đến chỗ thằng bé. Thế là những người phụ nữ xúm xít quanh nó, tranh nhau đưa ra những lời xót xa thương hại.
Thằng bé lúc đầu còn nhìn họ một cách ngạc nhiên, lát sau môi dưới nó run run rồi bỗng gào khóc nức nở. Và cứ thế nó khóc, khóc mãi không tài nào ngăn được.
- Ai tự ngã thì người ấy không khóc. - Chúng tôi bảo thằng bé.
- Đàn ông ai lại khóc!
- Coi như không có chuyện gì xảy ra chứ!
Tất cả đều vô ích. Thằng bé vẫn gào khóc đến nửa tiếng đồng hồ. Bố mẹ nó tròn mắt, lấy làm lạ.
Chỉ đến khi khát nước quá, thằng bé mới thôi khóc. Cô phục vụ vừa đưa cho nó cốc nước, nó tuột tay rơi, cốc vỡ tan. Những người phụ nữ lại rối rít hỏi:
- Cháu có bị đứt tay không?
- Cháu có đau lắm không?
- Đem lọ iôt lại đây nào!
Môi dưới thắng bé lại bắt đầu rung rung, cái mặt xị ngay xuống, tiếng gào khóc lại bật ra tức tưởi. Nó khóc nửa tiếng đồng hồ nữa. Buổi chiều hôm ấy nó khóc cả thảy bốn lần, nhưng không làm đổ vỡ vật gì.
Bây giờ cứ mỗi lần gặp Gavít, tôi lại hỏi thăm con trai anh.
- Giờ nó thôi không quậy phá nữa - Anh nói - thôi hẳn rồi. Nhưng lúc nào cũng khóc. Mãi về sau tôi mới biết anh trách vợ chồng chúng tôi qua một người bạn khác: - Họ làm hỏng thằng con trai tôi!
3/3/13

Mùa Xuân - (Tranh và thơ)


                      Một thoáng - Tranh sơn dầu Nguyễn Hoài Nam


Cuối lối mòn - Mùa Xuân ơi!



Lối mòn - mòn  nếp tư duy.
Lối mòn - mòn trong giấc mộng.
Lối mòn - rộng biển trầm tư, mặn mòi xao động, 
lấp lánh đến nôn nao!

Cuối lối mòn - mùa xuân ơi, da diết làm sao!
Theo lối gió, hanh hao đường quen thuộc,
Ta đi, cả trong mơ, không chùn bước.
Cuối lối mòn,  em! - ánh lửa - xuân ơi!

  Bến hứa, mùa xuân, hy vọng xóa đơn côi, xóa đói rét ấm nồng 
hơi lửa ấm!       
  Ánh lửa, lối mòn theo gió mây đưa đón, tiếng quê hương lửa réo 
gọi Xuân hồng...
    
   
  Áo Thanh xuân, vẫn treo chốn cũ mơ mòng, mầu ngả bạc, 
còn nồng hương sắc trẻ? 
  Măng biếc xanh, vươn phía trời cao mới mẻ. Mầu thời gian
lên nước xám tre già.
  Có bến nào lặng bão tố mưa sa!  đa đoan thế, nên heo may 
se mầu biếc!
  Cuối lối mòn, ánh lửa - giục ta bước tiềp, biết bao lần biêng biếc - 
sắc xuân qua !

Một lối mòn, chân mòn đá 
có nhạt nhòa!?

27/1/13

TƯỞNG NHỚ NHẠC SỸ PHẠM DUY

                                           
                                   Nhạc phẩm "Nương chiều" của nhạc sỹ Phạm Duy


     Chiều quê     


                    Kỷ niệm ấu thơ về ca khúc 
                “Nương chiều” của NS Phạm Duy   


    Chiều ơi!

    Gió chiều về,
    Sóng lúa nhấp nhô.
    Con sóng chiều,
    Xanh mướt vỗ bờ.
    Bước chân chiều,
    Phiêu sóng lơ ngơ…
    Hỡi chiều!


                             
    Chiều ơi!


    Sắc tím về,
    Lặng lẽ buông lơi.
    Nhuốm tóc mềm,
    Bạc trắng phôi phai.
    Tím nỗi chiều,
    Nhuộm thẫm đêm dài…
    Ơi chiều!



    Chiều ơi !


    Ánh trăng về,
    Xanh dịu nỗi đau.
    Giọt sương về,
    Nặng chĩu tình sâu.
    Giấc chiều về,
    Men dậy trong nhau…

    Hỡi chiều!