Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
31/5/12

Yêu thật yêu giả - Nguyễn Bính

Yêu thật yêu giả
Nguyễn Bính

            Anh chị cãi nhau, tôi vội sang. Vừa thấy tôi, anh như vồ lấy kéo tuột đến trước mặt chị:
            - Nghe hộ anh những lời ngang hơn cua bò của chị cậu.
            Tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì. Anh nói:
            - Có mặt cậu ở đây bà thử nói xem có đúng là ngang phè không nào.
            - Tôi không thèm nói thử. Tôi nói thật! - Chị tôi quát lên. - Chính mắt tôi nhìn thấy. Ông lại còn cãi, còn chối hả. Cứ thử xem có cãi, có chối nổi với tôi không.
            - Tôi không thèm cãi. Tôi nói sự thực! - Anh cũng quát lên.
            - Á, ông muốn nói sự thực à? Cái sự thực là ngày nào ông cũng kiếm cớ ra ngồi lì ở "quán gió" tí tởn với con mụ H goá chồng ấy chứ gì.
            - Bà đừng nói vậy oan cho tôi, công việc làm ăn cả.
            - Thế hôm nọ ông ôm eo nó giữa chợ cũng là làm ăn hả?
            - Đâu phải thế, chắc bà lại nghe con mụ nào đơm đặt rồi, bà bảo nó là ai để tôi vả vỡ mồm nó ra.
            - Tôi nhìn thấy. Tôi nói đấy. Ông có giỏi thì vả vỡ mồm tôi đi.
            - Nể mặt tôi bà nói nhỏ đi một chút kẻo hàng xóm họ cười cho. - Anh dịu giọng.
            - Hoá ra ông cũng biết sợ hàng xóm chê cười kia à. Biết sợ thì đừng làm nữa có phải tốt hơn không. Khi ôm eo con H ông có nể mặt tôi không. Nhân đây tôi cũng nói thẳng cho ông biết luôn là từ nay chúng ta không còn tình nghĩa vợ chồng gì nữa, căn nhà này chia đôi mỗi người một nửa, mai ông khác nấu lấy mà ăn nhé.
            - Ấy, bà đừng làm thế. Tôi lúc nào cũng yêu bà, thương các con nhất không trời đất nào sánh bằng.
            - Ông yêu tôi hay yêu con H? Ở bên nó không cũng nói yêu nó nhất chứ gì?
            - Bà phải tin tôi chứ. Tôi nói yêu bà là chỉ yêu duy nhất một mình bà thôi.
            - Bên con H ông cũng nói thế phải không?
            - Ơ... thì tôi cũng có nói... nhưng đó là tình yêu giả. Tôi chỉ giả vờ yêu nó thôi, còn yêu bà là tôi yêu thật.
            - Ái chà! Ông thừa nhận rồi nhé. Ông yêu con H thì ra quán gió mà ở với nó, gia đình này không cần ông nữa, không chứa kẻ hai lòng, ông hãy đi ngay đi!
            Chị nói rồi chỉ tay đuổi thẳng. Anh không đi. Chị vớ cái gậy nhảy tới phang vào người anh. Anh vội né tránh rồi ba chân bốn cẳng chạy thẳng ra cổng. Chị cầm gậy đuổi theo một đoạn rồi mới quay lại.
            Anh đi rồi chị ngồi bệt xuống đầu hè rũ ra như tàu lá héo. Tôi không ngờ, người chị mà tôi luôn kính trọng và có tiếng là hiền lành nhất xóm, có người còn bảo chị cù lần nữa, khi lên cơn ghen cũng đáng sợ đến vậy. Và tôi cũng không nghĩ rằng cuộc đời này có tồn tại tình yêu giả, thứ tình yêu đã dẫn đến cuộc cãi vã của anh chị chiều nay.
            Không hiểu sau này cuộc sống gia đình sẽ như thế nào nếu thứ tình yêu giả kia phát triển. Gia đình anh chị tôi đã từng là hình mẫu của gia đình hạnh phúc để mọi người học tập. Tôi cứ tưởng đó là một thành trì bền vững, một pháo đài không thể công phá. Ấy vậy mà cái "tình yêu giả" kia đã làm vỡ tan thật nhẹ nhàng! Xót xa và đau đớn quá!
30/5/12

Nối dõi - Nguyễn Bính

Nối dõi
Nguyễn Bính

            Hôm nay, vợ hắn vừa cho ra đời một cô con gái xinh xắn. Hắn vui lắm, hết ngắm vợ lại ngắm con và tủm tỉm cười. Không bù cho cái ngày ấy, cái ngày mà vợ hắn đi siêu âm và biết trước là sẽ sinh con gái. Hắn bắt vợ đi phá thai! Hắn cần một thằng cu chứ không cần một con vịt trời. Hôm vợ chồng hắn to tiếng tôi có mặt. Ghét hắn lắm nhưng tôi vẫn nói:
            - Bỏ đi là phải, báu vào cái đồ con gái.
            Vợ hắn nhìn tôi ngạc nhiên, tôi nói tiếp:
            - Hôm nọ tớ vừa gặp một tay đánh vợ.
            - Vợ nó hư, nện cho một trần là phải. - Hắn nói.
            - Đâu chỉ có hư, vợ nó còn có tội. - Tôi nói.
            - Tội gì? - Hắn hỏi.
            - Tội không biết đẻ con trai.
            - Đánh đau không?
            - Nằm bệt xuống đất vẫn còn đánh.
            - Ông vào can chứ?
            - Chẳng thèm can, đứng nhìn cho sướng mắt.
            - Phường ích kỷ! - Hắn chép miệng.
            - Chưa ăn thua gì! Hôm qua gặp lão H đánh con gái.
            - Đánh đau không?
            - Con bé phải đi viện.
            - Tội gì?
            - Tội là con gái.
            - Phường thú vật. - Hắn chau mày. - Ông vào can chứ?
            - Chẳng thèm can, đứng nhìn người khác can.
            - Sao lại có những người bố như vậy chứ, không còn tính người. - Hắn sa sầm mặt tức giận.
            - Chưa hết. Hôm nay...
            - Hôm nay sao?
            - Gặp một thằng cãi nhau với vợ.
            - Vì lý do gì?
            - Vợ hắn có mang con gái mà hắn lại thèm có một mụn con trai. Hắn bắt vợ đi phá thai. Hắn muốn giết con gái hắn. Hắn là một kẻ độc ác, ác hơn cả phường thú vật!
            - À...
            Mặt hắn đỏ dần rồi tím lại.
            Sau đó tôi đã không gặp lại hắn và cũng không biết chuyện gia đình hắn về sau thế nào.
            Vợ tôi đang mang bầu lần đầu, bác sĩ bảo phải đi khám thường xuyên để theo dõi sức khoẻ của người mẹ và sự phát triển của thai nhi. Tôi không ngờ lại được gặp hắn trong bệnh viện. Nhìn hắn, nhớ lại cái mặt hắn hôm ấy tôi bật cười. Vợ tôi ngồi bên không hiểu ngơ ngác hỏi: "Anh cười gì thế?"

Vợ chồng trẻ con - Nguyễn Bính

Vợ chồng trẻ con
Nguyễn Bính

            - Con về nhà xem thế nào, vợ thằng Kiên sắp đến ngày chuyển dạ, cần gì thì giúp nó.
Mẹ tôi thì thào những lời yếu ớt, cái dáng gầy gần như dán chặt xuống giường cố nhỏm dậy để nói. Tôi vội giữ lấy cái tay đang cắm kim truyền, lọ đàm được treo lên từ sáng mới vơi đi gần một nửa. Mẹ định nói nữa tôi đã vội gật đầu như đã hiểu. Mẹ nằm im. Tôi nhờ cô bạn là y sĩ trông mẹ hộ rồi vội vã về nhà. Tôi biết tính mẹ hay lo, mẹ coi vợ chồng thằng Kiên là những đứa trẻ, mẹ chăm chút từng ly từng tí một cho chúng, nhiều lúc tôi phải nhắc mẹ rằng chúng nó đã lớn nhưng mẹ gạt đi bảo vẫn chưa biết gì. Công bằng mà nói chúng vẫn chưa thành người lớn, vẫn là trẻ con từ tuổi đời đến trường đời.
            Kiên là em trai tôi, năm nay nó mười bảy tuổi. Đang học lớp mười một thì nó bỏ học về nhà lấy vợ. Vợ nó mười sáu tuổi, học lớp mười. Mọi người khuyên bảo nó không thèm nghe. Tôi nói phải học tiếp để sau này làm cán bộ thì nó nổi khùng: "Nhà mình chỉ cần anh làm cán bộ là đủ, tôi không cần, tôi cần lấy vợ." Nó vẫn đi học và chuyện lấy vợ của nó cứ tưởng là nó chỉ nói chơi, ai ngờ thời gian sau nó đem về nhà một cô bé với cái bụng lùm lùm. Mẹ tôi đành chạy ngược chạy xuôi sắm cái lễ mang sang bên nhà gái và nhận cô bé về ở nhà mình. Thế là nó có vợ, chẳng cần cưới xin đình đám gì. Mẹ tôi có con dâu, nhà tôi có thêm người ở trong hoàn cảnh không còn cách nào khác. Ấy thế mà có người còn khen: "Lấy vợ như thằng Kiên là khôn, chẳng tốn kém gì vẫn có vợ đàng hoàng." Nó được nêu lên như là điển hình để cho những cậu con nhà nghèo không có tiền tổ chức đám cưới học tập. Và tôi, đương nhiên trở thành phe đối lập với nó, thành phần tử bị mọi người chê bai. Gần ba mươi tuổi chưa lấy vợ là một điều khó có thể chấp nhận được.Và mọi người cứ tự cho họ cái quyền lên lớp dạy tôi là phải thế này, phải thế kia... nói thánh tướng gì rồi cuối cùng vẫn chốt lại một câu: "Phải lấy vợ ngay đi không thành kẻ hâm đấy!" Và họ coi chuyện lấy vợ của tôi là chuyện phải lo ngay trước mắt, phải nhanh hơn cả nhà cháy nước lụt. Họ còn nói: "Về nhà mà bảo thằng Kiên nó dạy cho cái khoản tán gái ấy, nếu không đến già vẫn không lấy nổi vợ đâu em ạ!..." Tôi thấy tức giận đầy lên cổ, kẻ làm trái pháp luật trở thành người hùng, còn con người tiên tiến lại bị chê là lạc hậu. Rất may tôi đi làm và ở lại cơ quan chỉ thảnh thoảng mới về chứ nếu không khó mà sống nổi trước những "lời vàng ý ngọc ấy".
            Con đường vào nhà xưa kia lầy lội giờ đã được bê tông hoá sạch sẽ và đẹp. Không hiểu sao về gần đến nhà tôi bỗng thấy ngại đặt chân lên con đường sạch đẹp ấy, tôi thấy ngại gặp người quen bởi thấy mặt tôi lần nào là họ hỏi thăm về chuyện vợ con ngày ấy và rồi họ ca luôn một bài ca mà lần về trước tôi vừa được nghe chính từ miệng họ. Nhưng lời mẹ buộc tôi phải về nhà chứ không thể làm khác được.
            Vừa về đến ngõ, tiếng lợn rít, tiếng gà đá nhau inh ỏi trong chuồng, còn chủ nhà vẫn chưa thèm ngủ dậy. Tôi nhìn đồng hồ, mười giờ kém năm phút. Tôi bước vào trong nhà thấy các thứ bày la liệt tung toé khắp nơi. Mẹ mới ốm có vài ngày đã thế này, rủi thay nếu mẹ có mệnh hệ gì thì tôi không tưởng tượng nổi có còn gọi đây là nhà nữa không.
            Vợ chồng thằng Kiên vội vàng vùng dậy khi thấy tôi vào nhà len lét nhìn. Con vợ nhanh nhảu:
            - Em bảo anh ấy dậy cho lợn ăn và thả gà ra nhưng cứ nằm lì, em phải gọi mãi...
            Thằng chồng vội phân bua:
            - Hôm qua nó không ngủ được, không cho em ngủ, sáng ra mới chợp mắt được một tí...
            Hai đứa kể tội nhau với tôi như trẻ con mách mẹ. Tôi thấy tức chứ không buồn cười. Vậy mà có lúc tôi nghĩ: "Mẹ đã già thường hay đau yếu, thằng Kiên lấy vợ cũng tốt, có người chăm sóc mẹ." Nhưng giờ đây tôi nhận ra rằng: "Mẹ sẽ còn khổ nhiều với vợ chồng trẻ con này!"

Thuốc phiện - Nguyễn Bính

Thuốc phiện
Nguyễn Bính

            Tiếng gừ gừ cất lên trong đêm vắng, rồi tiếng sột soạt, rồi tiếng lạch cạch, rồi tiếng lịch bịch,... Thôi rồi, thú rừng lại tìm về! - ý nghĩ bật ra trong đầu chị như vậy. Chị nằm yên nghe ngóng, tiếng động mỗi lúc một rõ hơn, từ tiếng lá cây va vào nhau đến tiếng thở phì phò chị cũng nghe thấy. Đúng là thú rừng lại về bản. Hôm qua nhà ông Hầu Nhè Vá bị thú rừng về bắt đi một con dê, hai con gà. Mọi người chia nhau đi tìm đến nửa buổi sáng thì tìm thấy nhưng con dê chỉ còn lại cái đầu, một ít xương và hai cái chân trước nằm cạnh một bụi cây nhỏ, còn gà thì chỉ thấy một ít lông và máu dính trên cỏ.
            Chị phải dậy, nhất định chị phải dậy, chị nhủ lòng như vậy, con bò duy nhất có trong chuồng, gia tài đáng giá của chị, con lợn vừa mới mua về có thể cũng bị tha đi mất, còn gà nữa, một con gà trống, hai con gà mái dành cho ngày tết đang nằm trong cái hầm ếch ở sau nhà. Chị phải dậy, chị phải đuổi con thú này ra khỏi đất nhà chị.
            Chị sợ lắm, nhà chẳng có ai ở cùng, chị sống thui thủi một mình suốt từ cái ngày anh theo người ta đi buôn để có ít tiền mua thêm con ngựa. Thế mà đ• mấy năm, không thấy anh về, cũng không có tin gì của anh nhắn lại.
            Chị thấy hơi thở nghèn nghẹn, con tim dồn lên những nhịp đập rất mạnh. Chị sợ lắm, có một mình làm gì cũng thấy sợ, nhất là giữa đêm thanh vắng như thế này, cách nhà chị tít xa xa mới có hàng xóm, có với gọi họ cũng không nghe thấy. Chị sợ lắm, chân tay không hiểu sao cứ run lên lẩy bẩy.
            Sợ mấy chị cũng phải dậy, phải dậy, chị nhủ mình như vậy, cả gia tài của chị sau bao năm dành dụm mới có được không thể để mất. Chị nhất định phải giữ. Mồ hôi công sức là một phần máu thịt của mình, không giữ được thì xót lắm.
            Chị phải ra khỏi giường. Đó là việc đầu tiên chị phải làm. Chị biết vậy, chị sẽ với lên vách lấy con dao quắm, chị sẽ lấy bó đuốc thật to, nó ở ngay gầm giường.
            Chị từ từ ngồi dậy, ánh lửa bếp sưởi bập bùng, căn nhà như rộng hơn, hoang vắng, chỉ một vài nơi có ánh sáng, bên cạnh là những khoảng tối làm chị thấy sợ,... nhưng chị phải dậy, nhất định chị phải dậy. Chị bước xuống giường. Đôi chân sao lại yếu đến thế, chị đứng lên phải vịn vào giường mới vững, hai đầu gối cách xa thế mà vẫn va vào nhau thì lạ quá. Một lát sau chị mới chấn tĩnh được. Chị ngồi xuống đưa tay với bó đuốc nơi gầm giường. Bó đuốc nằm ngay cạnh bàn chân mà chị phải đưa hai tay mới ôm được nó lên. Cầm được bó đuốc rồi nhưng tại sao với mãi vẫn không lấy được con dao trên vách, mọi ngày chị chỉ cần rút nhẹ là lấy được nhưng hôm nay con dao cứ như gắn chặt vào then gỗ. Chị tiến lại gần hơn một chút nữa, nhìn qua khe hở của ván ghép thấy bên ngoài trời tối lắm, một màu đen thăm thẳm hun hút sâu. Tay chị ở chuôi con dao, nó vẫn run lên từng chặp. Chị lấy hết sức nắm chặt lấy chuôi dao rồi rút mạnh. Con dao tuột khỏi thanh gỗ. Vậy là chị đã lấy được rồi.
            Chị đến bên bếp sưởi, dúi bó đuốc vào trong bếp. Không gian xậm hẳn xuống. Chị không dám nhìn đi nơi khác ngoài bếp lửa. Một lúc sau lửa bắt vào bó đuốc sáng to lên soi rõ cả căn nhà. Tất cả vẫn vậy, vẫn yên bình lặng lẽ.
            Chị cầm bó đuốc và con dao đi ra cửa. Chị nhấc then cài cửa và bước ra ngoài. Một cơn gió lạnh thổi lại làm ngọn đuốc run lên muốn tắt. Chị vội lấy người che gió cho ngọn đuốc. Ánh sáng lại bừng lên, gió cũng ngừng lại. Chị nghe ngóng quanh, không thấy có tiếng động gì khả nghi.
            Chị ra chuồng bò. Nơi chị sẽ đến đầu tiên. Con bò vẫn ở trong chuồng. Chị giơ bó đuốc lên soi, con bò giật mình đứng dậy giương đôi mắt tròn xoe đen láy nhìn chị.
            Chị ra chuồng lợn. Con lợn đang nằm ngủ ngon lành, nó không thèm động đậy, hai cánh mũi phập phồng, miệng kêu ụt ịt giống lúc chị cho nó ăn. Hình như trong giấc ngủ nó đang mơ được ăn thì phải.
            Chị ra sau nhà. Chị nhấc tấm gỗ chắn miệng cái hầm ếch. Bầy gà thấy ánh lửa vội lùi sâu vào trong hang, con này dẫm vào chân con kia, chúng kêu lên và cãi nhau chí choé. Chị đậy lại cửa hầm. Chị bê thêm mấy hòn đá chèn vào sau tấm gỗ.
            Hình như có tiếng động nơi con dốc đi lên nhà. Chị giật mình nghe ngóng, lại một khoảng lặng bao trùm. Chị đi về sân trước và giơ đuốc lên soi. Tất cả vẫn yên lặng. Chị đi tiếp ra ngõ, soi ánh đuốc xuống con dốc đi lên nhà. Chị nhìn thấy có bóng người, một người đàn ông đang nằm sóng soài trên mặt đất.
            - Ai đấy? - Chị vừa hỏi vừa đi xuống chỗ người đàn ông đang nằm.
            - Tao! - Người đàn ông thì thào. - Vàng Mỷ à, tao đây, chồng mày đây, Lử Lùng đây.
            - Lử Lùng, mày về sao không vào nhà mà nằm ở đây hả?
            Chị vội dìu chồng vào trong nhà. Chồng chị yếu lắm, gần như đổ cả tấm thân còm cõi vào người chị.
            Chị đặt chồng ngồi gần bếp lửa, tựa lưng vào cột nhà và ngồi xuống bên cạnh cho thêm mấy thanh củi vào trong bếp.
            - Tao muốn ăn! - Lử Lùng nói.
            Chị lấy ít mèn mén còn lại từ bữa tối, một ít đậu xị, một ít canh nhạt đặt trước mặt chồng. Chồng chị múc một muôi mèn mén rõ to đưa vào miệng, phùng má lên nhai. Rồi tiếp tục múc một muôi canh nhạt đưa lên miệng. Canh chưa vào đến miệng chồng chị chợt ho rũ ra một chặp, mèn mén bắn tung toé quanh bếp.
            - Ăn chậm thôi chứ! - Chị nhắc chồng. - Đói lắm hả?
            Chị nhìn chồng và nhớ tới cái ngày anh nói là sẽ đi làm cùng Mí Sình một thời gian lấy ít tiền về mua thêm con ngựa để thồ hàng. Chị không muốn chồng đi nhưng khi nghe Mí Sình nói là công việc không vất vả mấy, chỉ đem hàng từ mình sang Trung Quốc rồi lấy hàng từ bên ấy về, hàng hoá là những thứ tiêu dùng hàng ngày. Chỉ sáu tháng, có khi chỉ hai ba tháng nếu thuận lợi là đủ tiền mua được con ngựa tốt...
            - Cái bụng thằng Mí Sình đầy lá ngón,... - Chồng chị vừa ăn vừa nói. Khuôn mặt đã bớt nhợt nhạt, cái cằm bạnh ra khi hai hàm răng nghiến chặt. Mèn mén vẫn còn ngậm trong miệng.
            - Ăn xong rồi hãy nói, - chị nhắc chồng.
            Chồng chị cho tiếp một muôi mèn mén nữa vào mồm, nhồm nhoàm nhai.
            - Cái bụng thằng Sình chứa đầy lá ngón, cái miệng nó độc như nọc con rắn xanh trên rừng. Tôi đi với nó như đi vào con đường chết. Nó đưa tôi đến biên giới, bắt vận chuyển hàng vào đêm để trốn bộ đội biên phòng. Sau chuyến đi ấy, nó cho tôi tiền, mua cho tôi một bộ quần áo mới. Tiền tôi đem cất đi, quần áo tôi cũng gói lại định khi về nhà sẽ mặc. Vài ngày sau nó bảo tôi là sẽ đi vào sâu hơn vào bên kia biên giới, đi dài ngày có khi nửa tháng mới về, muốn có tiền thì phải chịu khó. Tiền bạc vừa đưa cho tôi mấy hôm trước nó không cho cầm theo. Nó bảo đưa hết cho nó giữ hộ, khi nào về nó sẽ trả lại. Cầm theo sang bên kia biên giới dễ bị cướp lắm. Tôi tin và đưa hết cho nó. Chuyến ấy, nó đi mua thuốc phiện. Khi đi chuyến đi sau tôi mới phát hiện ra. Tôi bảo nó đưa tiền trả tôi để tôi về. Nó bảo đi một chuyến này thôi nó sẽ trả tiền đủ mua mười con ngựa tốt. Không có tiền tôi không về được và đành phải đi theo nó. Lấy được hàng, đang trên đường trở về thì gặp một toán cướp. Tôi với nó cùng chạy. Tôi bị ngã xuống vách núi. Khi tỉnh dậy không hiểu sao đang ở trong rừng bên một đống lửa lớn. "Tỉnh rồi hả?" - Thằng Sình hỏi. Tôi không nói gì. Tôi ngồi dậy thấy toàn thân đau ê ẩm. "Không hề gì, chỉ xước da tí thôi!" - Thằng Sình nói tiếp. "Đi thôi!" - Nó giục. - "ở đây bọn kia tìm thấy thì không về được đâu!" Tôi đứng dậy nhưng cái chân đau quá không đi được ngã khuỵu ngay xuống. Thằng Sình lấy trong bụng ra một bọc nhỏ rồi véo ra một cục đen đen tròn tròn bảo tôi nuốt. Trời tối quá, tôi không nhìn thấy gì cứ đưa lên miệng nuốt đại vào bụng. Lạ thay, tôi không thấy đau nữa, thế là đi được, hai thằng cùng về theo con đường đã đánh dấu từ trước. Khi nào tôi đau nó lại cho nuốt một viên đen đen tròn tròn, tôi lại không đau nữa và đi tiếp. Mấy lần tôi hỏi là thuốc gì mà tốt thế. Nó bảo là thuốc khoẻ, con người ăn vào là thấy khoẻ ra. Tôi không tin lắm muốn xem xem đó là cái gì, nhưng nó không cho xem, nó bắt phải đi cho nhanh kẻo bọn kia đuổi kịp thì chỉ có con đường chết. Sau này tôi mới biết cái thứ mà nó cho tôi nuốt hôm đó là thuốc phiện. Tôi đã bị nghiện từ lúc nào cũng không biết nữa. Thế là tôi phải phụ trách công việc lấy hàng thay nó để khi về được nó véo lại cho một ít. Một hôm nó bị cảnh sát bên kia biên giới bắt, tôi trốn được và bỏ chạy về đây, tôi không nhớ đã đi bao nhiêu ngày, và phải nhịn ăn bao nhiêu ngày. Về đến nhà thì cái chân không còn bước nổi nữa. Tôi tưởng tôi sẽ chết trước khi thấy mặt Vàng Mỷ. Tôi đã cố gắng, còn thở được là tôi sẽ về. Cuối cùng cũng về được đến nhà, gặp được Vàng Mỷ.
Chị không còn tin vào tai mình nữa. Chị phải làm gì đây? Bao nhiêu khổ cực, nhục nhã khi gia đình có người nghiện chị đã được nếm từ khi chưa biết mặc váy. Bố chị đã hút cái thứ nhựa màu nâu đen ấy từ lúc còn trẻ đến khi không thở được nữa vừa tròn ba mươi năm. Ba mươi năm nghèo khó, ba mươi năm đói rách, ba mươi năm xơ xác, ba mươi năm không còn được là người. Bố chị, đến khi chết không có đồng tiền nào để làm ma, không kèn không trống, đem đi chôn như người ta chôn một con chó.
            Chị biết sống thế nào đây, nuôi con nghiện trong nhà như nuôi cáo giữa bầy gà, nuôi hùm giữa bầy lợn. Chị đau đến nát cả lá gan, vụn từng khúc ruột.
            Nhìn chồng chị đau khổ, chị cũng đau khổ. Chị thấy như mình cũng có lỗi trong những đau khổ của chồng. Chị vận động chồng cai nghiện. Nhưng phải nói là rất khó, bố chị đã cai đi cai lại, thề lên thề xuống đến lúc chết vẫn chưa cai nổi. Dẫu biết là rất khó nhưng chị vẫn hy vọng vào những điều tốt đẹp và cố cai thuốc cho chồng như mẹ chị đã cố cai cho bố chị khi xưa.
Anh đau đớn, vật vã, lăn lộn từ trên giường rơi xuống đất, từ góc nhà này sang góc nhà kia, nước mắt nước mũi chảy ra thành dòng. Anh đập phá cào cấu. Lần sau anh bắt chị trói chặt cả chân lẫn tay không cho cựa quậy. Vật vã một lúc mắt anh trợn ngược, nước dãi sàu ra bên mép rồi đọng lại thành một đống bọt màu trắng, đầu đập xuống đất, đập vào cột nhà máu chảy ra lênh láng. Và chính chị đã không giữ nổi ý định ban đầu, nhìn anh khổ quá chị không đành lòng và lại lấy thuốc cho anh hút.
            Lần này anh lên cơn, nhà không còn thuốc, chị cho anh uống rượu, men rượu đã làm anh ngủ yên. Từ đó mỗi lần anh lên cơn nghiện chị lại cho anh uống rượu.
            Thật vui, sau đó anh đã cai được thuốc phiện, nhưng anh lại mắc vào nghiện rượu. Mỗi ngày nửa lít, không có rượu là anh vật vã chẳng kém gì thuốc phiện.
            Gặp chị ở chợ, dáng người vẫn óng ả ở cái tuổi trung niên, chị mua vài thứ đồ dùng cho mùa vụ mới. Tôi hỏi về anh, chị cười: "Mất từ năm ngoái rồi! Bệnh gan! Bao nhiêu năm rồi anh mới trở lại." Chị chỉ nói vậy rồi vội vã ra về.
            Tôi nhìn theo bóng chị đi trong nắng chiều. Bao nhiêu năm rồi nhỉ, tôi hỏi lòng mình, tính từ ngày ấy cũng ngót hai mươi năm có lẻ. Hai mươi năm rồi, biết bao những đổi thay?

Trăng thu - Nguyễn Bính

Trăng thu
Nguyễn Bính

            Bất ngờ đến ngọt lịm! Giữa núi rừng thanh khiết, một vẻ đẹp mát mẻ như làn da nõn nà ngần trắng người con gái tiết trinh, thơm tho như làn tóc mây xức hương hoa đồng nội, ngây ngất đến ngẩn ngơ. Vầng trăng như khuôn trang người thiếu nữ đang mỉm cười làm duyên. Thứ ánh bạc toả ra dịu dàng cho ta giấc mộng thiên đường. Những cái ban ngày ta chẳng thấy đẹp, thấy đáng yêu là mấy nhưng dưới ánh trăng bỗng quyến rũ lạ thường, đẹp như mộng, đẹp như lạc bước chốn thần tiên, đẹp đến không tin được rằng đó là sự thực, mà ngỡ đó là ở những tận nơi nào...
            Sống giữa thị thành, giữa cuộc sống xô bồ nhộn nhịp, nơi đèn nến sáng trưng, nơi "làm gì cũng vội", đến cả ăn nghỉ cũng chóng vánh qua loa... một ngày kia bỗng nhận ra xúc cảm con người đã bị mai một đi nhiều! Một tiếng dế kêu đêm vắng đã từng thổn thức bao trái tim đang yêu, tiếng thì thầm của ngọn gió đã từng làm ai mất ngủ, một ánh trăng thu quyến rũ đến không nỡ ra về,... bỗng thấy xa lạ quá chừng. Những đêm rằm, có ánh điện chói loá, vầng trăng tủi hờn lùi tít lên cao.
            Và đấy, cái thằng tôi thật ngớ ngẩn, hỏi đến ngày dương thì may ra còn nhớ được ít nhiều, chứ ngày âm thì chịu không tài nào nhớ nổi, nếu muốn biết phải nhờ tới tờ lịch.
Lâu lắm rồi tôi không được biết vầng trăng tròn méo ra sao, chú cuội đã thức hay còn ngủ, cây đa có vơi đi chiếc lá nào cho trần thế để người ốm yếu ăn vào sẽ khoẻ mạnh, người già cả ăn vào sẽ trẻ lại, người kém xinh ăn vào sẽ duyên dáng hơn, kẻ xấu ăn vào sẽ thành người tốt... những điều mà xưa kia luôn gắn bó gần gũi như cái ăn, giấc ngủ.
            Đã biết bao nhiêu lần tôi nhìn vầng trăng mà thầm ước hôm nao cũng là ngày rằm, mặt trăng sẽ luôn tròn, đêm dài sẽ luôn sáng. Và quan trọng hơn là trong giấc mơ của tôi chú cuội sẽ thảnh thơi nằm dưới gốc đa vắt chân chữ ngũ ngâm nga hát một mình:
Cuội tôi ngồi gốc cây đa
Mặc trâu ăn lúa người ta, cuội ngồi
Cuội ngồi cuội khóc không thôi
Cha ơi mẹ hỡi biết nơi nào tìm
Ai về đến chốn thần tiên
Cho cuội theo với cuội tìm mẹ cha
Mẹ cuội đẹp tựa Hằng Nga
Cha cuội nhìn kỹ hoá ra Ngọc Hoàng...
            Đêm nay vời vợi trăng thu giữa núi rừng, trong veo một màu tinh khiết, thanh sạch đến ngất ngây. Vòm trời sâu thăm thẳm không một gợn mây. Chỉ có ánh trăng tràn ngập bốn bề.
Cái quyết định hồi chiều, không theo chúng bạn về thủ đô ăn chơi mấy ngày mà về với cổng trời, về với nắng với gió với tuổi thơ ngày nào... đã bị bọn nó mắng là ẩm ương, là không bình thường, là ngẩn ngơ nhặt lá đứng đường. Mặc kệ chúng nó, là gì cũng được. Chỉ biết trong lòng đang khao khát tìm lại ngày xưa. Khao khát được tắm mình trong những ngọt bùi, cay đắng... của ngày xưa.
            Đứng giữa núi rừng, giữa ngàn hương hoa lá, giữa ánh trăng vời vợi, mới thấy hết được sự lắng lại của lòng mình, mới hiểu được giá trị của sự yên tĩnh...
            Cơn gió thổi qua lành lạnh. Đêm đã sang canh. Mùa thu ở vùng cao khác lắm, trời trở lạnh rồi, cái lạnh đến từ trong lòng. Chẳng giống ở một số nơi, thu rồi mà còn "nắng rám quả bòng", thật chưa xứng. Thu vùng cao là vậy đấy, thơ mộng như vậy đấy!
            Cái lạnh đầu thu không mang lưỡi dao sắc lẹm của mùa đông, không quạt hồng lò than mùa hạ, mà chỉ mỏng manh ấm lạnh như cái quạt trúc trên tay cô gái phòng khuê. Cái lạnh đầu thu nó lạ thế, đã chạm phải là không dứt cho được, không đi cho đành.
            Con người hiện đại dường như đã lãng quên không gian thơ mộng của trời đất. Họ tìm thú vui nơi vũ trường, phòng nhạc. Nhưng cái nhận được chỉ là sự khác đi của vội vã tất bật thường ngày. Tàn cuộc, người mỏi mệt, đầu óc ong lên như muốn vỡ...
            Có một số đã nhận ra tác dụng của thiên nhiên trong điều tiết tinh thần con người, và những tua du lịch sinh thái đã ra đời. Con người trở về với thiên nhiên, đắm mình trong thiên nhiên, thả hồn với trời đất bao la và thấy trong mình như mạnh hơn, như cá về với nước, như chim tung cánh lên trời.
            Gió mưa là mật ngọt. Trời đất là sữa thơm. Ta tha hồ mà uống cho thoả, cho say, cho ngất ngây cuộc đời!
            Sương đã rơi rồi, từ đầu ngọn lá cây rừng óng ánh từng hạt ngọc trong veo lóng lánh như mắt người đang yêu, có hạt rơi xuống đất vọng lên tiếng thì thầm tâm tình.
            Trăng đã nghiêng về tây, dường như đã nhạt phai chút sắc như người phụ nữ đã qua thời bồng bột của tuổi trẻ, hứa hẹn sự mặn mà đằm thắm, hiền dịu, chu đáo đến người tình khó tính cũng khó trê trách được điều gì. Rừng lá du dương lời ca ru giấc ngủ đêm trường. Núi kia cũng đà yên giấc, đầu vai kề tựa bên nhau mà ngủ. Trăng ru núi ngủ. Trăng ru rừng ngủ... Và trăng ru ta, lời ru từ ngàn xưa vọng lại, lời ru đi sâu vào ký ức, vào tiềm thức, vào giới hạn, vào vô tận,...
Không gian bốn bề yên lặng. Chỉ còn ta và trăng. Ta chưa ngủ. Trăng chưa ngủ. Trăng đang cười. Còn ta đang say!...

Yêu - R. Hardwick

Yêu
R. Hardwick   

            Ðối với Jérome, đây chỉ là thêm một vụ việc nữa, nhưng hắn phải công nhận rằng ngay từ khi quan hệ thư từ với Véronica, hắn đã cảm thấy điều gì khang khác. Các bức thư kia đầy rẫy những lời than thân trách phận đến là mủi lòng. Những cái đó không hề có trong thư của chị cũng thấm đậm nỗi buồn, nhưng đó là một nỗi buồn hướng về quá khứ, chứ không phải là một tình cảm sầu bi chán đời. Chẳng hạn như lá thư thứ hai:
            "Jérome thân mến của tôi, Tôi hy vọng anh tha lỗi cho tôi khi tôi gọi anh bằng tên thân mật, nhưng tôi có cảm giác kỳ lạ rằng mối quan hệ thư từ của chúng ta không phải chỉ chốc lát. Bởi vậy tôi mới gọi anh là Jérome. Tôi nghĩ tới anh tối qua, khi tôi chuẩn bị đi ngủ. Tôi đã quen cô đơn, chắc anh cũng thế. Chị Edna vợ anh, như anh nói trong thư, qua đời đã hai năm, anh James chồng tôi cũng đã mất 18 tháng. Ta phải quen dần với hoàn cảnh chứ biết làm sao, phải không anh? Nhưng các bức thư của anh khiến tôi bối rối. Tôi biết số phận đã đưa chúng ta qua câu lạc bộ…"
            Jérome mỉm cười. Các lá thư của hắn đã đạt được mục đích là làm cho Véronica cảm động. Trong lá thư thứ nhất, hắn tỏ ra nhút nhát và ngượng ngùng. Lá thư thứ hai thiết lập một bầu không khí tin cậy. Ở lá thư thứ ba, hắn hy vọng sẽ có cuộc gặp gỡ trong tương lai. Đến lá thư thứ năm thì hai người đã trao đổi ảnh cho nhau. Lá thư thứ sáu, hắn viết:
            "Véronica yêu quý của tôi, Tấm ảnh của chị đang ở trước mặt tôi, và như một cậu học trò, lòng tôi xốn xang vì tình yêu. Vâng. TÌNH YÊU! Bởi lẽ tôi sẽ tự dối lòng mình nếu tôi không nói hai tiếng đó. Nhưng than ôi, tôi không phải là cậu học trò, và cả hai chúng ta đều đã ở nửa sau của cuộc đời. Bây giờ mà thấy mình bị từ chối tình yêu, thì chẳng khác gì, bị từ chối cuộc sống. Tôi bay tới chỗ chị đây, Véronica của tôi. Tôi sẽ tới vào hôm thứ tư, lúc 17 giờ. Nếu tôi sẽ không được chào mừng, xin chị hãy cho tôi biết trước. Jérome của chị".
            Chị đợi hắn ở sân bay. Hai người nhận ra nhau ngay. Chị tươi cười tiến về phía hắn. Jérome trông thấy Véronica rất đẹp, đẹp từ chân những sợi tóc trắng đến bàn chân đi giày cao gót.
            - Jérome!
            - Véronica!
            Các ngón tay họ chạm nhau.
            - Chúng ta gặp nhau… mà cứ như tìm lại được nhau sau bao năm xa cách vậy - chị nói. Giọng chị dịu dàng và dễ chịu, ít thấy ở lứa tuổi của chị.
            - Đúng thế. Chúng ta đã gặp nhau lâu rồi, trong các giấc mơ của tôi.
            Nói xong, chính hắn cũng ngạc nhiên thấy mình nói có vẻ thành thật đến thế. Họ lên taxi về thành phố, tay trong tay. Chị thuê sẵn cho Jérome một phòng trong khách sạn chị đang ở. Hắn cảm thấy nhẹ cả người. Edna mất đã 2 năm, số tiền 30 ngàn đô la Edna để lại nay chỉ còn khoảng năm nghìn, mà hắn lại không bao giờ muốn sống thiếu thốn. Hắn mỉm cười lại gần cầm tay Véronica:
            - Tối nay chúng ta sẽ ăn mừng cuộc hội ngộ nhé!
            Hắn đã tính toán kỹ. Đến tối, lúc đang khiêu vũ hắn sẽ rất bình tĩnh và lịch sự thì thầm vào tai Véronica lời yêu cầu kết hôn…
            Họ tổ chức lễ cưới tại một nhà thờ nhỏ, không bạn bè, khách khứa. Chỉ có họ và ông mục sư.
            - Em hạnh phúc quá, Jérome - Chị thì thầm nụ cười rạng rỡ trên môi. - Em hạnh phúc quá.
            - Anh cũng vậy, - hắn đáp, và hắn lấy làm lạ thấy mình nghĩ thế thật.
            Nhưng khi về khách sạn - bây giờ họ đã ở chung - thì cảm giác ấy hoàn toàn biến mất.       Nhìn ô cửa sổ, hắn nhớ tới Edna đã bị hắn đẩy từ trên tầng cao xuống đất chết. Trong những tuần đầu tiên sau khi lấy Véronica, Jérome cảm thấy trẻ ra. Và khi một tháng trôi qua, hắn bắt đầu ngạc nhiên. Với những người phụ nữ trước, có mấy ai chung sống được một tháng… Có chăng, chỉ trường hợp Matilda, và chỉ vì hắn bị ốm nên hắn phải chờ đến lúc khỏi mới hành động được. Nhưng khi tuần lễ thứ năm đã qua, hắn thấy hắn vẫn chưa có kế hoạch với Véronica. Chị ngày một đẹp hơn, dễ thương hơn và rất chiều hắn. Thời gian trôi đi êm ả, và thỉnh thoảng Jérome tự nhủ phải quyết tâm hành động từ ngày mai. Nhưng cái ngày mai ấy dường như không bao giờ đến. Nhiều lúc hắn đã nghĩ đến chuyện gắn bó lâu dài với Véronica. Hắn cảm thấy rất quyến luyến chị. Hết tháng thứ ba thì hắn thấy có thể sống suốt đời với chị, tay trong tay. Và đó là không phải là điều hắn muốn. Hắn phải ra tay. Đơn giản Véronica sẽ ngủ thiếp đi để rồi không bao giờ dậy nữa thôi mà.
            Tuần tiếp sau đó, sau buổi hai người đi nghe hoà nhạc, hắn nghĩ: đây là đêm lý tưởng để hành động. Hôm nọ hắn đã kiếm được thuốc độc, và bây giờ, trong lúc Véronica chuẩn bị giường nệm, hắn sẽ đổ thuốc độc vào bình rượu porto mà hầu như bao giờ chị cũng uống một ly trước khi đi ngủ. Chị đang khẽ hát một giai điệu trong bản sonate dưới trăng. Hắn gọi từ phòng khách:
            - Em có muốn một ly porto không, em yêu?
            - Buổi hoà nhạc hay quá anh nhỉ. Đúng không anh? Anh vẫn yêu nhạc Bethoven lắm mà.
            - Ừ. Buổi hoà nhạc tuyệt thật. Anh đem rượu porto cho em nhé?
            - Cám ơn anh… Gượm đã… Không, không, tối nay em không muốn uống. Âm nhạc làm lòng em say. Hắn thấy nhẹ cả người. Vậy là còn được một ngày nữa. Trong bộ quần áo ngủ, Véronica xuất hiện ở cửa tươi cười.
            - Em muốn làm cho anh món gà rán tối mai. Anh có thích không?
            - Thế thì tuyệt, em yêu, - hắn nói và đẩy bình rượu vào góc tủ. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ nữa ta hành động cũng được thôi, bây giờ ta tận hưởng cuộc sống cái đã, - hắn nghĩ.
            Căn phòng có điều hoà nhiệt độ đúng là một cái ốc đảo sau cái nóng hầm hập ở nghĩa trang. Thế là xong. Mọi chuyện đã qua cả. Không cần phải nghiền ngẫm luyến tiếc, bởi công việc là công việc, và ở đâu đó có một người mới nữa đang chờ, chờ một bức thư thắm thiết tình cảm. Lần này bức thư mình viết chắc chắn sẽ còn bay hơn xưa. Kể cũng buồn cười. Véronica nghĩ và lật tấm mạng đen lên, tất cả bọn họ đều thích món gà rán… Chị ta lắc đầu để trút bỏ ý nghĩ linh tinh và tự nhủ: đã đến lúc làm một ly porto rồi đây, mình phải nhịn lâu quá mất rồi.

Trở về - Somerset Maugham

Trở về
Somerset Maugham
           
            Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được trạm trổ trên cổng bằng những chữ số đẹp đẽ: 1673. Ngôi nhà màu xám ẩn mình dưới bóng cây, cùng với chúng từ lâu đã hòa vào phong cảnh như một bộ phận không thể tách rời. Khu vườn được chăm nom cẩn thận và nối với đường cái nhờ một hàng cây du tuyệt đẹp, có thể khiến cho bất cứ điền trang nào cũng trở nên lộng lẫy. Những người sống trong đó cũng chắc khoẻ, cương nghị và nhiều thế hệ, tất cả những người đàn ông trong gia đình đều sinh ra và chết tại đó. Ông năm mươi tuổi, còn vợ ông thì kém đâu một hai tuổi. Cả hai là những người tuyệt vời, trung thực và sung sức. Con cái họ, - hai trai ba gái, đều khoẻ mạnh và đẹp đẽ. Họ xa lạ với những tư tưởng đang thịnh hành - không coi mình là trai thanh gái lịch, biết và bằng lòng với những vị trí của mình trong xã hội. Tôi chưa từng gặp một gia đình nào bền vững hơn thế. Tất cả họ đều vui tính, cần cù và tốt bụng. Lối sống gia trưởng và hoà thuận của họ mang vẻ đẹp hoàn chỉnh của giao hưởng Bethoven hoặc tranh Tixian. Họ hạnh phúc và xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc của mình. Nhưng người chủ trang trại không phải là ông Gióocgiơ Mêđâu (“Ngữ ấy nước mẹ gì” - trong xóm người ta nói vậy) mà là mẹ ông. “Một người đàn ông mặc váy chứ không ngoa” - người ta nói về bà như thế. Đó là một người đàn bà khoảng bảy mươi tuổi, cao, cân đối, tóc hoa râm. Mặc dù khuôn mặt đã chằng chịt những vết nhăn, đôi mắt bà vẫn còn sắc sảo và sống động. Ở trong nhà cũng như ở ngoài đồng, lời nói của bà là pháp luật. Nhờ có bản tính hài hước, bà cai quản một cách chuyên quyền nhưng vẫn không hà khắc. Những câu pha trò của bà khiến ai cũng phải bật cười và nhắc đi nhắc lại. Bà nắm vững các thủ thuật làm ăn. Khó có ai có thể qua được mặt bà. Đấy là một tính cách không phải tầm thường. Ở bà, lòng nhân hậu dung hòa với nghệ thuật giễu cợt - đó quả là một trường hợp hiếm hoi. Một hôm, tôi đang trên đường về nhà thì bà Gióocgiơ giữ lại (Người quen gọi vợ Gióocgiơ là “bà Gióocgiơ”. Chỉ có mẹ chồng của bà mới được gọi một cách kính cẩn là “bà Mê đâu”). Bà ta đang rất xúc động vì lý do gì đó.
            - Ông thử đoán xem, ai đã đến nhà chúng tôi hôm nay? - Bà ta hỏi tôi.
            - Bác của Gióocgiơ Mêđâu đây. Ông biết không, ông bác ở Trung Quốc ấy mà.
            - Không lẽ? Tôi tưởng ông ấy chết rồi.
            - Tất cả chúng tôi đều tưởng vậy.
            Câu chuyện về ông bác của Gióocgiơ tôi đã được nghe hàng chục lần và bao giờ nó cũng khiến tôi thích thú vì trong đó phảng phất hương vị một huyền thoại cổ. Lúc này, cơ hội được gặp nhân vật của nó làm tôi hồi hộp. Sự tình là hơn năm mươi năm về trước, bác của Gióocgiơ Mêđâu và Tôm, em trai ông, cùng theo đuổi bà Mêđâu, khi đó còn là cô Emili Grin. Đến khi Emili lấy Tôm, ông Gióocgiơ (bác và cháu cùng tên) xuống tàu đi biệt. Người ta biết rằng ông tới sống ở một nơi nào đó trên bờ biển Trung Quốc. Trong khoảng hai mươi năm, thỉnh thoảng ông có gửi quà về. Sau đó ông bặt vô âm tín. Khi Tôm Mêđâu chết, bà vợ goá của ông ta viết thư báo cho Gióocgiơ nhưng không thấy trả lời. Cuối cùng mọi người cho rằng ông đã chết. Nhưng cách đây mấy hôm họ rất đỗi kinh ngạc khi nhận được một bức thư từ Poocsmut. Tác giả bức thư, bà chủ một nhà trọ dành cho thủy thủ, báo tin rằng đã mười năm nay ông Gióocgiơ Mêđâu mắc bệnh thấp khớp phải ở tại đó, và bây giờ, cảm thấy chẳng còn sống được bao lâu nữa, ông muốn nhìn lại ngôi nhà, nơi mình đã sinh ra. Anbơts, cháu gọi Gióocgiơ bằng ông, đã lái chiếc xe “Pho” đi Poocsmut đón ông. Chiều nay họ sẽ về tới nơi.
            - Ông thử hình dung, - bà Gióocgiơ nói, - bác ấy xa nhà đã hơn năm mươi năm rồi. Bác ấy thậm chí chưa biết mặt ông nhà tôi, mà ông ấy thì đã sang tuổi năm mươi mốt.
            - Thế mà Mêđâu nghĩ gì về chuyện này? - Tôi hỏi.
            - Bà ấy thì ông biết quá rồi còn gì. Bà ấy ngồi cười một mình và chỉ nói: “Lúc ra đi ông ấy đẹp trai, nhưng không hay bằng ông em”. Đấy, chính vì thế mà bà ấy chọn bố ông Gióocgiơ nhà tôi. Bà ấy còn nói: “Bây giờ có lẽ ông ấy đã nguôi ngoai”. Bà Gióocgiơ mời chúng tôi ghé sang chơi và làm quen với ông lão. Sự ngây thơ của một người đàn bà nông thôn chưa bao giờ đi quá London khiến bà ta nghĩ rằng một khi chúng tôi đã cùng đến Trung Quốc thì nhất định sẽ có chung những mối quan tâm. Dĩ nhiên tôi nhận lời. Khi tôi đến, gia đình bà tụ tập đông đủ. Tất cả quây quần trong gian bếp cũ kỹ, rộng thênh thang, có sàn lát đá, bà Mê đâu ngồi trên ghế bên bếp lửa, vẻ trang nghiêm và mặc chiếc áo lễ dài bằng lụa khiến tôi thấy ngồ ngộ. Ông con trai cùng vợ con ngồi quanh bàn. Một ông già lưng còng ngồi phía bên kia lò sưởi. Ông gầy đến nỗi lớp da khoác lên bộ xương trông bùng nhùng như một chiếc áo vestông tàng quá khổ. Mặt ông nhăn nheo và vàng bủng, miệng hầu như chẳng còn chiếc răng nào. Tôi bắt tay chào ông.
            - Rất vui mừng là ngài đã về đến đây. - Anbơts, đứa cháu họ của ông nói với tôi. - Khi chúng tôi về tới cổng, ông ấy bắt tôi dừng xe và tuyên bố là muốn đi bộ.
            Tôi nằm liệt giường đã hai năm nay. Người ta phải bế tôi đặt vào ôtô. Tôi đã tưởng chẳng bao giờ còn đi được nữa. Nhưng vừa trông thấy chúng, thấy những cây dù ấy mà - tôi chợt nhớ ra rằng cha tôi ngày trước yêu chúng lắm - và bỗng cảm thấy lại có thể cử động được đôi chân. Tôi đã bước dọc hàng cây này năm mươi hai năm về trước để ra đi và bây giờ lại tự mình trở về dưới hàng cây đó.
            - Úi dào, chuyện ngớ ngẩn! - Bà Mêđâu nhận xét.
            - Điều này bổ ích đối với tôi. Đã mười năm nay chưa bao giờ tôi thấy mình khoẻ khoắn và sảng khoái như thế. Tôi sẽ sống lâu hơn em đấy, Emili ạ.
            - Ông đừng quá trông mong vào điều đó.
            - Bà ta trả lời. Đã lâu lắm rồi không có ai gọi bà Mêđâu bằng tên… Có lẽ vì thế mà tôi cảm thấy hơi khó chịu, tựa hồ như ông đã cho phép mình cư xử quá suồng sã với bà già. Bà ngước nhìn ông, trong đôi mắt thấp thoáng một nụ cười cợt, còn ông trong khi nói chuyện với bà chỉ cười gằn, để lộ hai hàng lợi móm. Nhìn hai ông bà già nửa thế kỷ xa nhau, tôi nghĩ đến bấy nhiêu năm dài đằng đẵng ông yêu bà, còn bà yêu người khác và bỗng nhiên thấy trong lòng trào dâng một tình cảm lạ lùng. Tôi muốn biết họ còn nhớ chăng những gì từng cảm nhận, những gì đã từng nói với nhau. Tôi muốn biết, phải chăng bây giờ ông già ngạc nhiên là chỉ vì bà lão này mà ông đã từ bỏ ngôi nhà của cha ông, từ bỏ cái tài sản mà mình có quyền thừa kế để suốt đời lang bạt nơi đất khách quê người.
            - Ngài đã lấy vợ bao giờ chưa, ngài thuyền trưởng Mêđâu? - Tôi hỏi.
            - Không, đó không phải việc của tôi. - Ông nói bằng một giọng run run và nhếch mép. - Tôi hiểu đàn bà quá rõ.
            - Ông chỉ nói mồm vậy thôi, - bà Mêđâu phản ứng lại, - chứ thực ra hồi trẻ chắc ông phải có đến nửa tá vợ da đen.
            - Emili, em nên biết rằng đàn bà Trung Quốc da vàng chứ không phải da đen.
            - Lúc mới trông thấy ông tôi đã nghĩ ngay: đúng là ông ấy mắc bệnh vàng da.
            - Tôi đã nói, Emili ạ, rằng ngoài em tôi sẽ không lấy ai. Ông nói điều này không mảy may xúc động hay giận dỗi, bình thản như khi người ta nói: “Tôi đã nói rằng tôi sẽ đi hai mươi hải lý”. Thậm chí trong lời nói của ông còn thoáng chút hài lòng.
            - Nếu lấy vợ có khi ông đã phải ân hận cũng nên. - Bà nói.
            Tôi trò chuyện một lát với ông già về Trung Quốc.
            - Tôi biết các cảng Trung Hoa còn rõ hơn các ngài biết trong túi mình có thứ gì. Tất cả nơi nào tàu bè vào được tôi đều đã đến. Ngài có thể ngồi đây suốt ngày trong nửa năm trời tôi cũng không kịp kể cho ngài nghe hết dù một nửa những gì đã từng nếm trải.
            - Tôi thấy vẫn còn một việc ông chưa làm nổi. - Bà Mêđâu nói, trong mắt vẫn ánh lên nụ cười mỉa mai nhưng phúc hậu. - Ông chưa giàu lên được.
            - Tôi đâu phải loại người ki cóp làm giàu. Kiếm tiền rồi xài hết, đó là phương châm sống của tôi. Tôi chỉ có thể nói một điều: Nếu bây giờ phải bắt đầu lại cuộc đời mình thì tôi sẽ sống y như cũ. Cũng chẳng có nhiều người dám nói thế đâu.
            - Đúng vậy. - Tôi nhận xét. Tôi ngước nhìn ông một cách thán phục. Đó chính là ông già móm mém, thân hình rúm ró vì bệnh thấp khớp, trong túi chẳng có lấy một xu, nhưng ông đã sống một cuộc đời tuyệt diệu vì biết cách hưởng thụ nó. Khi tôi chào tạm biệt ông, ông già mời tôi hôm sau lại đến. Nếu tôi muốn nghe chuyện Trung Hoa, ông sẽ kể cho nghe bao nhiêu cũng được.
            Sáng hôm sau, tôi quyết định sang thăm dò xem ông già còn muốn gặp mình không. Tôi chậm rãi đi dọc hàng du đẹp đẽ. Tới bên vườn, tôi nhìn thấy bà Mêđâu đang hái hoa. Nghe tôi chào, bà ta đứng thẳng dậy. Trong tay bà đã có cả một ôm hoa trắng. Tôi ngoảnh về phía ngôi nhà và thấy các cửa sổ đều buông rèm. Điều này làm tôi ngạc nhiên: bà Mêđâu ưa thích ánh sáng trời. “Đến lúc được chôn cất sẽ còn đủ thời gian mà nằm trong bóng tối. - Bà thường nói vậy.
            - Thuyền trưởng Mêđâu có khoẻ không? - Tôi hỏi.
            - Ông ấy bao giờ cũng là một anh chàng nông nổi. - Bà trả lời.
            - Hôm nay, khi Lidi đem trà lên thì ông ấy đã chết rồi. - Chết rồi?
            - Vâng, ông ấy chết trong giấc ngủ. Tôi đang hái hoa để cắm vào phòng ông ấy đây. Tôi mừng là ông ấy được chết trong ngôi nhà cũ. Mọi người trong gia đình Mêđâu đều cho rằng họ phải chết đúng ở nơi này. Đêm vừa rồi, rất khó thuyết phục ông già đi ngủ. Ông kể mãi những sự kiện trong cuộc đời dằng dặc của mình. Ông hết sức vui sướng được trở về ngôi nhà cũ, tự hào đã đi hết hàng cây chẳng cần sự giúp đỡ của ai và nói khoác rằng sẽ sống thêm hai mươi năm nữa. nhưng số phận đã tỏ ra từ tâm đối với ông ấy: cái chết đã đặt dấu chấm hết rất đúng lúc. Bà Mêđâu ngửi bông hoa trắng đang cầm trên tay.
            - Tôi mừng là ông ấy đã trở về. - Bà nói.
            - Sau khi tôi lấy ông Mêđâu, còn Gióocgiơ ra đi, chưa bao giờ tôi hoàn toàn tin chắc rằng sự lựa chọn của mình là đúng.

Sự suy tàn của ngôi nhà Acsơ - Edgar Allan Poe

Sự suy tàn của ngôi nhà Acsơ
Edgar Allan Poe        

            Vào một ngày thu lặng lẽ, buồn tẻ, tôi một mình trên lưng ngựa tiến về phía ngôi nhà Acsơ. Khi đã đứng trước ngôi nhà tôi gần như xỉu hẳn đị Tâm hồn tôi cũng buồn bã và tăm tối như bầu trời lúc đó. Lòng tôi thì u ám như những bức tường xám lạnh lẽo của ngôi nhà trước mắt. Tôi cũng không biết tại sao lại có cái cảm giác đau khổ đến tột độ nàỵ Có lẽ là do sự tàn tạ của ngôi nhà và của cả cảnh vật xung quanh chăng. Những cánh cửa sổ đen xì giống như những đôi mắt đen trên một khuôn mặt trống rỗng. Những thân cây khô trắng toát không còn sức sống để soi bóng toàn cảnh khu nhà trông còn tiêu điều hơn là cảnh thực. Một lát sau, không còn đủ sức để tìm hiểu cái bí ẩn trong cảm xúc của mình nữa, tôi rời khu hồ chầm chậm bước vào nhà.
Rôdric Acsơ, chủ nhân gia tài này, là người bạn thân nhất thời thơ ấu của tôị Đã mấy năm trôi qua, kể từ ngày gặp nhau lần cuối, mãi gần đây anh mới gửi cho tôi một bức thư, tha thiết mời tôi đến thăm (thực ra là anh ta cầu khẩn tôi) và ở chơi với anh vài tuần. Anh biết là anh đang bị ốm nặng, vì một căn bệnh tinh thần. Anh cho rằng sự có mặt của tôi sẽ làm anh vui lên, sẽ làm dịu đi những ý tưởng lộn xộn bất thường của anh. Anh chân thành quá làm tôi không nỡ từ chối và giờ đây tôi đã có mặt trước ngôi nhà. Dù trước đây, khi còn nhỏ, chúng tôi đã từng là bạn thân thiết, nhưng thực ra tôi biết rất ít về Rôdric Acsơ. Tôi chỉ còn nhớ anh là người rất ít nói, thích tách mình ra khỏi những người khác. Mọi người trong dòng họ của anh theo như gia phả đã ghi, đều có một trí tưởng tượng kỳ lạ và điều này đã bộc lộ trong các tác phẩm vĩ đại về nghệ thuật và âm nhạc. Tôi cũng biết một điều rất lạ là không hề có các chi ngành trong dòng họ Acsơ, mỗi thế hệ chỉ có một người nối dõị Tên tuổi cũng như gia sản được truyền từ đời cha sang đời con không hề bị gián đoạn. Ngôi nhà Acsơ theo quan niệm của người dân khu này không chỉ có nghĩa là ngôi nhà và mảnh đất mà còn là dòng họ ấỵ Khi tiến gần đến ngôi nhà màu xám xịt, trong óc tôi nảy ra một ý tưởng kì lạ, tự nhiên tôi cảm thấy không khí bao bọc xung quanh ngôi nhà ấy cũng khác với không khí của chúa trờị Tôi tưởng tượng, không khí ấy được lan toả từ những cái cây đã mục nát, từ những bức tường mầu xám và từ cái hồ im lìm, một thứ không khí mà bản thân nó cũng có mầu xám xịt bủa vây quanh ngôi nhà như một đám mây mù. Khó khắn lắm tôi mới gạt bỏ được ý tưởng điên rồ nàỵ
            Bây giờ tôi mới nhìn rõ ngôi nhà, Tuy vẫn còn nguyên vẹn song trông đã quá cũ. Tôi muốn nói là cả cái công trình bằng đá ấy chưa có chỗ nào bị đổ xuống. Nhưng từng viên đá đều mang dấu ấn của sự tàn lụi theo thời gian. Tất nhiên, tôi không thấy dấu hiệu nào của sự sụp đổ, trừ một vết nứt hẹp dài chạy thẳng từ nóc mái trước xuống tận chân tường.
            Một người đầy tớ chạy ra dắt con ngựa cho tôị Tôi bước qua cổng vòm nhà, sau đó tôi được dẫn qua nhiều đoạn ngoằn ngoèo tối tăm đến căn phòng của ông chủ. Tôi cảm thấy mỗi bước đi đều tác động mạnh mẽ đến tôi mặc dầu suốt cả cuộc đời tôi đã quen thuộc với những cảnh này: những mảng trần nhà có trang trí, những mảnh rèm cửa nặng nề, những bộ áo giáp và vũ khí thời xưa, và những bức tranh trên tường. Tôi gặp ông bác sỹ của gia đình ở giữa cầu thang. Hình như ông ta vừa ngạc nhiên vừa hoảng sợ vì sự có mặt của tôi.
Phòng của ông chủ là một căn phòng riêng biệt, cao và tốị Trên sàn có hàng loạt những đồ đạc cổ kính. Sách vở nhạc cụ vung vãi khắp nơi, nhưng cũng chẳng tạo cho cảnh tượng một sức sống nào cả. Tôi cảm thấy đang hít thở bầu không khí chết chóc.
            Acsơ đón tôi rất nồng nhiệt. Chúng tôi cùng ngồi xuống bên bàn. Tôi nhìn anh với cảm giác ái ngạị Rõ ràng không một người nào lại thay đổi khủng khiếp như thế này sau một thời gian ngắn. Trước đây trông anh cũng xanh xao nhưng chưa bao giờ lại xanh xao đến như thế. Đôi mắt to và thông minh giờ đây không còn bình thường nữa, mặc dù vẫn ánh lên một sự thông minh lạ kỳ. Đôi môi chỉ còn lại một vệt thẳng trên khuôn mặt. Bộ tóc mềm mại đã lâu không cắt giống như bộ tóc của một cụ già, rủ xuống mặt và cổ. Sự thay đổi về cử chỉ của anh bạn tôi cũng thật kì lạ. Anh luôn luôn chuyển từ trạng thái sôi nổi sang trạng thái lo âụ Và, khi anh chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác thì giọng nói của anh lại thay đổi: lúc thì cất cao, lúc thì hạ trầm xuống giống như kiểu nói của một người quá saỵ
            Cứ như thế, anh nói đến cuộc viếng thăm của tôi, đến sự mong đợi tha thiết được gặp tôi, đến những niềm an ủi mà anh hy vọng tôi sẽ mang lạị Rồi anh bắt đầu kể lể dài dòng về bệnh tật. Theo anh đó là một căn bệnh của dòng họ, không có thuốc nào chữa được. Nhưng rồi bỗng nhiên anh lại nói: đó chỉ là một căn bệnh đơn giản và sẽ qua nhanh thôị Hình như anh đang phải chịu đựng sự căng thẳng về tinh thần. Anh chỉ ăn được những thức ăn không mùi vị, chỉ mặc được một loại quần áo nào đó và không chịu được mùi hoa; một tia sáng mờ ảo nhất cũng làm cho đôi mắt anh đau nhức. Anh đã cấm mọi người không được gây ra tiếng động trong nhà, trừ một vài âm thanh của một số nhạc cụ.
            Anh nói:
            - Tôi hoảng sợ tương lai không phải chỉ vì những sự kiện của tương lai mà cả sự tác động của nó đối với tôị Tôi run rẩy khi nghĩ đến bất cứ một sự kiện nào, dù là nhỏ nhất, có thể làm tăng sự lo âu của tôị Trong tình trạng khủng khiếp này tôi cảm thấy sắp đến lúc tôi phải từ bỏ cõi trần trong một cuộc vật lộn chống lại sự sợ hãi.
            Tôi rất kinh ngạc khi biết anh đã không rời ngôi nhà từ nhiều năm naỵ Anh nói:
            - Chính ngôi nhà này... những bức tường và những cột nhà đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tôị Chúng có một ma lực buộc tôi vào chúng như thể chúng là những linh hồn sống.
Tôi không biết nói thế nào với anh bạn tôị Mặc dù hơi do dự một chút nhưng anh vẫn công nhận rằng tất cả những nỗi bất hạnh mà anh phải chịu đựng đều có một cội nguồn đơn giản hầu như rất tự nhiên, đó là bệnh hoạn nguy hiểm và kéo dài của người em gái mà anh yêu quý, người đã cùng dòng máu với anh còn lại duy nhất trên trái đất nàỵ Anh nói:
            - Cô ấy sắp chết, - với giọng nói đau xót mà tôi không bao giờ quên được. - cái chết của cô ấy sẽ bỏ lại mình tôi trên trái đất này, người con cuối cùng của dòng họ Acsơ lâu đời.
            Trong lúc anh đang nói thì tiểu thư Madơlin (đó là tên cô em gái) chậm rãi đi ngang qua phía cuối căn phòng. Cô không để ý thấy có người lạ đang ngồi với anh cô. Tôi nhìn cô đầy kinh ngạc và hoảng sợ. Tôi không thể nào giải thích được những cảm giác của tôi lúc ấỵ Cô vừa đi khỏi, tôi quay lại phía bạn tôi và đã thấy anh đang ôm mặt để giấu một dòng nước mắt.
            Căn bệnh của tiểu thư Madơlin đã làm cho tất cả các bác sỹ đều phải bó tay vì cô không còn quan tâm rằng mình còn sống hay là đã chết. Sự héo hon dần dần về xác thịt làm cho cơ thể cô mỗi ngày một yếu đị Thỉnh thoảng trái tim cô lại ngừng đập một lúc. Điều đó làm cho cơ thể cô càng suy kiệt. Bạn tôi đau khổ kể cho tôi nghe rằng họ không thể làm gì để ngăn chặn sự tấn công của thần chết. Anh nói:
            - Cô ấy sẽ phải nằm liệt giường và tôi tin rằng anh sẽ không còn gặp lại cô ấy nữạ
Suốt mấy ngày ở lại ngôi nhà này cả hai chúng tôi đều không ai nhắc đến tên cô ấy nữạ Tôi chỉ cố gắng an ủi và làm cho bạn tôi nguôi ngoai, chúng tôi cùng nhau vẽ tranh và đọc sách. Có lúc tôi ngồi lặng đi nghe anh bạn tôi chơi một bản nhạc như trong giấc mơ. Tình bạn của chúng tôi càng ngày càng thân thiết hơn, và cùng chia sẻ những ý tưởng thầm kín nhất. Nhưng cũng chẳng có ích gì. Một màn đêm đã bao phủ trong tâm hồn anh và toả ra mọi vật xung quanh cả một chuỗi vô tận những nỗi niềm đau khổ.
            Tôi sẽ mãi mãi ghi nhớ những giờ phút trang trọng nhất mà tôi đã sống riêng với người chủ của ngôi nhà Acsơ. Thế nhưng tôi không thể miêu tả bằng lời những gì chúng tôi đã cùng nhau tìm tòi và hoạt động. Anh ta là một người có những ý tưởng cao siêụ Nhưng những ý tưởng này trở nên lộn xộn vì bệnh tật của anh. Bây giờ anh chỉ còn có thể diễn đạt ý tưởng của mình bằng màu sắc và âm thanh-bằng loại màu hoang dã nhất của hội họa và bằng giai điệu khó hiểu nhất của chính những bản nhạc của anh. Và những ý tưởng này cũng không thể hiện rõ ràng ngay đối với chính anh. Vậy thì ta cũng có thể tưởng tượng được rằng nó khó hiểu đối với tôi như thế nào.
            Tôi cho rằng trong một bức tranh nào đó, ý tưởng của anh đã được thể hiện rõ ràng hơn nhưng tôi vẫn cứ không hiểu nổị Tôi vẫn còn nhớ bức tranh ấy bởi vì khi nhìn nó tôi bị xáo động dữ dộị Bức tranh vẽ một lối đi hun hút, hai bên là hai bức tường thấp lè tè, bóng nhẵn và trắng toát. Nền bức tường gây cho ta một cảm giác đó là lối đi sâu xuống lòng đất, nhưng không có lối rạ Trên bức tường không có đèn sáng và cũng không thấy có loại ánh sáng nào khác. Tuy nhiên hoàn cảnh bị nhấn chìm trong một thứ ánh sáng rực rỡ.
            Trong một lần nói chuyện, Acsơ bảo tôi là anh tin rằng tất cả các loài cây đều có khả năng cảm giác và ngay cả những vật vô tri cũng có khả năng này trong một điều kiện nào đó. Như tôi đã kể trước đây, lòng tin này có liên quan đến những tảng đá xám của khu nhà. Anh cho rằng chính cái cách chúng được sắp xếp thành một bức tường, một kiểu sắp xếp đã có vài trăm năm nay đã tạo cho chúng tôi một cuộc sống riêng. Anh nói rằng nước trong hồ cũng như những cây khô đều có cuộc sống giống như vậy. Anh nói tiếp:
            - Cái để chứng minh cho suy nghĩ ấy của tôi về những bức tranh tường quanh nhà và hồ nước, tôi có cảm giác là đều xuất phát từ sự phát triển dần dần của một không khí đặc thù xung quanh chúng. Tôi nghĩ ngay đến ý tưởng đã xuất hiện trong óc tôi khi tôi vừa đến nơi nàỵ
            Anh nói tiếp:
            - Cái không khí này đã ảnh hưởng đến dòng họ tôi một cách thầm lặng nhưng khủng khiếp. Chính nó đã làm cho tôi như thế này đây.
            Lúc này tôi không nghĩ ra nổi một điều gì để nói với anh bạn tôi nữa.
            Một buổi tối, Acsơ nói vắn tắt với tôi rằng tiểu thư Madơlin đã chết. Anh bảo là anh định giữ thi thể của cô trong hai tuần rồi mới chôn. Anh sẽ đặt cô trong căn phòng dưới nhà hầm. Lý do anh đưa ra cũng chẳng có gì khác thường, vì anh đã hiểu được cái bệnh mà cô đã phải chịu đựng, nói một cách đơn giản hơn, anh muốn bảo đảm chắc chắn một điều là cô đã chết thật trước khi đặt thi thể cô vào nhà mồ của dòng họ.
            Theo yêu cầu của Acsơ, tôi đã giúp anh chuẩn bị mọi thứ. Hai chúng tôi khiêng thi thể cô gái đặt vào áo quan rồi đưa quan tài vào một căn phòng nhỏ vừa tối vừa ẩm thấp nằm ngay bên dưới căn phòng tôi đang ở.
            Cách đây đã lâu, trong những năm tháng lộn xộn, căn phòng này dùng làm kho chứa thuốc súng và một số chất nguy hiểm khác nữạ Một phần của sân nhà và toàn bộ cửa vòm mà chúng tôi đi qua đều viền bằng đồng. Cánh cửa sắt nặng nề cũng được bảo vệ bằng cách đó. Đặt xong chiếc quan tài lệch sang bên cạnh một chút để nhìn vào khuôn mặt bên trong. Tôi nhận ngay ra rằng hai anh em trông rất giống nhaụ Đoán được ý nghĩ của tôi, Acsơ bảo rằng anh và Madơlin là hai anh em sinh đôi nên giữa hai người luôn luôn có sự đồng cảm khác thường. Trên khuôn mặt và cổ của cô ta vẫn còn hơi có mầu sắc và nụ cười vẫn còn đọng trên môi, trông thật khủng khiếp. Chúng tôi không dám nhìn lâu, vội đậy nắp quan tài và vít chặt lại, khép cánh cửa sắt và trở lên trên nhà.
            Ba bốn ngày trôi qua đầy sự đau thương, tôi nhận thấy một sự thay đổi lớn trong cuốc sống của người bạn mình. Những hoạt động bình thường như âm nhạc, đọc sách, vẽ tranh đều bị lãng quên. Anh cứ lang thang từ phòng nọ sang phòng kia, không làm gì và cũng chẳng thiết gì cả. Anh lại càng xanh xao hơn và ánh mắt thông minh của anh đã biến đi đâu mất. Đôi khi tôi nghĩ rằng có một điều gì đó rất bí mật anh muốn kể cho tôi nghe nhưng lại không đủ can đảm để kể. Có những lúc anh ngồi lặng đi hàng tiếng đồng hồ như thể đang lắng nghe một âm thanh tưởng tượng nào đó, như thể đang chờ đợi một cái gì bất thường xẩy rạ Không biết có phải hoàn cảnh của anh đã làm cho tôi hoảng sợ và chính nó đã khiến tôi cảm thấy những ảnh hưởng hoang dã của những niềm tin khủng khiếp trong anh đang lan sang tôi.
            Vào đêm thứ bảy hoặc thứ tám gì đó sau cái chết của tiểu thư Madơlin tôi bắt đầu thấy mãnh lực khủng khiếp của các cảm giác nàỵ Tôi nằm thao thức hàng giờ cố chống lại cảm giác hoảng sợ. Tôi trách cứ mọi đồ vật xung qanh tôi: những đồ đạc bụi bặm, những mảnh rèm cửa rách bườm đang bay lên bay xuống trong luồng gió của một cơn bão, trách cứ ngay cả chiếc giường cổ kính mà tôi đang nằm. Nhưng mọi cố gắng của tôi đều vô ích. Cuối cùng vì quá sợ hãi tôi đã chồm dậy nhìn chằm chằm vào bóng tối của căn phòng. Tôi nghe thấy - cũng có thể nghĩ rằng tôi đã nghe thấy, những âm thanh trầm trầm nổi lên vào những lúc gió bão lặng xuống. Tôi vội mặc quần áo vì tôi đang run rẩy, run rẩy vì lạnh hay vì sợ tôi cũng không còn biết nữạ Để trấn tĩnh, tôi đi đi lại lại trong phòng.
            Tôi đi lại được hai ba lần thì nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Acsơ tay cầm đèn bước vàọ Trong đôi mắt của anh tôi nhận thấy một nỗi kinh hoàng như điên dạị Anh bỗng kêu lên:
            - Anh không trông thấy gì ư...? Không thấy gì à? Nhưng này... - Vừa nói anh vừa cẩn thận giơ cao cây đèn đi vội ra cửa sổ, đẩy bật tung cửa ra.
            Luồng gió ùa vào mạnh đến nỗi gần như nhấc bổng chúng tôi lên. Nhưng cái mà chúng tôi chăm chú nhìn không phải là luồng gió mà cũng chẳng phải là những đám mây dày đặc đang phủ quanh ngôi nhà. Chúng tôi không trông thấy trăng sao nhưng cả ngôi nhà và những đồ vật xung quanh chúng tôi, kể cả những đám mây mù lơ lửng, đang sáng rực lên trong một luồng sáng kỳ lạ. Chính luồng sáng này đã dội lên từ những bức tường và từ mặt nước hồ.
            - Anh không được... anh không nên nhìn - tôi vừa nói vừa kéo anh ra khỏi cửa sổ và đẩy anh ngồi xuống ghế.
            Tôi nói tiếp:
            - Thứ ánh sáng làm cho anh hoảng sợ chỉ là ánh sáng điện xuất hiện trong không trung. Chúng ta hãy đóng cửa sổ lại, vì luồng gió lạnh này rất nguy hiểm cho sức khỏe của anh. Đây, quyển sách mà anh ưa thích đấỵ Tôi sẽ đọc cho anh nghe và chúng ta sẽ cùng nhau sống qua cái đêm khủng khiếp này.
            Tôi bắt đầu đọc, còn Acsơ lắng nghe hoặc có vẻ lắng nghe một cách chăm chú. Đó là một câu chuyện nổi tiếng của Lonsơlot Cenninh. Đọc được độ khoảng mươi phút, đọc đến phần nói về nhân vật chính đang tìm cách lọt vào nhà kẻ thù. Tôi còn nhớ đoạn đó như sau: "... và Etơret giơ kiếm lên chém mạnh vào cửạ Cửa bị nứt rồi vỡ toác rạ Tiếng gỗ khô tạo ra một âm thanh trầm trầm hình như đã vang khắp cả khu rừng".
            Đọc xong câu cuối, tôi ngừng lại vì hình như tôi cũng nghe thấy một tiếng động như vậy, giống như tiếng gỗ vỡ, mặc dù rất lơ mơ. Tiếng động, hình như phát ra từ một nơi nào đó trong ngôi nhà nàỵ Tôi chắc rằng bão tố đã làm vỡ một cái gì rồị Thế là tôi chẳng quan tâm đến nó nữa và tiếp tục đọc truyện: "Rồi Etơret bước qua cửa đứng trên sàn nhà đầy ánh bạc trước mặt một con thú dữ. Đằng sau con thú là một cái khiên bằng đồng treo trên tường. Trên khiên có khắc những lời sau đây: "Người nào vào được đây sẽ trở thành kẻ chinh phục. Người nào diệt được con thú, sẽ chiếm được chiếc khiên này". Etơret lại vung kiếm lên chặt đầu con thú. Kêu lên một tiếng kêu làm rung chuyển cả bức tường, con thú ngã xuống và làm chiếc khiên rơi xuống sàn nằm ngang dưới chân Etơret".
            Đến đây tôi lại cảm thấy kinh ngạc và hoảng sợ. Tôi buộc phải ngừng đọc. Bây giờ không còn nghi ngờ gì nữa, tôi thực sự nghe thấy một tiếng kêu đau đớn, mặc dù tiếng kêu khe khẽ nhưng rất rõ. Sau tiếng kêu đó là một tiếng vang của hai thanh sắt chạm nhaụ Tôi không biết Acsơ có nghe thấy những âm thanh này không. Tôi run rẩy chạy về phía anh đang ngồị Đôi mắt của anh dán chặt vào cửa ra vàọ Đôi môi anh đang mấp máy vì khi tôi cúi xuống bên anh tôi nghe thấy anh nói:
            - Có phải tôi đã nghe thấy không? Đúng. Tôi nghe thấy, tôi đã nghe thấy: dài, dài, dài hàng phút đồng hồ, hàng giờ, hàng ngàỵ Tôi đã nghe thấy ư...? Nhưng tôi không dám... Ôi, khổ tôi quá!... Tôi là một sinh vật khốn khổ... tôi không dám nói rạ Ôi, chúng ta đặt cô bé đang sống vào quan tàị Chẳng lẽ tôi đã không nói với anh là cảm giác của tôi rất nhạy bén hay saỏ Bây giờ tôi phải nói cho anh biết rằng cách đây mấy ngày tôi đã nghe thấy tiếng chân cô ấy đi lại, thế nhưng tôi không dám nói ra và bây giờ - đêm nay - Etơret - Ha, ha - tiếng phá cửa và tiếng kêu của con thú, tiếng rơi "xoảng" của cái khiên - không phải, đó là tiếng phá quan tài, tiếng kêu của cô ấy, tiếng vật lộn trong vòm cửa bằng đồng của nhà tù. Ôi, tôi trốn đi đâu bây giờ? Chắc cô ấy sắp lên đến đây rồi, chắc sẽ mắng mỏ tôi vì đã quá vội vã. Tôi không nghe thấy tiếng bước chân của cô trên cầu thang hay saỏ Tôi không cảm thấy nhịp đập nặng nề từ trái tim của cô hay saỏ Thằng điên!
            Đến đây anh đứng bật dậy, hét to lên:
            - Thằng điên tao bảo cho mày biết rằng cô ấy đang đứng ở ngoài cửa đấy!
            Như thể lời nói của anh có một ma lực đặc biệt nào đó, cánh cửa to bật tung ra. Thực ra đó là do luồng gió mạnh đập vào cửa làm cho nó bật ra...
            Nhưng ngay phía bên ngoài cửa rõ ràng là một dáng hình mặc bộ đồ trắng đang đứng sừng sững: tiểu thư Madơlin của dòng họ Acsơ. Cô cứ đứng run rẩy như vậy một lúc ở cửa ra vào rồi khẽ kêu lên một tiếng, và nặng nề đổ xuống trước mặt anh. Sự hoảng hốt tột độ đã đưa Acsơ đến cái chết trong giây lát và một phút sau người em gái cũng chết bên cạnh anh.
            Tôi lao ra khỏi phòng rồi lao ra khỏi nhà trong nỗi kinh hoàng. Tôi không hề nhìn lại cho đến khi đã chạy qua cái hồ. Một tiếng nổ lớn bung ra trong không trung. Tôi nhìn lại chỗ nứt - chính cái chỗ nứt mà tôi đã nói đến trước đây, chạy từ nóc nhà xuống đến chân tường bây giờ toác ra như cái mồm há rộng của một con vật khổng lồ. Những bức tường to lớn vỡ toang. Tôi nghe thấy một tiếng rú lớn, tiếng rú của hàng nghìn ngọn nước... rồi cái hồ sâu đầy nước đen kịt trùm lên ngôi nhà Acsơ.