Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
8/4/12

Chuỗi hạt trân châu - William Somerset Maugham

Chuỗi hạt trân châu
William Somerset Maugham
Hiếu Tân dịch

            “Không biết diễm phúc nào cho tôi được ngồi gần anh thế này?” Laura nói khi chúng tôi ngồi ăn tối.
           
“Để rồi xem. Tôi đặc biệt muốn có cơ hội được nói chuyện với anh. Tôi có câu chuyện muốn kể với anh”
            Nghe thế tim tôi hơi lịm đi.
            “Tốt nhất là cô hãy nói về bản thân cô”. Tôi trả lời. “Hay thậm chí nói về tôi”
            “Ồ nhưng tôi phải kể anh nghe câu chuyện này. Tôi nghĩ là anh có thể sử dụng nó”
            “Nếu cô phải kể thì đúng là cô phải kể rồi. Nhưng trước hết ta hãy ngó qua thực đơn đã”
            “Anh không muốn tôi kể ư?” Cô nói giọng có vẻ hờn dỗi. “Tôi nghĩ anh phải thích thú mới đúng”
            “Tôi thích chứ. Có lẽ cô đã viết một vở kịch và muốn đọc nó cho tôi nghe”
            “Câu chyện này xảy ra cho mấy người bạn của tôi. Nó hoàn toàn thật”
            “Thế thì chẳng hấp dẫn lắm đâu. Một câu chuyện thật không bao giờ hoàn toàn thật như một câu chuyện bịa”
            “Thế nghĩa là sao?”
            “Không có nghĩa gì lắm” Tôi thú nhận. “Nhưng tôi nghĩ nghe nó có vẻ hay”
            “Tôi muốn anh để tôi kể tiếp”
            “Tôi đang dỏng tai lên đây. Tôi sẽ không ăn món xúp này, nhiều mỡ quá”
            Cô liếc tôi rồi ngó qua tờ thực đơn. Cô buông một tiếng thở dài.
            “Thôi được, nếu anh từ chối món này thì tôi cũng phải bỏ thôi. Tôi không thể tùy tiện với vóc dáng của mình”
            “Tuy thế, liệu có món xúp nào tuyệt vời hơn món xúp mà cô cho quá nhiều kem vào không?”
            “Borscht” Cô thở dài “Đấy là món xúp duy nhất mà tôi thật sự thích”
            “Thôi. Cô kể câu chuyện của cô đi và ta hãy quên đồ ăn cho đến khi món cá được mang ra”
            “Ờ chuyện xảy ra đúng lúc tôi có mặt ở đó. Tôi đang ăn tối với gia đính Livingstone. Anh có biết vợ chồng Livingstone không?”
            “Không. Tôi không nghĩ là có biết họ”
            “Ấy, anh có thể hỏi họ và họ sẽ xác nhận từng lời tôi nói. Họ yêu cầu nữ gia sư cùng ngồi ăn tối với họ, bởi vì có bà đã bỏ về giữa chừng – anh thấy người ta mất lịch sự như thế đấy– khiến cho bàn ăn còn lại mười ba người. Nữ gia sư là Cô Robinson, một thiếu nữ rất dễ thương, trẻ, anh biết không, độ hai mươi hai mốt gì đó, và khá xinh. Cứ như tôi chẳng bao giờ tôi thuê một nữ gia sư trẻ và xinh đẹp. Ai mà biết được”
            “Nhưng người ta bao giờ cũng hy vọng có cái tốt nhất”
            Laura chẳng để ý gì đến nhận xét của tôi.
            “Chuyện có thể xảy ra là cô ta suốt ngày mơ tưởng đến các chàng trai trẻ thay vì phải chuyên chú vào bổn phận của mình, và khi cô ta vừa quen với cung cách của nhà mình thì cô ta xin ra và đi lấy chồng. Nhưng cô Robinson này được giới thiệu rất tốt, và tôi phải nhận rằng cô ấy là một người rất dễ thương và đáng kính trọng. Tôi tin rằng cô ấy là con một mục sư.

            “Trong bữa tiệc có một người đàn ông, tôi nghĩ chưa bao giờ anh nghe tiếng ông ấy, nhưng ông ấy là người cực kỳ nổi tiếng trong lĩnh vực của mình. Ông ấy là bá tước Borselli và ông ấy biết nhiều về đá quý hơn bất kỳ ai trên thế giới. Ông ấy ngồi cạnh Mary Lyngate, bà này rất hãnh diện về chuỗi hạt trân châu của mình và trong câu chuyện bà hỏi ông ấy nghĩ thế nào về chuỗi hạt mà bà đang đeo. Ông ấy bảo nó rất đẹp. Bà ta có vẻ hơi tự ái khi nghe thế, và bảo nó trị giá tám ngàn bảng Anh.
            “ ‘Vâng, nó phải có giá đến thế’ Ông ấy nói.
            “Cô Robinson ngồi đối diện với ông ấy. Trông cô ấy tối nay rất xinh. Tất nhiên tôi nhận ra bộ váy cô ta đang mặc là bộ váy cũ của Sophie, nhưng nếu anh không biết cô Robinson là gia sư anh không bao giờ ngờ điều đó.
            “ ‘Chuỗi vòng đeo cổ của tiểu thư đẹp quá’ Ông ấy nói.
            “ ‘Ồ, nhưng đó là gia sư của bà Livingstone’ Mary Lyngate nói.
            “ ‘Tôi không thể  không nói lên cảm nghĩ của mình’ ông ấy nói ‘Cô ấy đang đeo một trong những chuỗi hạt trân châu đẹp nhất của cỡ ấy mà tôi chưa bao giờ được nhìn thấy trong đời. Nó phải đáng giá đến năm mươi ngàn bảng Anh’
            “ ‘Vớ vẩn’
            “ ‘Tôi xin thề với bà đấy’
            “ Mary Lyngate nhoài người lên. Bà ta có một giọng nói the thé nhức óc.
            “ ‘Cô Robinson, cô có biết bá tước Borselli vừa nói gì không?’ bà ta giải thích ‘Ông ấy nói rằng chuỗi hạt trân châu cô đang đeo có giá năm mươi ngàn bảng đấy’
            “ Đúng lúc đó có quãng ngừng ngắn trong cuộc trò chuyện và mọi người đều nghe thấy câu đó. Tất cả chúng tôi quay lại nhìn cô Robinson. Cô hơi đỏ mặt lên và cười:
            “ ‘À, tôi mua được món hời’ cô nói ‘bởi vì tôi đã trả mười lăm siling để mua nó’
            “ ‘Chắn chắn là thế rồi’
            “ Tất cả chúng tôi đều cười. Tất nhiên điều đó là phi lý. Tất cả chúng tôi đã nghe câu chuyện về những bà vợ đánh lừa chồng rằng chuỗi hạt châu là giả trong khi nó là thật và cực đắt.    Chuyện này xưa như trái đất.
            “Cám ơn” Tôi vừa nói vừa nghĩ ra một câu chuyện kể của mình.
            “Nhưng sẽ là vớ vẩn khi nghĩ rằng cô gia sư vẫn cứ là gia sư khi cô ta có chuỗi hạt trân châu trị giá năm mươi ngàn bảng. Rõ ràng bá tước Borselli đã lầm lớn. Thế rồi một sự việc lạ lùng xảy ra.  Sự trùng hợp ngẫu nhiên đã cho thấy quyền năng của nó”
            “ Không phải thế” tôi bác lại “Cô đã đọc cuốn sách đáng yêu có tên gọi là Từ điển cách dùng từ Tiếng Anh chưa?”
            “Tôi xin anh đừng ngắt lời tôi khi tôi kể đến đoạn gay cấn nhất.
            Nhưng tôi vẫn phải ngắt lời cô lần nữa, vì có món cá hồi nướng vỉ vừa được nhẹ nhàng đưa vòng qua bên trái tôi.
            “Bà Livingstone đã đãi một bữa tiệc ngon tuyệt trần”
            “Món cá hồi này có béo không?” Laura hỏi
            “Rất béo” Tôi trả lời và lấy một miếng lớn.
            “Xạo’ Cô ta nói.
            “Tiếp tục” Tôi nói “ Quyền năng của sự trùng hợp ngẫu nhiên sắp chơi một vố”
            “À, đúng lúc đó người quản gia ghé xuống cô Robinson và nói thầm gì đó vào tai cô. Tôi thấy cô ta hơi tái mặt đi. Thật sai lầm là cô ta đã không đánh phấn, vì đâu có biết chuyện ngẫu nhiên quái ác gì sẽ xảy đến. Rõ ràng là cô ta có vẻ hoảng hốt. Cô ta nhoài người lên.
            “Bà Livingstone, Dawson nói có hai người đang ở tiền sảnh muốn nói chuyện với tôi ngay bây giờ”
            “ ‘Được, thế thì cô đi đi’ Bà Livingstone nói.
            “Cô Robinson đứng lên ra khỏi phòng. Tất nhiên cùng một ý nghĩ thoáng qua đầu óc của mọi người, nhưng tôi nói ra đầu tiên.
            “ ‘Tôi hy vọng người ta không đến để bắt cô ấy’ tôi nói với Sophie Livingstone. ‘Như thế sẽ là điều khủng khiếp đối với chị, bạn thân mến ạ’.
            “ ‘Ông có chắc nó là chuỗi hạt thật không, Borselli?’ bà hỏi
            “ ‘Ồ, hoàn toàn chắc’
            “ ‘Cô ấy khó lòng có can đảm đeo nó tối nay nếu nó là đồ ăn trộm’ Tôi nói.
            “Sophie Livingstone tái nhợt đi dưới lớp son phấn và tôi thấy bà ấy đang nghĩ không biết hộp nữ trang của bà có sao không. Tôi chỉ có một chuối hạt kim cương nhỏ, nhưng tôi bất giác sờ lên cổ để chắc nó vẫn còn đấy.              
            “ ‘Ôi, nhưng cô ấy có những lời giới thiệu rất tốt’ Sophie nói.
            “ ‘Người ta bao giờ chả nhận xét tốt.’ Tôi nói.”
            Tôi thấy nhất định phải ngắt lời Laura một lần nữa.
            “Hình như cô đã không quyết định có cái nhìn sáng sủa hơn trong vụ này” Tôi nói.
            “Tất nhiên tôi không biết điều gì xấu về cô ấy và tôi có đủ lý do để nghĩ cô ấy là một cô gái rất dễ mến, nhưng quả thật đáng rùng mình khi phát hiện ra rằng cô ta là một kẻ trộm khét tiếng và là thành viên lừng danh của một băng lừa đảo quốc tế.”
            “Cứ y như ở trong phim. Tôi sợ rằng một chuyện cực kỳ như thế chỉ có thể xảy ra ở trong phim”
            “Ờ, chúng tôi nín thở chờ đợi trong nghi ngờ. Tôi chờ nghe một cuộc ẩu đả ít nhất cũng là những tiếng kêu thét bị bịt lại. Tôi nghĩ sự im lặng này rất đáng ngại. Rồi cửa mở ra và cô Robinson bước vào. Tôi nhận thấy ngay chuỗi hạt không còn trên cổ cô nữa. Tôi thấy cô tái xanh và kích động. Cô trở lại bàn, ngồi xuống, mỉm cười và ném lên đó__”
“Lên đâu?”
            “Lên bàn. Anh ngốc. Một chuỗi hạt”
            “ ‘Đây chuỗi hạt của tôi’ cô ta nói.
            Bá tước Borselli nhoài người lên nhìn.
            “ ‘Nhưng đây là chuỗi hạt giả’ Ông nói.
            “ ‘Tôi đã bảo ông nó là giả mà’ Cô ta cười.
            “ ‘Đây không phải là chuỗi hạt mà cô đeo lúc trước’ Ông nói
            “ ‘Cô ta lắc đầu và cười một vẻ bí hiểm. Mọi người chúng tôi tò mò. Tôi đã không biết rằng bà Livingstone rất thích thú vì cô gia sư đã trở thành trung tâm chú ý của mọi người như thế, và tôi tưởng có một vẻ nghi ngờ chua chát trong thái độ của bà khi bà đề nghị cô Robinson tốt nhất hãy giải thích mọi việc. Vâng, cô Robinson nói khi cô ra tiền sảnh cô thấy hai người đàn ông nói họ từ Tiệm Jarrot đến. Cô đã mua chuỗi hạt của cô ở đấy, với giá mười lăm siling. Cô đã mang nó gửi lại vì cái móc bị lỏng và mới lấy nó về chiều hôm nay. Hai người đàn ông kia nói người đã đưa nhầm chuỗi hạt cho cô. Có ai đó đã đem gửi một chuỗi hạt thực để xâu chuỗi lại và người bán hàng đã nhầm. Tất nhiên tôi không thể hiểu có ai lại ngu ngốc đến mức đem chuỗi hạt thật có giá trị đến tiệm Jarrot, họ đâu có quen với những loại công việc như thế, và họ không biết phân biệt ngọc trai thật với giả, nhưng anh biết có những người đàn bà ngu ngơ thế đấy. Dù sao đó cũng là chuỗi hạt mà Cô Robinson đã đeo, và nó trị giá năm mươi ngàn bảng Anh. Tất nhiên cô trả lại chuỗi hạt cho họ – cô còn có thể làm gì khác, tôi nghĩ thế, dù có phải tiếc đứt ruột, và họ trả lại chuỗi hạt của cô cho cô, rồi họ nói rằng mặc dầu tất nhiên họ không có bổn phận gì – anh biết cái lối ngu ngốc, rỗng tuếch khi người ta cố làm ra vẻ trịnh trọng – họ được lệnh, như một sự an ủi, hay anh muốn gọi là gì cũng được, biếu cô một tấm séc ba trăm bảng. Cô Robinson quả thực đã đưa nó ra cho chúng tôi xem. Cô tỏ ra hết sức tự đắc”
            “Ồ, chẳng phải là một sự may mắn bất ngờ sao?”
            “Anh có thể nghĩ thế. Nhưng kết cục thì hóa ra cô ta hỏng”
            “Ô, chuyện thế nào?”
            “Ờ khi đến thời gian nghỉ hè cô ta nói với Sophie Livingstone rằng cô đã quyết định đi Dauville một tháng và tiêu cho hết ba trăm bảng. Tất nhiên Sophie cố thuyết phục cô ta đừng làm thế và khuyên cô nên gửi số tiền ấy vào ngân hàng tiết kiệm, nhưng cô ta không nghe. Cô ta nói từ trước đến giờ cô chưa bao giờ có một cơ hội như thế và sau này cũng sẽ không có lại lần nữa, nên cô quyết định sẽ sống ít nhất bốn tuần lễ như một bà công tước. Sophie quả thật không thể làm gì hơn nên đành để cô đi. Bà ấy bán cho cô Robinson những quần áo cũ của bà ấy, những quần áo mà bà đã mặc qua và bây giờ bà ta mắc cỡ đến chết với chúng, bà ấy nói bà ấy cho cô ta nhưng tôi không nghĩ là bà ấy thật sự làm thế, tôi chắc bà ấy đã bán rất rẻ, và cô Robinson lên đường, chỉ có một mình, đi Dauville. Anh thử đoán xem sau đó chuyện gì đã xảy ra?”
            “Tôi chẳng có một ý niệm gì” Tôi nói “Chắc cô ấy đã sống một thời gian đế vương”
            “Ờ một tuần trước khi đến hạn trở về, cô ta viết cho Sophie nói cô đã thay đổi kế hoạch, đã chuyển sang làm nghề khác và xin bà Livingstone tha thứ nếu cô không trở lại. Tất nhiên Sophie tội nghiệp giận điên lên. Sự thật là ở Dauville Robinson đã cua được một chàng Argentine giàu có và đã tếch đi Paris với chàng ta. Cô ta ở Paris từ bấy đến giờ. Chính tôi đã gặp cô ta ở Florence với những vòng vàng lên đến tận khuỷu tay và những chuỗi ngọc trai quấn quanh cổ. Cô nói vợ chồng cô có ngôi nhà ở Rừng Bulônhơ và tôi biết cô có một chiếc Rolls Royce. Cô ta đã đá anh chàng Argentine vài tháng sau đó để cặp một gã Hylạp, tôi không biết bây giờ cô ta sống với ai, nhưng dù đoán già đoán non thì cô ta cũng là người sang trọng bậc nhất Paris rồi”
            “Tôi kết luận rằng khi cô nói cô ta đã hỏng, thì cô dùng từ này theo nghĩa thuần túy kỹ thuật” Tôi nói.
            “ Tôi không biết anh định nói gì” Laura nói “Nhưng anh không nghĩ anh có thể viết một truyện từ câu chuyện này sao?”
            “Đáng tiếc là tôi đã viết một truyện ngắn về chiếc vòng cổ ngọc trai rồi. Người ta không thể cứ viết mãi về một chiếc vòng cổ ngọc trai.”
            “Tôi cũng đang dự định tự mình sẽ viết truyện này. Chỉ có điều tất nhiên tôi sẽ thay đổi cái kết của nó”
            “Ồ, cô sẽ kết thúc nó như thế nào?”
            “Ờ tôi sẽ để cho nàng đính hôn với một viên chức nhà băng, chàng bị thương trong chiến tranh chẳng hạn chỉ còn một chân hay mất một nửa khuôn mặt, và họ cực kỳ nghèo túng, không có triển vọng gì cho cuộc hôn nhân của họ trong nhiều năm, và có thể chàng đã bỏ tất cả tiền tiết kiệm ra để mua một ngôi nhà ở ngoại ô và họ đã dự định làm đám cưới khi chàng trả xong khoản trả góp cuối cùng. Rồi đúng lúc đó nàng lấy cho chàng ba trăm bảng, chàng không thể nào tin nổi, họ vô cùng hạnh phúc và chàng khóc trên vai nàng. Rồi chàng cười như một đứa trẻ. Và họ có ngôi nhà ở ngoại ô và họ cưới nhau, và bà mẹ già của chàng sống cùng với họ, và ngày ngày chàng đến nhà băng, và nếu nàng giữ gìn cẩn thận chưa vội có con thì nàng vẫn có thể đi ra làm gia sư hàng ngày, và chàng thì thường xuyên ốm yếu – vì những vết thương của chàng, anh hiểu không – và nàng săn sóc chàng và mọi thứ thật lâm ly, ngọt ngào và êm ái”
            “Nhưng sao tôi nghe có vẻ cải lương quá”
            “Đúng, nhưng nó có tác dụng giáo dục đạo đức”.
6/4/12

Vận đỏ - Mark Twain

Vận đỏ
Mark Twain
Ngọc Châu dịch

            Đang trong buổi tiệc ở London nhằm vinh danh một trong vài ba cái tên lẫy lừng vang vẻ của ngạch quân sự Anh quốc trong giai đoạn hiện thời. Để tránh sự lầm lẫn đối với những danh xưng xuất hiện rất chi là luôn luôn gần đây, tôi không nêu tên tuổi và chức tước cụ thể mà chỉ gọi là ngài Huân tước Trung tướng Arthur Scoresby, V.C., K.C.B., vân vân và vân vân mà thôi.
            Những cái tên mới lừng danh và quyến rũ thiên hạ làm sao! Bữa tiệc nói về một người đàn ông bằng xương bằng thịt, một người mà tôi đã nghe nói đến hàng nghìn lần tính từ ba mươi năm trước đây, từ lúc tên của ông ta bỗng chốc phóng vót lên đỉnh trời qua trận chiến ở Crimean (1), và rồi cứ lẫy lừng mãi mãi.
            Thật là một kho lương, biển nước dư thừa nuôi dưỡng cho lòng khao khát chiêm ngưỡng của tôi vào con người Á Thánh ấy. Mọi giác quan đều mải miết để ghi nhận hình ảnh, tìm tòi nghiên cứu, vội vàng ghi ghi chép chép từ sự lặng thinh, vẻ dè dặt, sức nặng đáng trọng tỏa ra bởi nét nghiêm trang, cho tới thái độ trọng nể dân giã rất chân thành của quần chúng đối với nhân vật lớn lao.
            Mọi người tự dưng rơi vào tình trạng đánh mất mình một cách ngọt ngào trước sức nặng của người hùng thời đại. Hàng trăm cặp mắt sùng bái dán chặt vào thần tượng, thứ tình cảm sâu thăm thẳm, thực lòng tôn kính toát ra từ những bộ ngực và con tim đang hồi hộp, chảy thành dòng về phía nhân vật vĩ đại này.
            Có một vị mục sư ngồi phía trái là một người tôi quen từ lâu, giờ là mục sư nhưng trước đây đã tiêu mất nửa cuộc đời trong các trại lính và bãi chiến trường - là một Trợ giáo trong Trường Nhà Binh ở Woolwich. Đúng vào lúc tôi muốn cất tiếng bày tỏ tình cảm gì đó thì thấy mắt ông ta loáng lên thứ ánh sáng kì lạ, với vẻ giấu diếm kín đáo rồi nghiêng sang tôi thầm thì một cách tin cậy, cùng một cử chỉ ra dấu về phía nhân vật quan trọng của buổi tiệc "Nói riêng thôi nhá - vinh quang của nhân vật này chính là sự cố chó ngáp phải nhặng - kết quả của sự may mắn không ai tin nổi".
            Lời phán quyết làm tôi kinh ngạc đến mức tóc dựng lên ở gáy, cả khi người ta nói về Napoleon, Socrates hay Salomon (2) chắc tôi cũng không đến nỗi gần như bổ chửng ra như vậy.
            Ít ngày sau đó lời giải thích cho câu nhận xét lạ lùng trong buổi tiệc hôm ấy mới đến với tôi, dưới đây là những gì Đức Cha đã nói:
            "Khoảng bốn chục năm trước đây tôi vốn là một Trợ giáo trong Học viện Quân sự ở Woolwich. Tôi có mặt ở một đơn vị khi chú lính chì Scoresby đang phải qua kì sát hạch đầu tiên, tự dưng thấy thương cậu ta vì cả lớp học đều trả lời đúng và mạch lạc trong khi cu cậu chẳng hiểu mô tê răng rứa gì hết, cứ đực mặt như ngỗng ỉa.
            Rõ ràng cậu chàng này tốt nết và chân thật, dáng vẻ dễ mến nên tôi thấy mủi lòng với tình trạng hắn đứng cứng người như khúc gỗ, ấp úng đưa ra vài câu trả lời quá ư ngốc nghếch lẫn dốt nát. Lòng trắc ẩn bị đánh động nên tôi nghĩ bụng phải tìm cách giúp đỡ nếu không kì kiểm tra tới hắn sẽ bị quẳng đi như một miếng dẻ rách. Việc cũng đơn giản và vô hại, thôi thì đỡ cho hắn một tí.
            Khi gọi riêng ra một chỗ tôi phát hiện rằng hắn có biết một đôi chút về lịch sử danh tướng Xê-da (3), các chuyện khác thì đều mù tịt. Thế là bắt đầu một cuộc nhồi nhét khiến cậu chàng toát mồ hôi hột, vật vã như một tên nô lệ bị xích chân, nai lưng ra chèo thuyền trong roi vọt dưới tàu chiến.
            Tôi bắt hắn phải học thuộc lòng để trả lời một loạt câu hỏi, nhưng chỉ liên quan đến vị danh tướng La Mã cổ đại này, những câu hỏi tôi thừa biết phải trả lời ra sao theo kinh nghiệm của một Trợ giáo.
            Anh tin tôi đi, trong cuộc thi sau đó hắn trả lời vanh vách với những câu đã được nhồi sọ, giỏi hơn con vẹt nhiều lần và được khen, trong khi có những tay khác biết hàng ngàn thứ chuyện hơn hắn lại trượt oanh oách. Thằng cha gặp may một cách lạ lùng - trăm năm chưa chắc xảy ra hai lần như thế - vì không vớ thêm phải câu hỏi nào lọt ra ngoài phạm vi tôi đã cố nhồi vào trong sọ hắn.
            Chính tôi cũng phải sửng sốt. Vậy nhưng suốt đợt sát hạch vẫn cứ phải kèm sát cậu lính chì này, với một tình cảm giống như của bà mẹ đối với đứa con tật nguyền chẳng may sinh ra. Còn hắn thì liên tục thoát nạn như có được phép thần trong tay.
            Cuối cùng thì đến môn toán, môn học quái ác này chắc chắn sẽ lật tẩy và cho hắn tiêu tùng. Cũng muốn cho cái chết của hắn nhẹ nhàng được chừng nào hay chừng ấy nên tôi lại nhồi, lại gõ liên tục vào chiếc đầu đất, cố nhét chỉ một nhúm kiến thức toán mà các me-xừ giám khảo hay hỏi nhất, sau đó thì quăng hắn ra đối mặt với số phận.
            Này, quí nhân ơi, ngài có nghĩ kết quả sẽ ra sao? Tôi ngã ngửa ra khi thấy hắn được nhận giải nhất sau cuộc thi. Được cả thày lẫn trò tham dự đợt sát hạch tung hô đến nỗi cát bụi bay lên mù mịt!
            Có chết cha tôi không! Tôi nằm khượt ra đến một tuần, lương tâm cắn rứt nhoi nhói. Những gì tôi làm chỉ là vì lòng thương hại, tránh cho chú lính trẻ thật thà khỏi bị nhục nhã trong kì thì mà thôi. Có nằm mơ cũng không nghĩ rằng câu chuyện lại xảy ra như thế và lương tâm tôi bị cắn rứt, hệt như nhà bác học đã tạo ra quái nhân Frankenstein (4).
            Tôi đã khoác vào cái đầu gỗ một vinh quang chói ngời, khiến người ta có thể trao cho khúc củi ấy những cơ hội và nhiệm vụ lớn lao, rồi đây trách nhiệm mà hắn phải mang sẽ vụn vỡ ra cùng với chính hắn, thành các mẩu rác rưởi ngay trong dịp thi thố đầu tiên.
            Chiến tranh Crimean vừa nổ ra, tất nhiên đó là một cuộc choảng nhau thực sự. Tôi nghĩ ta đã không thể có được hòa bình, thôi thì cứ cho con lừa đó một cơ hội để nó có thể chết trong danh dự, trước khi sự thật được phát hiện.
            Tôi đợi một cơn địa chấn xảy ra, và nó xẩy ra thật. Chú lính chì mới đây, đã được phong hàm đại úy ở một trung đoàn đang hối hả ra trận!
            Thường chỉ những tay đàn ông trưởng thành và già dặn mới mon men leo được đến cấp quân hàm như thế. Ai dám đoán trước rằng một cấp hàm oách như vậy lại được khoác lên vai một anh lính tẩy ngu ngơ và non choẹt như hắn? Tôi hoàn toàn ủng hộ nếu như người ta phong chức thiếu úy, một sĩ quan cầm cờ chẳng hạn. Nhưng tới cấp đại úy thì xin thiên hạ nghĩ lại mà xem! Chuyện này thật khiến tôi bạc tóc.
            Quí nhân thử đoán xem sau đó một người vốn ưa yên tĩnh và nghỉ ngơi như tôi đã phải làm gì nào. Tự nhủ rằng mình có trách nhiệm về việc đã xảy ra, vậy thì cần phải đi cùng hắn để hạn chế tai vạ trong chừng mực sức mình làm được. Thế là tôi gom góp số vốn liếng ít ỏi ki cóp được qua bao nhiêu năm làm việc ở đất nước nghèo nàn của chúng ta, xoay xở lấy một cấp úy ở trung đoàn đó và cùng đi ra trận.
            Thật quá sức kì quái với những gì xảy ra ở đó với chàng ngố, anh bạn già của tôi ạ. Hắn chẳng làm được chuyện gì ngoài các trò ngốc nghếch, nhưng người ta lại nhìn vào hắn với cặp mắt lác. Ngoài tôi ra, mọi người luôn luôn hiểu sai hành vi của gã ngố này, ra sức khen ngợi tán dương một cách thực lòng, như thể hắn là một thiên tài bẩm sinh!        
            Đúng là tôi cứ thường xuyên dở cười dở khóc khi mọi hành động ngớ ngẩn tiếp theo đều biến thành lớp véc-ni đánh bóng thêm cho con cóc mạ kền này! Trong bụng tôi cứ đợi tới một lúc hắn leo lên thật cao, rồi sự thật sẽ đột ngột phơi bày, và câu chuyện sẽ gây kinh ngạc như hôm nào đó mặt trời bỗng nhiên rơi tọt xuống biển sâu.
            Thằng cha cứ thế mà leo lên theo cuộc chiến, vượt qua thân xác vừa ngã xuống của các cấp chỉ huy, cho tới phút giây nóng bỏng nhất của chiến tranh Crimea, lúc viên Đại tá chỉ huy Trung đoàn cũng gục ngã giữa chiến hào.
            Tim tôi chèn lên cổ họng, tí nữa phải vào khiêng vào trạm quân y tiền phương vì ngạt thở khi Scoresby được chỉ định lên thay thế ông ta. Chắc là chỉ mươi phút nữa, cả trung đoàn sẽ đến thời khắc cùng xuống Âm ti đây, tôi đã bụng bảo dạ như vậy đấy.
            Cuộc chiến cực kì dữ dội, quân Liên Minh phải rút dần từng bước, từng bước. Trung đoàn chúng tôi đang chiếm giữ vị trí sống còn, một sai lầm cỏn con cũng có thể làm toi mạng cả lũ. Vào thời điểm sống chết đó chàng ngố bất tử đúng là chẳng biết phải múa may ra làm sao, nhưng bỗng có lệnh cho hắn đem toàn bộ Trung đoàn sang án ngữ sườn một quả đồi bên cạnh, nơi ai cũng phán đoán đang có địch quân mai phục. "Nào thì đi!" - tôi lẩm bẩm một mình -"cuối cùng thì giờ tận số cũng đến rồi".
            Chúng tôi di chuyển theo mệnh lệnh, sẵn sàng chịu trận với việc khi nhô lên khỏi sườn đồi thì cuộc vận động điên rồ của mình sẽ bị quân địch phát hiện ra ngay và được nhận một phát đập bẹp dí cả quân lẫn cán.
            Nhưng quí nhân có biết chúng tôi nhìn thấy gì không? Toàn bộ lực lượng dự bị của quân Nga đúng là đang ém ở đó. Rồi ra sao nào? Chúng sẽ nuốt chửng chúng tôi mà không để mẩu nào dính răng? Chín mươi chín phần trăm việc ấy phải xảy ra đúng theo lô-gic của chiến tranh.
            Vậy mà không, quí nhân ạ. Người Nga nghĩ rằng không thể chỉ có một trung đoàn tép riu kéo đến gặm gốc cây cổ thụ vào thời điểm đó. Ít nhất phải là toàn bộ lực lượng quân sự của Vương quốc Anh trong Liên Minh đã bí mật kéo đến đánh thốc vào sau lưng chúng. Bọn Nga xưa nay rất láu cá nghĩ rằng mưu đồ của chúng đã bị phía Liên Minh phát hiện và người ta đang khóa chặt mọi đường.
            Thế là chúng bỗng ngoắt đuôi quay đầu chạy trốn, vượt qua sườn đồi để xuống cánh đồng một cách hỗn loạn. Tự chúng xé lẻ nhau ra, cuống quít, chạy bán sống bán chết, bọn này chỉ đuổi theo sau để dọa và vồ mấy thằng bị thương bên chúng mà thôi!
            Đúng là một cuộc tháo chạy ghê gớm chưa bao giờ nhìn thấy trong cuộc chiến và quân Liên Minh đang từ vị thế thất trận bỗng trở thành kẻ chiến thắng vẻ vang lừng lẫy!
            Thống chế Canrobert (5) nhìn chiến trường mà hoa cả mắt, choáng váng vì kinh ngạc, khâm phục trung đoàn chúng tôi, ông ta sướng đến ngây râu ra. Vị Đại Nguyên soái nước Pháp ôm chặt lấy viên Trung đoàn trưởng mới toanh, tuyên dương thành tích vĩ đại trước toàn thể quân sĩ đang kéo đến!
            Vì sao mà chàng ngố Scoresby đã làm bọn Nga sợ đến vãi đái ra trong thời điểm đó, quí nhân có biết không? Chỉ là do hắn đã nhầm lẫn giữa tay phải và tay trái, vậy thôi!?
            Thì ra bức mệnh lệnh khẩn cấp chuyển đến yêu cầu phải tìm đường lui xuống cố trụ giữ phía sườn đồi bên phải. Thay cho việc đó hắn ta đã lôi trung đoàn đi lên một ít rồi kéo quân vượt qua sườn đồi bên trái, ló mặt ra đúng ở vị trí mà địch quân bất ngờ nhất!
            Vậy nhưng vinh quang mà hắn đạt được trong ngày hôm đó thật quá lẫy lừng, được ghi vào sử sách cho đến tận giờ vẫn không hề phai mờ, quí nhân ạ.
            Lạy Chúa tôi! Hắn vẫn là người tốt, tính tình dễ chịu, không khoe khoang khoác lác, chỉ tội không biết cả chuyện chạy vào nhà khi trời mưa mà thôi. Nhưng luôn được mọi người khen ngợi, thúc đẩy ngày này sang ngày khác, năm nọ qua năm kia với vận số đỏ đến kì lạ, phải nói là phi thường mới đúng.
            Hắn có thể làm mọi chuyện của một anh lính, ngốc nghếch nhưng chăm chỉ, chẳng bao giờ nghĩ việc phải làm thế nào để được tụng phong Hiệp sĩ với Bá tước, Huân tước gì ráo trọi, nhưng vận đỏ cứ ồ ạt trút xuống con lừa ấy, giờ thì ngực của hắn không còn chỗ cho các loại huân chương trong nước cũng như nước ngoài. Tôi chịu không thể nào hiểu nổi, ông bạn già ạ!

1. Chiến tranh Crimea1: (10 / 1853 đến 2 / 1856) cuộc xung đột giữa Nga với liên minh của Pháp, Anh, Ottoman, Sardinia và các công quốc Nassau. Hầu hết các trận đánh diễn ra trên bán đảo Crimea
2. Napoleon, Socrates hay Salomon2 : Những vị tướng lừng danh của thế giới Cổ đại và cận đại.
3. Xêda 3: (Caius Julius Caesar; Ph. Jules César; 100 hoặc 101 - 44 tCn.), danh tướng, nhà hoạt động nhà nước, hoàng đế Rôma thời cổ. Frankenstein4 : Nhân vật quái đản do một nhà bác học tạo ra, đã hại mọi người và chính ông ta (tác phẩm của nữ văn sĩ...)
4. Canrobert5 : François de Canrobert, hay Marechal Canrobert (27/6 /1809 - 28 /1 /1895) Nguyên soái nước Pháp lúc đó.

Thất ngôn bát cú hoài cổ

Hoài cổ 7 chữ 8 câu

 

THĂNG LONG - ĐÔNG ĐÔ -  HÀ NỘI

 

Bao đời đất đá giữ trong lòng
Nhật nguyệt giăng giăng lớp cổ phong
Mấy độ hoàng thành nơi thánh địa
Bao phen gác tía toạ lưng rồng
Lâu đài điện các mờ sương khói
Bảo tháp chuông vàng lặng thỉnh không
Lịch sử Hà Thành nay hiển hiện
Đông đô lấp lánh dángThăng long 

  


          TRẤN QUỐC


         Thăng Long tứ trấn, trấn nơi đây
         Chiến tích bao đời quỷ thần hay
         Hổ phục Long chầu Linh Thánh địa
         Đền đài  bảo tháp Đức Căn cây
         Ơn sâu liệt tổ phong đăng  thuận
         Cảm đức Như Lai phúc lộc đầy
         Trấn vũ chuông chiều ngân tiếng thiện
         Hà thành đất Phật ánh trời mây 



         CHẠNH NHỚ BẾN MY LĂNG  



         My Lăng mặt sách nhuốm trăng vàng,
         Rượu hết, ngàn trăng, đợi quá giang.
         Cỏ lách đìu hưu đùa chị gió.
         Lý Ngư ngụp lặn vọng khuôn vàng.
         Đò nằm đợi tắm hồn trăng bạc.
         Bến vắng chờ đưa  khách văn sang.
         Ông lão say trăng đầu gối sách,
         Thuyền hồn lặng thoát bến hồng hoang.  



             SAU  CƠN  BÃO


              Tay gầy líu ríu  nếp  gia phong.
              Ngớ ngẩn bày lên,ngớ ngẩn trông.
              Ống Tbút lem  nhem, men rạn nứt.
              Hoành phi nét tróc, chữ lòng vòng.
              Nga văn chính tác, cho nào đắt.
              Giáo huấn thi thư, biếu chẳng dùng.
              Góp nhặt dư tàn sau bão tố,
              Bâng khuâng cổ tích gió thinh không.

.......................................................................................................................
Gửi anh Kiến trúc sư - Họa sỹ NHN những cảm xúc man mác hoài cổ của PNS, sau khi xem 2 bìa sách (2 tác phẩm) "Hà Nội mến yêu" và "Khát vọng sống và yêu" của anh dăng trong http://hoaden.blogspot.com/
5/4/12

Chiếc áo khoác mùa hè màu xám - W. Hildersheimer

Chiếc áo khoác mùa hè màu xám
Wolfgang Hildersheimer
Đào Minh Hiệp dịch

            Hai tháng trước, lúc chúng tôi chuẩn bị ăn sáng thì nhận được thư của cháu tôi Eduard. Có một lần vào mùa xuân, cách đây mười hai năm, Eduard đi ra ngoài để gửi một bức thư, nhưng chẳng thấy quay về. Kể từ đó chúng tôi không có thông tin gì về cậu ấy nữa. Bức thư được gửi từ thành phố Sydney, nước Úc. Tôi bóc thư ra đọc:
            “Bác Paul yêu quý!
            Cháu nhờ bác gửi cho cháu chiếc áo khoác mùa hè màu xám. Cháu rất cần nó vì ở đây thời tiết khá lạnh, nhất là vào ban đêm. Trong túi áo bên trái có cuốn sách “Cẩm nang về các loại nấm”. Bác có thể giữ lại cuốn sách đó cho mình vì ở đây không có các loại nấm ăn. Cháu cám ơn bác.
            Cháu của bác. Eduard”.
            Tôi thông báo với vợ:
            - Thư của cháu Eduard.
            Vợ tôi lúc ấy đang chăm chú vào cái dụng cụ nấu nước và định luộc trứng bằng bình cắm hoa.
            - Thế cậu ấy viết gì?
            - Cậu ấy cần chiếc áo khoác mùa hè màu xám và ở Úc không có nấm ăn.
            - Nếu vậy cậu ấy có thể ăn món khác thay cho nấm. - Vợ tôi nói.
            - Đúng thế. - Tôi thừa nhận.
            Sau đó người thợ lên dây đàn dương cầm đến để chỉnh đàn. Đó là một người đàn ông nhút nhát, đãng trí, ngại tiếp xúc, va chạm, nhưng lại rất dễ mến và có năng khiếu âm nhạc. Ông ta không chỉ biết chỉnh đàn dương cầm mà còn có thể sửa các loại đàn dây và dạy thổi sáo. Tên ông ta là Koolhaas. Khi tôi đứng dậy khỏi bàn ăn thì từ phòng bên đã vang lên các hòa âm của ông ta.
            Tôi thấy trên móc áo có chiếc áo khoác mùa hè màu xám. Có nghĩa là vợ tôi đã tìm thấy nó trong kho đồ cũ của gia đình. Tôi rất ngạc nhiên, bởi lẽ bình thường cô ấy chỉ làm điều gì khi việc ấy có làm hay không làm cũng chẳng sao. Tôi cẩn thận gấp chiếc áo lại và đi ngay đến bưu điện gửi sang Úc. Mãi sau này, tôi mới nhớ là mình đã quên lấy ra cuốn sách Cẩm nang về các loại nấm. Nhưng quả thật, tôi cũng chẳng cần nó lắm.
            Tôi đi dạo một lát và khi về đến nhà thì bắt gặp người thợ lên dây đàn và vợ tôi đang lục tung các ngăn tủ và mọi ngóc ngách trong nhà để tìm cái gì đó.
            - Anh giúp được gì không? - Tôi hỏi.
            - Ông Koolhaas bị mất chiếc áo khoác. - Vợ tôi thông báo.
            - A-a! - Tôi thốt lên và ngay lập tức nhận ra mình đã nhầm lẫn. - Anh vừa gửi nó sang Úc rồi.
            - Tại sao lại gửi sang Úc? - Vợ tôi kinh ngạc.
            - Anh nhầm. - Tôi giải thích.
            - Thôi vậy, xin phép ông bà. - Ông Koolhaas lẩm bẩm và định ra về.
            Có vẻ như ông ấy cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên cho lắm. Tôi liền bảo:
            - Xin ông hãy đợi một lát. Tôi sẽ lấy cho ông chiếc áo của cháu tôi.
            Tôi vào kho chứa đồ, lục lọc trong những chiếc va li cũ và lấy ra chiếc áo khoác mùa hè màu xám. Dĩ nhiên trông nó rất nhàu nhĩ - thì đã nằm trong va li suốt mười hai năm rồi còn gì nữa - song vẫn còn tốt.
            Trong lúc vợ tôi là lại chiếc áo cho thẳng thớm, tôi cùng ông Koolhaas nhâm nhi ly rượu vang và ông ấy kể cho tôi nghe về những nhạc cụ kỳ lạ mà ông đã có dịp chỉnh sửa. Sau đó ông mặc chiếc áo khoác, chào tạm biệt rồi ra về.
            Vài ngày sau, chúng tôi nhận được một gói bưu phẩm. Trong đó có gần một cân nấm trắng và hai bức thư. Bức thư thứ nhất viết:
            “Ngài Holle kính mến (Holle là tên tôi).
            Tôi xin chân thành cám ơn ngài về cuốn sách “Cẩm nang về các loại nấm” mà ngài đã tế nhị bỏ vào trong chiếc áo khoác tặng tôi. Và để bày tỏ lòng biết ơn, tôi xin được gửi tặng ngài thành quả của chuyến hái nấm đầu tiên trong đời tôi. Hy vọng ngài sẽ thích. Trong chiếc túi thứ hai tôi thấy có một bức thư, có lẽ không phải gửi cho tôi, bởi vậy tôi xin gửi lại cho ngài.
            Kính thư. A. M. Koolhaas”.
            Bức thư thứ hai hóa ra chính là bức thư mà người cháu của tôi đã định gửi đi. Có lẽ nó đã bỏ quên cùng với chiếc áo khoác. Bức thư gửi cho một người nào đó có tên là Bernard Haaze, hình như là bạn của nó. Tôi bóc thư ra, trong đó có một chiếc vé xem hát và mẩu thư:
            “Bernard thân mến!
            Mình gửi cho cậu chiếc vé xem vở diễn “Tanheizera” vào tối thứ hai. Mình không thể xem được vì mình cần phải ra đi, chí ít là để thoát ra khỏi cuộc sống trì trệ này. Nếu có thể, cậu hãy đi xem nữ ca sĩ nổi tiếng Smidt Golveg trong vai Elizavet. Mình nhớ là cậu rất hâm mộ cô ấy.
            Chào cậu. Eduard”.
            Bữa trưa, trên bàn ăn của chúng tôi có món súp nấm.
            - Em về đã thấy món súp nấm trên bàn rồi. Ở đâu ra thế? - Vợ tôi ngạc nhiên.
            - Ông Koolhaas gửi đến đấy.
            - Ông ấy quả là lịch thiệp! Nhưng ông ấy có mang ơn mình gì đâu?
            - Đúng thế, chẳng mang ơn gì cả. - Tôi gật đầu. - Nhưng dẫu sao thì cũng rất lịch thiệp.
            - Hy vọng không phải là nấm độc. À, mà em vừa nhìn thấy chiếc vé xem hát. Vở gì thế?
            - Chiếc vé xem hát mà em vừa thấy là của vở diễn “Tanheizera”. - tôi giải thích. - Nhưng đã diễn từ mười hai năm trước rồi!
            - Thôi cũng chẳng sao, - vợ tôi nói. - Đằng nào thì em cũng không thích “Tanheizera”.
            Còn sáng hôm nay, chúng tôi lại nhận được một bức thư nữa của Eduard. Nó đề nghị gửi cho nó một cây sáo đồng giọng teno, vì nó thấy trong túi áo khoác có cuốn sách giáo khoa dạy thổi sáo và nó muốn học thử xem sao, nhưng ở Úc không có loại sáo đó. Nó còn viết “cháu không hiểu tại sao chiếc áo khoác lại dài hơn so với cháu, hay là cháu bị lùn đi”.
            - Anh lại nhận được một bức thư nữa của Eduard. - Tôi thông báo với vợ lúc đó đang loay hoay với chiếc máy xay cà phê.
            - Nó viết gì thế?
            - Nó bảo, ở Úc không có loại sáo đồng giọng teno.
            - Thì nó có thể học chơi một loại nhạc cụ khác nào đó.
            - Đúng thế. - Tôi đồng ý.
            Vợ tôi là một người trí tuệ minh mẫn, thậm chí tôi có thể nói là sáng suốt nữa. Những nhận xét của cô ấy đôi khi rất lạnh lùng, nhưng không thể không thừa nhận chúng luôn đi đúng trọng tâm của vấn đề.
2/4/12

Mẹ tôi, người mẹ tốt nhất thế gian - Lý Diệm Hà

Mẹ tôi, người mẹ tốt nhất thế gian
Lý Diệm Hà 
Ngày 5/9/1997, ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở khoa Toán trường Đại học Bắc Kinh. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những sợi mì này có được do mẹ đã đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ nhận đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân. 
Bưng bát mì, mắt tôi trào lệ. Buông đũa, tôi quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân mẹ sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao, tôi chẳng biết nói gì... Nhà tôi vô cùng nghèo khó ở làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, thành phố Thiên Tân.
Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, các món nợ nần trong nhà lớn dần theo thời gian, năm tháng. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, mẹ lại phải đi vay mượn rất nhiều để trang trải học phí cho tôi. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì đã bị bỏ đi, còn ngắn tũn. Tôi phải dùng dây buộc nó cũng một cái que làm cán để viết. Lại còn dùng một cái dây chun thay tẩy để xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó. Mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc nuốt nước mắt đi vay vài hào bên hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi. Nhưng mẹ luôn vui vẻ vì bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Được mẹ khích lệ, tôi càng học càng ham và thực sự không hiểu trên cuộc đời này còn gì vui sướng hơn là học. Tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm từ trước khi vào tiểu học. Vào tiểu học, tôi bắt đầu tự học chương trình toán lý hoá của bậc trung học thổ thông; Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà. 
Nhưng thật buồn, khi tôi báo tin vui, nét mặt bố mẹ tôi vẫn không hết những nét khổ đau. Bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang cận kề thế giới bên kia, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười ngàn Nhân dân tệ. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt chan hòa suốt cả ngày. Đến tối, tôi nghe thấy nhà ngoài có tiếng cãi cọ. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng bố tôi không chịu. Ồn ào làm ông nội tôi nghe thấy. Bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ tang ông nội, gia đình tôi lại mắc thêm vài ngàn tệ nợ nần. 
Không dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất tờ "Giấy báo nhập học" thật kỹ vào trong gối, hàng ngày ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và bố cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Bố sắt mặt lại, hỏi mẹ: "Bà bán con lừa con rồi sao? Bà bị dở hơi không? Sau này lấy gì kéo xe? Lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?". Hôm đó mẹ đã gào khóc, dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để át lại bố: "Con mình đòi đi học thì có gì sai? Nó là đứa duy nhất huyện này thi lên được trường số 1 của thành phố, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho con tôi đi học..." 
Tôi thật sự muốn quỳ dập đầu trước mẹ. Mẹ đưa tôi 600 tệ bán lừa. Tôi được học, mà còn học tiếp, thì mẹ ơi, mẹ sẽ khổ sở biết bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu nữa vì con?
Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy bố tôi gầy guộc, da vàng bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ lặng lẽ bảo tôi: "Sơ sơ thôi, bị cảm, sắp khỏi rồi". Tình cờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của bố, thì nhận ra đó là thuốc ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thư. Tôi khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào. Mẹ nói, từ sau khi tôi đi học, bố bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên. Mẹ vay sáu nghìn tệ đưa bố lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là ung thư đường ruột. Bác sĩ yêu cầu bố phải mổ gấp.  Mẹ đang định đi vay tiền tiếp, nhưng bố kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa! Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp thủ công và vất vả nhất trên đời để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to... Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối còn chảy máu vì quỳ, bước đi cà nhắc... Thương mẹ khôn xiết, tôi vừa khóc vừa chạy về nhà, gọi mẹ: 
"Mẹ ơi mẹ, con không đi học nữa đâu...". Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ có 60 đến 80 tệ (khoảng 150.000 VND), thật thảm hại khi so với những người bạn học đồng niên, mỗi tháng họ có tới 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng cắc. Có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm dăm ba chục. Mà bố tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa. Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì ăn liền với giá bán buôn. Rồi cứ cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ 6km tới một xưởng in ngoài thị trấn để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. Cắt tóc nam ở Thiên Tân rẻ nhất cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn. Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi. Chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra. Chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa...) để thay xà phòng. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Tôi yêu mẹ tôi biết nhường nào. Lúc mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi hoa mắt, nhức đầu vì chẳng hiểu gì. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, mẹ chỉ cười hiền lành bảo: "Mẹ vẫn biết con là đứa trẻ khổ cực nhất, nhưng mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa con trai ạ."
Mẹ ơi, con sẽ thành công 
Tôi có tật nói lắp, người ta bảo học tiếng Anh cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường lấy một hòn sỏi ngậm vào miệng, rồi luyện tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng kiên trì. Nửa năm qua đi, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn, lưỡi tôi cũng đã mềm hơn, tiếng Anh của tôi đứng thứ 3 trong lớp. Tôi vô cùng biết ơn mẹ, lời mẹ đã động viên tôi vượt qua khó khăn trong học tập. Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic Vật lý toàn Trung Hoa. Đoạt Cup rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới. Tôi không ngăn được khát khao của mình, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Nhưng chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, bỏ ăn. Dù đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng. Về trường, tôi ngồi nghe các thầy phân tích nguyên nhân thất bại, nguyên nhân là: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng. Tôi tham lam quá chăng!?
Nếu tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định thắng. Tôi hiểu ra điều đó. Tháng 1/1997, cuối cùng tôi đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia. Cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói ghém sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ, sẵn sáng lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và cũng là thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo cũ của người khác cho, những thứ áo quần lộ cộ màu sắc, kích cỡ lủng củng, liền mở tủ áo của tôi, chỉ vào những áo những quần lùng nhùn vá víu và hỏi: "Quần áo của con thế này đây ư, Kim Bằng?" 
Tôi đáp: "Thầy ơi, con không sợ người khác cười con nghèo đâu! Mẹ con vẫn bảo "phúc hữu thi thư khí tự hoa" (có nghĩa là, trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa), con mặc những thứ này gặp tổng thống Mỹ Bill Clinton cũng chẳng thấy ngượng." 
Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần 38 khai mạc. Chúng tôi thi liên tục trong năm tiếng rưỡi đồng hồ, từ 8h30 phút sáng tới 14h00 chiều. Trong buổi công bố kết quả vào hôm sau, đầu tiên tôi không muốn nghe thấy tên mình được công bố ở vị trí Huy chương Đồng; Sau đó đến lượt công bố Huy chương Bạc, không phải tôi. Cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên và thứ hai không phải tôi, người thứ ba - tên tôi được đọc dõng dạc. Tôi khóc lên vì vui sướng, tôi tự nhủ: "Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!" 
Ngay chiều hôm đó, Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học. Ngày 1/8, chúng tôi trở về trong vinh quang. Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học TQ tổ chức lễ đón thật long trọng. 
Lúc đó, tôi rất muốn về nhà, muốn sớm được gặp mẹ, muốn được chính tay đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ. Mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã băng đêm về nhà. Người mở cửa là bố, nhưng người ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ.
Dưới bầu trời đầy sao, mẹ đã ôm tôi rất chặt! Ôi mẹ của con mới vĩ đại làm sao, thân thương biết nhường nào!
Lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, tôi khóc nhẹ nhõm và hạnh phúc. 
Ngày 12/8, trường Trung học số 1 của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng các quan chức ngành giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này: "Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình dị, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã nâng bước tôi suốt cả cuộc đời. 
Tôi bỗng nhớ...
Năm lớp 10, tôi muốn mua cuốn "Đại từ điển Anh-Trung" để học tiếng Anh, không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi. Sau bữa cơm sáng, mẹ mượn một chiếc xe cút kít, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn 40km để bán. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ. Lúc đó, đói cồn cào, chỉ mong có ai mua cho hết rau. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền, tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo mua sách trước, đó mới là mục đích chính. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8,25 tệ, mua sách rồi còn 11,75 tệ. Mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ còn lại mẹ bảo cất đi để làm học phí. Ăn hết hai cái bánh bột nướng, đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mày chóng mặt. Ôi chao, lúc này tôi mới nhớ ra đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ bảo: "...Mẹ ít học, nhưng mẹ nhớ thuở ấu thơ được thầy giáo dạy cho một câu nói của Gorki: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh... chắc chắn con sẽ đỗ". 
Khi nói, mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn xa xăm ra con đường đất ngoài kia, như thể con đường ấy dẫn tới tận Thiên Tân, tới Bắc Kinh. Nghe mẹ nói vậy, tôi cũng không thấy đói nữa, chân cũng bớt chồn hơn... Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của cả đời tôi".
Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt ướt đẫm. Tôi quay người về phía mẹ tôi tóc đã bạc nhiều, cúi người kính cẩn trước người mẹ vĩ đại của tôi, người thày giáo giỏi nhất cuộc đời tôi.
1/4/12

Có những đêm chờ sáng - Rêu

Có những đêm chờ sáng
Rêu

Em thường có những đêm chờ trời sáng
muốn buông xuôi trốn chạy cái riêng mình
lại sợ mai ngày hoang mang đối diện
với nỗi buồn là khoảng trống nơi tim.

Em thường có những đêm nằm thao thức
vạt gió trêu ngươi ngỡ bước người về
loáng bóng trăng gầy trôi qua rất nhạt
uổng thời gian chưa dệt kịp câu thơ..

Em thường có những đêm sầu trở gối
ngó lên trời đếm mỏi cánh sao thưa
và giả sử kia là ngôi sao ước vọng
lòng hỏi lòng, người chắc đã yêu chưa?

Cố khép mắt đêm này rồi đêm nữa..
gió trăng ơi đừng động chỗ em nằm
em mệt lả những đêm dài mộng mị
chăn chiếu giờ.. nghe lạnh cõi trăm năm.

01.04.2012