Cái Va Li Bí Mật
Sơn Nam
Ở đây là hòn Móng Tay, cách bờ biển hơn
hai mươi cây số ngàn. Tàu ngoại quốc thỉnh thoảng chạy qua lại ngoài xa xa. Ghe
đánh lưới, ghe buôn lậu ít khi nào ghé vì trên hòn chỉ có một ngọn suối quá nhỏ,
cạn khô khi trời vừa trở nắng.
Ấy
thế mà Hai Khoánh ra đây, sống lây lất từ bốn tháng trường. Anh ta kéo chiếc
ghe lên bãi, che giấu cẩn thận trong bụi cây đầy gai. Cái ngày trở lại đất liền,
sống chung với xã hội loài người còn xa lơ xa lắc. Kẻ tù vượt ngục dường như sẽ
được ân xá, nếu hắn trốn thoát vòng tập nã của nhà nước Pháp suốt hai mươi năm.
Hồi bị giam ở khám đường Rạch Giá, Hai Khoánh nghe một bạn tù giảng giải như vậy.
Hai Khoánh chưa vội tin vì người bạn ấy nào phải quan toà hay thầy kiện mà rành
luật lệ.
-
Tại sao nhà nước ân xá nếu mình trốn được hai chục năm?
Người
bạn đáp:
-
Vì suốt thời gian ấy mình ân hận, ăn không ngon, ngủ không yên. Nếu mười bảy,
mười tám năm trôi qua mà mình còn hung bạo, cố lỳ thì tới năm thứ mười chín,
hai mươi mình cũng sám hối...
Nghe
lời hữu lý ấy, Hai Khoánh cương quyết tẩu thoát. Thừa lúc bọn lính mã tà dẫn đi
nhổ cỏ trong vườn bông của ông chánh chủ tỉnh, anh ta cảm ơn gió, chạy nhanh ra
bãi biển, cưỡi chiếc ghe lưới, xổ buồm... nhờ gió đưa ra hòn Móng Tay. Lâu ngày
sanh buồn bực, anh ta lén vô bờ, ăn trộm gà vịt, xúc gạo của dân miền duyên hải
để rồi trở ra hòn Móng Tay, nơi hoang vu chẳng một bóng người.
Một
sáng, khi thức dậy, Hai Khoánh nằm trên vồ đá khá cao chợt thấy có một chiếc
ghe chạy thẳng vào bãi. Từ dưới ghe, một người cao lớn, mặc quần áo đen bước
lên, tay xách vật gì giống như cái va li. Người nọ day lại, vẫy tay, tức thời
chiếc ghe nọ quay mũi chạy trở về mất dạng phía đất liền. Hai Khoánh rất đỗi
vui mừng. Ngưòi nọ nhứt định không phải là mật thám hay lính mã tà theo dõi
tung tích của mình! Chắc hắn ta buôn lậu, bị tàu “đoan” rượt nên lên hòn Móng
tay để ẩn thân, giấu mớ vàng hoặc á phiện. Không bỏ lỡ cơ hội, Hai Khoánh lập tức
theo dõi kẻ lạ mặt. Hắn theo con đường mòn duy nhất mà Hai Khoánh đã dọn sẵn. Ðộ
nửa giờ sau, nhờ rình núp sau tảng đá khá to, hai Khoánh nghe tiếng lá khô xào
xạc. Hắn lú ra, gương mặt mệt nhọc, đưa hai bàn tay ôm cái va li trước ngực.
-
Phải là vật nặng đôi ba chục kí lô! Hắn trông lạ quá, mắt xếch, cườm tay xăm hình
con rồng. Từ hồi nào tới giờ, mình chưa gặp hắn lần nào!
Bỗng
dưng khách lạ dừng bước. Hai Khoánh nín thở, ngỡ rằng hắn đã đánh hơi, hồ nghi
có kẻ đang rình! Nhưng Hai Khoánh lầm to. Khách lạ cúi mặt, bước vòng quanh để
khỏi đạp lên một con cuốn chiếu. Con cuốn chiếu thu mình, khoanh tròn như khu ốc.
Hắn nhặt nó, đưa lên mũi hửi rồi khom lưng thả nó trên chiếc lá khô.
Hắn
leo lên ngọn cây thao lao, một tay vịn nhánh cây, một tay nắm quai chiếc va li.
Hai Khoánh hiểu rằng hắn quan sát địa thế, tìm nơi an toàn nhứt. Rồi hắn trở xuống
đất, cố sức trèo lên gành Ðá Trắng.
-
Ðược rồi! Mình đi nom theo, hắn sẽ giựt mình. Hắn như con cọp hoang. Trước khi
đánh cọp, mình nên biết cọp làm ổ chỗ nào rồi mới “điệu hổ ly sơn.”
Chờ
khi hắn khuất dạng, Hai Khoánh trở về động đá dưới sườn đồi, lục lạo mớ cơm nguội
còn sót trong nồi đất. Ðêm đến, anh ta nằm co chịu lạnh, không dám đốt lửa...
Hôm
sau, Hai Khoánh mặc quần rách, ở trần, lên bờ suối hái mớ rau má, chặt ống tre
lồ ô để đựng nước.
Từ
phía sau lưng, Hai Khoánh chợt nghe tiếng gọi:
-
Chú em ơi!
Ngưòi
vừa gọi chính là “hắn”. Hắn cũng ở trần, ngồi dựa lưng vào bó củi khô. Hai
Khoánh hỏi nhanh:
-
Ủa! Ai đó?
Rồi
lộ vẻ sợ sệt, để khách lạ đừng chạy đi chỗ khác. Hắn đưa tay ngoắc, với thái độ
đàn anh kẻ cả, nói đúng hơn là hắn tự phong chức chúa đảo.
Khách
lạ mỉm cười:
-
Vậy mà tôi tưởng ở hòn Móng Tay này chẳng có ai, trừ tôi ra.
Hai
Khoánh gật đầu:
-
Tôi cũng nghĩ như “đại ca” vậy. Dè đâu còn người thứ hai là “đại ca”. Ðại ca tới
đây hồi nào? Lập nghiệp bao lâu năm ở sườn đồi phía mặt trời lặn hay phía mặt
trời mọc? Đại ca có vợ con gì chưa?
Khách
lạ bèn móc trong túi đem ra gói thuốc rê, vét mớ thuốc nát, chia cho Hai Khoánh
một điếu. Khách giới thiệu:
-
Tôi vừa giết vợ...
Rồi
lẩm bẩm, nhìn chòng chọc vào mắt Hai Khoánh:
-
Giết vợ rồi giết luôn con...
Hai
Khoánh kêu lên:
-
Ngán quá! Vợ con của ai?
-
Của tôi chớ của ai? Ông già vợ tôi đánh mõ, tri hô... Nửa đêm, xóm giềng xách gậy,
xách hèo tới vây bắt. Tôi ra bờ biển, mướn ngưòi đưa ra ngoài hòn để ở tù theo
ý muốn của mình. Còn chú em?
-
Dạ, tôi ăn cắp vặt trong xóm vì túng tiền, thua cờ bạc, nợ nần kêu réo. Chủ nợ
thưa tôi. Tôi ở khám Rạch Giá, chạy ra đây.
Khách
lạ nhướng mắt:
-
Giỏi thiệt. Nhưng khi trốn, chú em có giết bạn tù hoặc lính của tù không.
-
Không.
Khách
đưa tay vỗ nhẹ lên đầu Hai Khoánh:
-
Xin lỗi. Thế là chú em... phải là em nuôi của tôi. Tội của chú em nhẹ quá. Bất
quá, nhà nước Tây chồng án. Hồi đó chú em bị kêu án mấy tháng?
-
Hai năm.
-
Mai chiều, rủi ro bề gì chú em ở bốn năm, chồng án gấp đôi. Còn tôi đây thì...
Bấy
giờ, Hai Khoánh tung ra luận điệu: nếu trốn thoát suốt hai mưoi năm thì kể như
trắng án. Khách lắc đầu:
-
Chú em ở đâu?
Hai
Khoánh đáp thật tình, cố ý mời khách lạ đến hang đán của anh ta để rồi sau đó,
anh ta đến thăm viếng xã giao, dò xét cái xào huyệt... có chiếc va li quá nặng
của khách. Vừa bước vào hang khách mừng rỡ quá mức, thấy món gì cũng thèm.
-
Chuối chín hả? Cho vài trái coi! Chuối ở đâu vậy? Tôi mới trốn ra đây vài bữa,
cơm gạo, áo quần, thức ăn.... món gì cũng thiếu. Còn thứ gì ăn được nữa không?
Hai
Khoánh cố che giấu sự khinh bỉ đối với anh chàng “đại ca”nhỏ nhen ấy. Nhưng gây
gổ, giảng luân lý với kẻ giết đàn bà, giết con nít là điều ngu xuẩn, hơi đâu khảy
đờn vào tai trâu, múc nước đổ lá môn. Phải tương kế tựu kế, áp dụng triệt để
câu quân tử tham tài, tiểu nhân tham thực:
-
Dạ, tôi vừa gài bẫy, bắt được một con gà rừng, buộc giò nó ngoài gốc cây...
-
Cho tôi mượn luôn.
Hai
Khoánh chẳng tài nào chịu đựng nổi con người khả ố đó nữa:
-
Ðể tôi ăn chớ! Nếu thèm, đại ca chia nửa con.
-
Tôi muốn ăn bộ đồ lòng gà.
Vừa
nói, khách lạ vừa bước tới, vặn họng con gà rừng, rút trong lưng quần đem ra một
“cây dao con chó,” mổ bụng gà, cắt gan, ruột và thịt nạc ở đùi.
Khách
từ giã. Hôm sau khách lại tới viếng Hai Khoánh:
-
Còn gạo không? Chừng nào chú em vô trong bờ mua gạo?
Hai
Khoánh đáp:
-
Dạ, sáng mai.
-
Nhớ kiếm cho tôi một hộp sữa bò, một cân bột nấu chè ăn chơi.
Hai
Khoánh cau mày:
-
Dạ, tôi ăn cắp gạo của thiên hạ. Sữa bò và bột là những món phải mua tại tiệm
quán, lúc ban ngày, với tiền bạc sòng phẳng.
Khách
lạ gãi lưng sột sột:
-
Dễ quá. Tôi chỉ chỗ dùm chú em... Ở xóm Rạch Giồng, tiệm quán bán tới khuya, tư
bề vắng vẻ. Tôi thèm sữa bò quá chừng quá đỗi. Chú em phải đi gấp. Bằng không
thì đừng vác mặt trở về hòn Móng Tay này. Cực chẳng đã, tôi phải nhờ chú em. Chẳng
lẽ tôi lén về để họ nhìn mặt, bắt bỏ tù mãn đời. Tôi muốn sống chừng... mười
lăm năm nữa... Ờ! Ðúng mười lăm năm nữa là đủ.
*
* *
Hai
Khoánh xuống ghe, trương buồm... bao nhiêu công chuyện quan trọng to tát mà anh
ta cần thực hiện! Rõ ràng “khách lạ” nọ là kẻ gian mà không ngoan. Hắn thú nhận
đã giết vợ con, quê quán ở Rạch Giồng, người ở Rạch Giồng có thể nhìn mặt hắn.
Va li của hắn chứa một số vàng bạc hoặc á phiện lậu dù cho cho hắn... ăn chơi đến
mưòi lăm năm ròng rã.
Vừa
tới Rạch Giồng, Hai Khoánh đến tiệm tạp hoá, uống liên tiếp hai chén rượu. Việc
sát nhơn của “khách lạ” còn nóng hổi, dân chúng bàn tán xôn xao. Ðại khái, “khách
lạ” nọ tên là Nguyễn Văn Hi, làm mướn cho ông chủ Tân, nhờ ăn nói có duyên, tên
Hi tư tình với cái gái chủ nhà. Cô gái nọ mang thai. Ðể cứu vớt danh giá cho
dòng họ, chủ Tân đem con gái gả cho một phú thương, tuổi hơn năm chục, đã chết
vợ. Tên Hi buồn rầu, bỏ xứ đi bặt tăm tích.
Bốn
năm sau, tên Hi lại xuất hiện, giết người tình và đứa bé.
Hai
Khoánh hỏi người chủ tiệm:
-
Nhà ông chủ Tân gần hay xa?
-
Cái nhà ngói ba căn hai chái kia kìa!
-
Thằng Hi hèn hạ quá.
Chủ
quán nói:
-
Nó hèn nhưng nó có tài cao bay xa chạy nên nó cứ sống nhăn hoài. Nghe đâu ông
chủ Tân đặt giải thưởng năm trăm đồng cho ai điểm chỉ nơi tên Hi ẩn náu.
Thế
là Hai Khoánh vững bụng. Anh ta sẽ điểm chỉ tên Hi để lãnh thưởng, để loại trừ
một kẻ giết vợ giết con, để thanh toán một người bạn quá tham ăn, bóc lột kẻ yếu
thế. Hai Khoánh lẩm bẩm:
-
Nếu không mang tội giết người, tên Hi còn hung dữ gấp mười. Mình làm một việc...
nhơn đạo, đoái công chuộc tội.
Ðến
nhà ông chủ Tân. Hai Khoánh lân la, tự giới thiệu rồi trình bày kế hoạch. Chủ
Tân mừng quýnh vì Hai Khoánh tả rất đúng hình dáng kẻ sát nhân, mắt xếch, có
xăm nơi bắp tay. Chỉ có một chi tiết khó hiểu: chiếc va li đựng vàng hoặc á phiện
lậu, đã cho tên Hi sống trên nhung lụa suốt mười lăm năm.
Chủ
Tân nói rỉ vào tai Hai Khoánh:
-
Tôi hứa chia phần nửa cái va li á phiện đó với chú em. Hạ được thằng Hi, tôi hả
dạ rồi. Ðiều quan trọng là đừng cho ai biết nó mang cái va li kẻo thấu tai chủ
quận, chủ tỉnh. Tôi gởi chú em đi Châu Ðốc, cuốc rẫy tại Núi Dài, nơi nhà người
bà con. Ở Núi Dài, dân trên núi sống thảnh thơi, Tây tà chẳng bao giờ dám tới
xét giấy thuế thân. Với phân nửa va li á phiện, chú em sẽ mua đất, trở thành điền
chủ.
Hai
Khoánh cau mày:
-
Tôi chỉ buồn buồn... Thiên hạ sẽ đàm tiếu, họ khinh khi cho tôi là đứa phản bạn!
Chủ
Tân cười dòn dã:
-
Chú em kết bạn, uống máu, ăn thề với nó hồi nào mà sợ thần thánh... Hoặc lương
tâm cắn rứt? Dễ quá, lúc về già, chú em cất một cái am ở Núi Dài, tha hồ ăn năn
xám hối. Vả lại, đạo Phật, đão Lão đều dạy mình trừng trị kẻ gian tà. Nhà nước
Tây bắt Hi bỏ tù vài mươi năm chớ đâu chặt đầu, xử bắn nó.
Tối
hôm ấy, Hai Khoánh vạch ra một kế hoạch khá tinh vi. Tên Hi luôn luôn đứng trên
gành Ðá Trắng để theo dõi những người lạ mặt bước chân lên hòn Móng Tay. Hai
Khoánh về hòn trước một mình, mang theo đậu xanh, sữa hộp và thuốc hút.
-
Nó là đứa ham ăn. Gặp đồ ăn, nó mừng quýnh. Sẵn dịp, tôi lên chốt hòn, thăm viếng
sào huyệt của nó. Ông dẫn bọn gia nhân tới sau, cho ghe cặp bãi lúc ban đêm.
Ông cứ tới hang đá của tôi. Dọc đường, hễ đi được năm sáu bước là tôi bẻ một
vài đọt cây để làm dấu. Phải tìm cho được cái va li của nó.
Chủ
Tân nói:
-
Nghĩa là tối mai tôi ra hòn. Sáng mốt, tôi theo dấu, tới hang của chú em rồi
lên gành Ðá Trắng, sào huyệt của thằng Hi... Tôi nói thêm một điều này cho chú
em vui mừng: Thằng Hi không biết võ nghệ. Nó chỉ có tài phóng dao mà thôi.
Phóng dao chỉ có kết quả khi nào hai người đứng cách xa. Chú em nhớ coi chừng
cây dao nó giấu đâu đó. Tôi mang theo hai người võ sĩ, bạn cũ của thằng Hi. Hồi
xưa, thằng Hi đánh lộn, vật lộn thua xa hai người đó.
*
* *
Hai
Khoánh ngồi trong hang mà chờ đợi. Anh ta đoán chừng: ông chủ Tân và bọn gia
nhân đã có mặt tại hòn Móng Tay từ hồi hôm. Tại sao tên Hi chưa rời gành Ðá Trắng
xuống đây? Hay là cơ mưu đã bị tiết lộ?
Ngoài
cửa hang, kia... tên Hi đứng thấp thoáng. Hai Khoánh mừng quýnh, kêu to:
-
Anh Hi!
Tên
Hi trợn mắt trong một thoáng rồi giữ vẻ mặt hồn nhiên bước vào. Hai Khoánh nghe
trống ngực đánh thình thịch, nhận rằng mình đã vô ý, gọi hắn đích danh, hắn có
thể nghi ngờ.
Vừa
vào hang, hắn hỏi nhanh:
-
Sữa bò đâu? Tôi thèm thứ đó quá.
Hai
Khoánh trao cho hắn hai hộp sữa:
-
Lát nữa mình khui ra, uống mỗi đứa một chén, bổ khoẻ lắm.
-
Ðâu được. Mình đem sữa bò lên gành Ðá Trắng dự trữ phòng khi đau ốm. Sữa bò là
vị thuốc. Sao! Ở Rạch Giồng, thiên hạ làm ăn vui vẻ chớ? Có ai nhắc tới tên tôi
không?
-
Dạ, tôi lén ăn trộm rồi về, sợ ngoài này đại ca nóng lòng trông đợi. Ðói bụng
quá. Ðại ca có món gì ăn sốt dẻo không?
-
Có gì đâu! Bây giờ mời chú em lên gành Ðá Trắng thăm mấy “nhà cửa” của tôi một
lần cho biết. Tụi mình sẽ uống một vài hớp sữa cho khoẻ.
Hai
Khoánh mừng ra mặt. Anh ta đi theo sau tên Hi. Thỉnh thoảng, Hai Khoánh với
tay, ngắt một vài đọt cây, bỏ lại sau lưng để làm dấu cho chủ Tân theo dõi.
Ðến
cách gành Ðá Trắng chừng mười bước, tên Hi ngồi xuống:
-
Chú em mệt chưa?
Hai
Khoánh sanh nghi “phải chăng hắn rủ mình lên thủ tiêu cho gọn?”
Tên
Hi xăn tay áo, cầm hai hộp sữa bò, nhìn nhãn hiệu rồi cười giòn:
-
Chú em đừng sợ sệt. Lát nữa tôi chết.
Hai
Khoánh hốt hoảng:
-
Dạ, đại ca đừng nói bậy.
-
Chú em ngồi xuống. Chú em làm gì mà biết tôi tên Hi? Ðừng nói dối với kẻ sắp chết
như tôi. Chú em phản tôi, kêu thằng cha chủ Tân ra đây hả?
Nói
xong, tên Hi lắc đầu, tiếp lời:
-
Sao, chủ Tân nói sao? Nó nói tôi giết ai?
Hai
Khoánh cúi mặt, im lặng.
Tên Hi rút cây“dao con chó” nạt to:
-
Nói thiệt đi. Chủ Tân nói tôi giết ai?
-
Dạ... dạ... nó nói đại ca giết vợ rồi giết luôn đứa con mới ba tuổi.
Tên
Hi cười sặc sựa:
-
Chú em là... đồ con nít, bày mưu điệu hổ ly sơn, để chiếm đoạt cái va li hả? Chừng
nào chủ Tân tới đây? Nói mau...
-
Dạ, lát nửa ổng tới.
Rồi
Hai Khoánh chắp tay lạy:
-
Em có tội đáng chết. Xin đại ca trốn tránh đi. Em chịu trách nhiệm với chủ Tân.
Thà là nhà nước Tây bắt em bỏ tù chồng án. Em đâu dám để họ bắt sống đại ca.
Tên
Hi chẳng cần nghe lời năn nỉ của Hai Khoánh. Hắn trèo lên gành đá, nép mình rồi
trở xuống:
-
Nó tới bây giờ, nó đi với hai thằng thầy nghề võ. À! Lát nữa chú em dẫn nó qua
cái hang của tôi. Ðây nè!
Hai
phút sau. Hai Khoánh trố mắt, thấy một đứa bé mạnh khoẻ chừng bốn tuổi đang bú
tay. Trong hang, có manh chiếu nhỏ, cái gối nhỏ.
Thằng
bé chạy lại ôm chân Hi.
Tên
Hi hôn nó rồi trao cho Hai Khoánh.
Hai
Khoánh run tay:
-
Trời!
-
Ðừng cãi lời tao. Nó nằm trong cái va li của tao đó. Nó là cục vàng, là cục á
phiện lậu của tao đó. Ðem nó trả lãi cho chủ Tân. Nó ăn cực không được. Nó đòi
ăn chuối chín, ăn gan gà. Suốt đêm, nó dứt sữa rồi mà còn đòi bú...
Nói
xong, tên Hi chép miệng:
-
Hai Khoánh mầy tệ quá.
Hai
Khoánh ôm mặt khóc. Tên Hi tiếp lời:
-
Khóc làm gì? Mỗi lần mầy học khôn như vầy là một phen giết hại thiên hạ. Tao đi
đây...
*
* *
Ðoàn
người trở xuống sườn núi. Ông chủ Tân bồng đứa cháu ngoại, hai tên võ sĩ cúi đầu.
Hai Khoánh nhìn dáo dác ra phía sau.
Bỗng
nhiên, Hai Khoánh ôm ngực, ngã xuống.
Chủ
Tân la hoảng:
-
Nằm xuống! Nó tấn công.
Tên
võ sĩ thứ nhứt đỡ Hai Khoánh:
-
Thằng Hi trổ tài phóng dao bay! Giỏi thiệt.
Chủ
Tân nói gắt:
-
Thằng Hi! Nó là đồ chó chết. Trời hại nó.
Tên
võ sĩ thứ nhì trợn mắt:
-
Ðừng chửi thằng Hi. Kìa... Nó chứ ai?
Từ
trên gành Ðá Trắng, một bóng người lảo đảo rơi tỏm xuống biển sâu thẳm.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét
namkts57@gmail.com