Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Alberto Moravia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Alberto Moravia. Hiển thị tất cả bài đăng
13/3/12

Hạnh phúc sẽ rơi vào anh - Alberto Moravia

Hạnh phúc sẽ rơi vào anh
Alberto Moravia
Chu Nga dịch

Khi còn là một đứa trẻ nghịch ngợm, tôi thường chơi với bọn bạn đủ các trò chơi. Chúng tôi có một bài vè điểm cái, nó bắt đầu như thế này: “Một trăm mười lăm và năm trăm; Con gà nó gáy lăng xăng sớm chiều” và câu kết của bài vè là: “Trên ống khói có con mèo; Rồi đây hạnh phúc sẽ vào tay anh”.
Mỗi lần như thế, tôi cứ ước ao ngón tay của người điểm cái sẽ trỏ đúng vào ngực tôi để tôi sẽ là người được cuộc; trở thành cái của ván chơi. Ôi, lòng tự tôn của con người! Ai chả biết ở đời, lòng tự tôn là trên hết. Kẻ nào không hiểu được điều đó thì thật chẳng hiểu đời tí gì. Và cho mãi tới bây giờ tôi vẫn là người lúc nào cũng hi vọng rằng trong cuộc sống chính mình sẽ phải là người “được cuộc”. Nhưng tiếc thay hạnh phúc lại không thường đến với tôi, hay đúng hơn là hầu như chẳng bao giờ đến cả. Cộng thêm vào cái tính khó khăn, bẽn lẽn của tôi, cách đây không lâu tôi lại nhận làm một công việc không lấy gì làm hay ho lắm: đó là nghề đổ rác.
Còn có cái gì mà thiên hạ lại không gán ghép cho những kẻ hót rác! Họ bảo, chẳng ai bần tiện hơn kẻ hót rác, ngay đến cả lũ ăn mày ấy thế mà vẫn cứ còn hơn. Lẽ tất nhiên, có thể là như thế thực. Nhưng chúng ta cứ thử tưởng tượng xem nếu như hoàn toàn không có một người hót rác nào thì rồi cuộc sống sẽ ra sao? Cái đó thấy rõ ngay trong những ngày chúng tôi đình công: cả thành phố bẩn thỉu, nhem nhuốc, rác rưởi ngập ngụa, những hố chứa rác đầy ùn lên. Nhưng bẩn hơn cả lại là ở những khu phố sang trọng, vì những kẻ giàu sang lại thải ra nhiều rác rưởi hơn đám dân nghèo, nhìn vào số lượng rác thải ra đủ hiểu con người sống như thế nào. Đấy, qua những ngày đình công mới vỡ lẽ ra rằng trong cuộc sống hiện tại người hót rác không thể nào thiếu được.
Và tóm lại là trong khi ngồi trên chiếc xe chở rác đi khắp mọi nơi, tôi cứ nghĩ rằng chẳng bao giờ may mắn lại còn đến với tôi nữa. Nó chỉ đến với những kẻ khác, nhất là trong quan hệ với các cô gái. Chỉ cần tôi nói với người con gái mà tôi thích rằng: “Tôi làm nghề đổ rác” là cô ta sẽ cau mặt lại rồi bỏ đi ngay. Và chắc chắn rằng chẳng bao giờ cô ta còn muốn gặp mặt tôi một lần nữa. Thà tôi cứ bảo: “Tôi là thằng ăn cắp” lại còn hơn. Đầu tiên tôi chưa nghĩ nhiều đến điều đó, nhưng về sau tôi mới nghiệm ra rằng có lẽ tốt hơn hết là đừng đả động gì đến chuyện nghề nghiệp cả. Cuối cùng, thì bác Xinvettrô, một ông già cũng làm việc với chúng tôi, đã mở mắt cho tôi. Một lần vào buổi sáng, khi chúng tôi đi từ nhà này sang nhà kia để thu rác như thường lệ, tôi có phàn nàn với bác rằng phụ nữ họ không thích cái nghề của chúng ta. Bác trả lời:
- Chỉ vì cái nghề này nó hôi hám nên đàn bà họ chẳng ưa… thì cậu cứ giấu nó đi…
- Nhưng mà biết nói với họ thế nào hở bác?
- Thì cậu cứ bảo rằng cậu là viên chức của toà thị chính. Điều đó, nói cho cùng, thì cũng là đúng sự thật kia mà… Tất cả chúng ta đều là những viên chức của toà thị chính cả, người hót rác lẫn kẻ ngồi sau chiếc bàn giấy bên cửa sổ – cả bọn kia, cả bọn này đều là những viên chức.
Đến đây, một đồng nghiệp khác trong bọn chúng tôi, cậu Phecđinăngđô tóc đỏ, mặt đầy tàn nhang, đeo kính trắng, cũng trạc tuổi với tôi, cãi lại:
- Theo cháu thì bác không đúng đâu… việc gì phải giấu giếm nghề nghiệp của mình? Nó chẳng kém những nghề khác! Chúng ta cũng là những người lao động như tất cả mọi người… Nếu như anh phải giấu giếm, thì có nghĩa là anh đã sa vào thành kiến.
- Gớm, cái thằng này nói nghe mới ghê chứ! – Bác Xinvettrô xen vào – Ờ, thế thì tôi hỏi cậu: cái thành kiến ấy còn hay hết? Đối với Luitdi thì cái gì quan trọng hơn: đấu tranh với những thành kiến hay là làm thế nào để bọn con gái cảm tình với cậu ta? Cứ để ý những phu khuân vác mà xem. Họ cũng là những người lao động, nhưng kẻ thì nhận mình làm nghề khuân vác, kẻ lại nói mình làm công việc phân phối. Số còn lại thì bịa ra đủ các cách gọi khác. Họ đổi cách gọi chứ có đổi nghề nghiệp đâu! Đấy, cùng là do thành kiến cả thôi!
- Anh hãy nghe tôi, Luitdi ạ. – Phecđinăngđô nói một cách ngang ngạnh – đừng có giấu giếm gì đấy nhé! Nếu như người con gái còn nghĩ nhiều đến thành kiến, thì nghĩa là cái thành kiến ấy đối với họ quan trọng hơn anh rồi.
Chúng tôi tranh cãi với nhau khá lâu, trong lúc xe rác của chúng tôi vẫn chuyển động chậm rãi trên đường phố giữa màn sương sớm của tháng mười một. Lát sau xe đỗ lại ở bên cạnh một ngôi nhà. Phecđinăngđô vớ lấy chiếc bao tải, trườn xuống xe, rồi vừa huýt sáo vừa đi vào cổng. Tôi nói với bác Xinvettrô:
- Bác đã già và hiểu đời, bác bảo cháu nên làm thế nào nhỉ?
Bác ta rút tẩu thuốc ra khỏi miệng và trả lời:
- Phecđinăngđô lại muốn khoe khoang cái nghề của mình. Nhưng theo tôi, thì đấy chẳng qua cũng chỉ là một cách để che đậy nỗi xấu hổ về nghề nghiệp… Còn tôi chẳng xấu hổ, không khoe khoang mà cũng không giấu giếm, tôi là người đổ rác – thế thôi.
- Vâng, nhưng còn cháu…
- Cậu thì lại là chuyện khác… cậu cứ giấu đi thì hơn, tôi đã nói với cậu rồi: cứ bảo rằng cậu là một viên chức ở toà thị chính.
Nói thực lòng, tôi cũng không ưa gì lời khuyên đó. Tôi là người đổ rác, và tôi thấy chả cần phải giấu giếm nó như giấu một điều gì nhục nhã. Nhưng mấy ngày sau, khi ngồi trên chiếc ghế dài tại công viên Vinla Bocghêdơ vào một giờ rảnh rỗi, không đội mũ lưỡi trai và không đeo biển số, tôi lại ngẫm nghĩ về tất cả những việc đã xảy ra và tự bảo rằng, có lẽ cuối cùng thì bác Xinvettrô đã nói đúng. Ý nghĩ đó tự nhiên đưa tôi đến với cái cảm giảc mà ta từng gặp trong những giấc mơ, khi ta đi dạo chơi mà chỉ mặc có mỗi một chiếc áo sơ mi, rồi bất thình lình có ai đó nhắc ta làm ta thấy ngượng ngùng không thể nào tả nổi và ta bừng tỉnh. Như thế có nghĩa là đã hai năm nay tôi làm nghề đổ rác mà tôi chẳng hề hay biết, nghĩa là cũng tựa như tôi đã đi chơi trong chiếc áo sơ mi trần mà chỉ có mỗi một mình tôi là không hay, nghĩa là…
Đấy là một ngày tuyệt đẹp của tháng mười một, một ngày ấm áp, sương mù phủ nhẹ trên các cành cây lá đã chớm vàng hoặc hoe đỏ, dưới những rặng cây là các bà mẹ và lũ trẻ ngồi xúm xít bên nhau. Tôi đang đắm chìm trong suy nghĩ đến nỗi không để ý thấy một thiếu nữ cùng với một em gái nhỏ, có lẽ là cô hầu hay một cô bảo mẫu, đã ngồi xuống cạnh tôi từ lúc nào.
Sau đó tôi nghe thấy giọng nói của cô:
- Bêatritsê, đừng chạy chơi xa, em nhé!
Tôi quay lại và nhìn người thiếu nữ. Nàng trông còn trẻ, thân hình chắc chắn, khuôn mặt tròn trĩnh hồng hào, chiếc bím tóc vàng óng, to như một cuốn thừng quấn quanh đầu. Tôi thích nhất là đôi mắt: đôi mắt đen mướt như nhung và lúc nào cũng như đang mỉm cười. Thiếu nữ xách trên tay một chiếc xô con và cầm chiếc áo măng tô của em bé gái đang ngồi xổm nghịch cát gần đấy. Thấy tôi đưa mắt nhìn, cô quay mặt lại phía tôi nói một cách thản nhiên:
- Anh chẳng biết tôi đâu, nhưng tôi thì lại rất biết anh.
Lời nói có thể kích động con người đến mức độ nào! Tôi cảm thấy mình đang đỏ dừ cả mặt và chợt nghĩ: “Có lẽ cô ta đã nhìn thấy mình đang đeo bao tải rác trên vai chăng?”, tôi vội trả lời:
- Thưa cô, có lẽ cô nhầm tôi với ai đó thôi. Tôi chưa bao giờ được gặp cô cả.
- Ấy thế mà tôi lại vẫn cứ biết anh đấy!
Đến lúc này thì tôi quyết định phải nói dối:
- Không thể có chuyện ấy được. Có chăng là cô đã nhìn thấy tôi ở toà thị chính, tôi làm việc ở đấy. Ở đấy thường rất đông người…
Lần này thì thiếu nữ không nói gì cả mà chỉ nhìn tôi với một cái nhìn là lạ. Một lúc sau nàng mới hỏi:
- Anh làm việc ở toà thị chính à?
- Vâng… vâng.
- Ở phòng ban nào kia ạ?
- Ở tất cả các phòng ban, đâu cần. Ở đấy có rất nhiều phòng ban mà.
- Nghĩa là – người con gái nói một cách rất rành rọt – chính ở đó tôi đã nhìn thấy anh… Tôi có đến đấy hai hôm trước đây.
- Lẽ dĩ nhiên là như thế rồi.
Trong lúc đó em gái nhỏ chạy ra chơi ở một nơi xa hơn, nó bắt đầu bới nghịch đống rác và lá khô. Thiếu nữ vội mắng:
- Này, Bêatritsê, đừng nghịch, rác bẩn đấy! Những em bé ngoan ngoãn là không có nghịch rác đâu nhé.
Nghe thấy tiếng “rác” tự nhiên tôi giật mình và lại đỏ mặt lên. Và lúc này, như muốn trêu tức tôi, người quét rác hiện ra trong bộ quần áo lao động màu xám đáng ghét, với chiếc xe đẩy nhỏ và cái chổi, người ấy dừng lại rồi bắt đầu công việc dọn cái đống ô hợp ấy.
- Thật tội nghiệp! Những người quét rác phải chịu bao nhiêu là hôi hám vì cái đám lá rụng ấy.
Mặt tôi càng đỏ bừng thêm và tôi nói với hi vọng sẽ được cô gái đồng tình.
- Đấy là nghề nghiệp của họ, họ cũng là những viên chức của toà thị chính, giống như tôi… Họ quét dọn, còn tôi thì viết – khác nhau chỉ có vậy thôi.
Nàng nhìn tôi với một vẻ là lạ, rồi nói:
- Tên tôi là Đờdaxinta, còn anh?
- Luitdi.
Và như thế là chúng tôi đã làm quen với nhau. Người con gái không cho tôi biết địa chỉ của nàng vì không muốn cho bà chủ biết về những cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi. Tôi đoán rằng nàng ở ngay trong khu vực mà sáng nào xe rác của chúng tôi cũng đi qua. Hai chúng tôi bắt đầu thường xuyên gặp gỡ, có khi tới mấy lần trong một tuần, còn vào những ngày chủ nhật thì khỏi cần phải nói. Chúng tôi cùng nhau đi xem phim, xem đá bóng, cũng có khi đi ăn tiệm. Tôi yêu nàng vì tính tình của nàng, nếu có thể diễn đạt một cách đơn giản như vậy được. Có lẽ chưa bao giờ tôi gặp một người con gái như nàng. Lặng lẽ, dịu dàng, trầm tĩnh, có thể là hơi kín đáo – tất cả được giấu kín ở bên trong, nàng giống như một dòng nước sâu và phẳng lặng. Tính tình nàng lặng lẽ, và khi tôi nói gì nàng chỉ gật đầu – cái gật đầu mới âu yếm làm sao, vừa như đồng tình với tôi, lại vừa như muốn nói: “Đúng rồi, nhất định là như thế rồi, anh đúng đấy”. Và tuy nàng không nói ra, nhưng đôi mắt đã nói thay tất cả: đôi mắt bao giờ cũng tủm tỉm cười, bao giờ cũng chăm chú, đôi mắt huyền bí và óng ánh, mềm mại như nhung đen. Không bao giờ nàng cho phép tôi được suồng sã, chỉ có hai hay ba lần đi xem phim nàng cho tôi được khoác tay, thế thôi.
Tôi vẫn nói với nàng rằng tôi làm ở toà thị chính và đôi khi còn thêm thắt một vài chi tiết nào đấy cho có vẻ thực hơn. Nhưng cho dù khéo léo đến đâu thì cũng vẫn có lần tôi suýt tự lật tẩy mình, vì khổ một nỗi là những từ “rác” và “người đổ rác” tôi cứ nhắc tới nhiều hơn mức cần thiết. Có một buổi hẹn nàng đến chậm, tôi trách móc và bỗng buột miệng nói: “Tôi cũng là con người, chứ đâu phải là cái rác”. Tất nhiên là tôi lập tức câm miệng hến và mặt thì đỏ bừng. Tôi có cảm giác rằng nàng đang tủm tỉm cười, nhưng vẫn không hề nói một lời.
Tôi yêu đến mức đã bắt đầu nghĩ hay là chúng tôi làm lễ đính hôn với nhau đi. Nhưng tôi chợt hiểu ra ngay rằng muốn lấy vợ thì trước tiên tôi cần phải đổi nghề. Tôi đã nói dối nàng nhiều quá và bây giờ nếu thú thực rằng tôi là người đổ rác thì mọi chuyện sẽ hỏng to. Thứ nhất là nàng sẽ thất vọng: anh hót rác; và sau thì tôi hoá ra thằng lừa dối: mà với phụ nữ, thì ai chẳng biết là họ có ưa gì những kẻ dối trá. Nhưng tìm được một việc làm khác cũng đâu phải là chuyện dễ. Mà tôi thì lại phải đổi cả nghề thực lẫn nghề mình tự bịa ra nữa. Trong các giờ rỗi tôi bắt đầu lang thang trên các đường phố của thành Rôm để tìm việc. Nhưng tôi không tài nào tìm ra và đã bắt đầu tính nước bỏ nghề, chả làm gì nữa cả. Có thể đối với tôi như thế lại tốt hơn. Anh thất nghiệp tuy vậy vẫn cứ hơn anh đổ rác cơ mà! Thì bỗng nhiên… đã xảy ra câu chuyện mà lâu nay tôi vẫn hằng lo ngại.
Sáng sáng chúng tôi chở xe qua một khu phố nhất định. Như tôi đã nói, trên xe chúng tôi gồm có ba người: tôi và Phecđinăngđô thì lần lượt mang bao tải đi thu rác, còn bác Xinvettrô thì cầm cương ngựa và giúp chúng tôi đổ rác vào xe. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Bác Xinvettrô ngồi trên chỗ đánh xe với những chiếc dây cương trong tay, hít tẩu thuốc của mình. Phecđinăngđô thì tìm chỗ ngồi xổm ngay trên đống rác và đọc những tờ báo lôi ra được ở một đống rác nào đấy. Còn tôi thì nghĩ về Đờdaxinta và sự dối trá của mình.
Vào một buổi sáng, đến lượt tôi đi thu rác. Chiếc xe như mọi khi, đỗ lại bên cạnh toà nhà ba tầng màu vàng gần Piaxa Libecta. Tôi cầm chiếc bao tải im lặng trườn xuống khỏi xe và bước vào trong cổng. Đấy là một ngôi nhà không có thang máy, ngôi nhà cũ kĩ và tĩnh mịch đến mức tưởng như đấy là một ngôi nhà hoang; trong đó cả thảy chỉ có ba gia đình. Tôi cầm chiếc bao tải trong tay đi lên tầng thứ hai và gõ vào cửa một căn hộ. Trên chiếc biển ở cánh cửa hình như có đề họ Đờdinhedi thì phải. Tôi mang máng nhớ rằng người thường ra mở cánh cửa này là một bà nấu bếp đứng tuổi – một người đàn bà xứ Phơrigi, lực lưỡng như một gã nông dân. Khi cánh cửa được mở tôi cũng không buồn đưa mắt nhìn, chỉ chìa chiếc bao tải và nói như thường lệ: “Người đổ rác đây”.
Nhưng chợt trông thấy đôi tay bưng thùng rác bằng nhôm không phải là đôi tay đen đủi, thô kệch của bà nấu bếp, mà là những ngón tay thon nhỏ và trắng trẻo – tôi bất giác ngước nhìn lên.
Chính là nàng.
Sau này tôi mới biết rằng trong nhà ấy có hai người hầu là nàng và bà đầu bếp. Nàng trông nom trong nhà nên không bao giờ ra đổ rác – thì ra mọi lần nàng vẫn nhìn tôi qua cửa sổ. Nhưng, buổi sáng hôm ấy bà nấu bếp bị ốm. Và tôi còn được biết thêm là khi nhìn thấy tôi ở ngưỡng cửa, nàng bỗng ngập ngừng không nói được một lời. Sau này tôi mới hiểu ra tất cả những điều đó. Tiếc thay là tôi đã hiểu ra quá muộn! Nhưng trong giây phút mà nàng lặng lẽ đưa thùng rác cho tôi, tôi cứ tưởng như trong đôi mắt đen của người con gái ấy ánh lên một nụ cười nhạo báng. Tôi bỗng đỏ bừng mặt rồi tái nhợt đi, giằng lấy thùng rác đổ ộc vào bao tải, xốc nó lên vai và chạy mất. Tôi hình dung ra ngay cái chân tướng của mình lúc ấy – chiếc mũ lưỡi trai lệch sang một bên, chiếc biển số, bộ quần áo lao động kẻ sọc hôi hám: một thằng đổ rác chứ chẳng phải một viên chức nào cả – chính là một thằng đổ rác! Tôi có cảm giác như chẳng bao giờ còn đủ can đảm để nhìn lại nàng nữa. Và tôi cũng không buồn sang thu nhặt rác ở các căn hộ còn lại trong ngôi nhà ấy. Tôi trở ra đường phố, quẳng chiếc bao tải còn rỗng một nửa lên xe cho Phecđinăngđô, rồi quẳng lên đấy cả chiếc mũ lưỡi trai, cả chiếc biển số và nói:
- Cầm lấy cả cái của này nữa. Đối với tôi như thế là đủ lắm rồi! Tôi xin thôi việc đây. Nói lại với công ty như thế hộ!
- Anh làm sao thế? Anh điên à?
- Tôi không điên đâu. Xin chào.
Ngày hôm ấy tôi và Đờdaxinta có hẹn gặp nhau, nhưng tôi không đến. Tôi nằm bẹp trong chiếc chăn ở căn buồng nhỏ dưới gầm cầu thang mà một mụ thợ may đã cho tôi thuê. Tôi muốn khóc, nhưng nước mắt nào có chịu chảy ra, giống như một người muốn hắt hơi mà không tài nào bật hơi ra được. Đến tối, thay vào những giọt nước mắt, thì tôi lại ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy tôi hiểu rằng tất cả thế là đã hết.
Tôi rất lo sẽ phải thất nghiệp lâu. Nhưng may cho tôi, qua mấy ngày tìm kiếm tôi lại vớ được việc gác cổng tại một công trường xây dựng ngoài thành phố vùng Malian.
Tôi ngồi lì ở đấy liền bốn tháng, như một con chó giữ nhà. Nhưng một hôm, vào ngày chủ nhật, tôi đến Rôm và trên quảng trường Rixôrơđơgimenđô tôi gặp lại bác Xinvettrô. Vừa nhìn thấy tôi, bác đã nói:
- Sau này chúng tôi đã hiểu ra tại sao cậu lại bỏ đi. Thì ra là vì cô con gái ấy. Nhưng cậu thật là dại dột. Cô ta yêu cậu thực sự, yêu cậu vì đấy chính là cậu chứ không phải là ai khác. Cô ta bảo bây giờ cũng sẽ chỉ yêu một người nào đó trong bọn chúng tôi thôi. Cô ta còn nói chỉ cần nhìn thấy bóng người mang bao tải sau lưng và đội chiếc mũ lưỡi trai của nghề vệ sinh là trái tim cô đã đập rộn lên rồi. “Đối với tôi – cô ta nói – chiếc xe chở rác còn quý hơn cả chiếc ô tô sang trọng nhất”. Chính vì vậy mà bây giờ cô ta với Phecđinăngđô đã kết bạn.
- Với Phecđinăngđô à?
- Thế đấy, cô ta cần một anh làm nghề đổ rác thì cô ta đã đạt được. Cậu ấy có giấu giếm gì nghề nghiệp của mình đâu, lại còn khoe khoang nữa chứ. Họ đã làm lễ đính hôn với nhau rồi.
Tôi quay lưng và đi thẳng, bỏ giở câu chuyện đang nói nửa chừng. Tôi muốn cắn vào tay. Thật đúng như trong bài vè điểm cái: chỉ một lần trong đời tôi đã là người “được cuộc”, chỉ một lần hạnh phúc đã rơi vào tôi – rơi đúng vào tôi – mà tôi nào có biết có một người con gái trong tất cả những người con gái trên trái đất này thích cái nghề của anh đổ rác mà tôi lại không đoán ra. Quả thật dù có sống bao nhiêu năm trên trái đất này thì rồi cũng vẫn cứ bị nhầm lẫn như thường. Và lần này thì hạnh phúc lại đến, nhưng không còn rơi vào tôi nữa.

Đứa bé - Alberto Moravia

Đứa bé
Alberto Moravia
bản dịch của Miêng

Khi người đàn bà trong ban cứu tế thành phố Rome mang tiền tới cho chúng tôi, cả bà ta, cũng hỏi là tại sao chúng tôi sinh chi nhiều con đến thế. Vợ tôi hôm ấy bãn tính, dấm dẳn nói toạc sự thật ra : "Nếu có tiền, chiều chiều chúng tôi cũng sẽ đi ci-nê... bởi vì không có nên đi ngủ sớm. Vậy là có con".
Nghe những lời đó thì bà ta kiểu cách bỏ đi, cắn chặt môi. Tôi trách nhà tôi, bởi sự thật không phải lúc nào nói ra cũng tốt, và còn phải biết mình đang nói chuyện với ai chứ.
Khi còn trẻ và chưa lập gia đình, tôi thường giải trí bằng cách đọc mục tin tức của Rome trong báo, kể đủ loại bất hạnh có thể xảy tới cho người ta : trộm cắp, giết người, tự tử, tai nạn giao thông, vân vân. Và giữa những tai ương này, điều duy nhất mà tôi cho là không thể nào chịu để xảy đến cho mình, là trở thành cái mà nhà báo gọi là "trường hợp đáng thương", tức là một người gợi lên lòng thương hại của kẻ khác không vì một bất hạnh gì đặc biệt, mà chỉ vì sự hiện hữu của mình thôi !. Tôi vừa nói là hồi đó còn trẻ, và chưa hiểu thế nào là nuôi nấng một gia đình đông đúc. Nhưng bây giờ, tôi nhận thấy một cách hãi hùng rằng từ từ, tôi biến thành một trong những "trường hợp đáng thương" đó. Ví dụ tôi đọc thấy : "Họ sống trong sự khốn cùng đen tối nhất..." Vậy mà hiện tại tôi đang sống trong cảnh khốn cùng đen tối nhất. Hay là : "Họ ở trong cái nhà chỉ có tên gọi là nhà". Thế mà tôi sống ở Tormarancio, với vợ và sáu con, trong một căn phòng chỉ rộng bằng tấm nệm, và khi trời mưa thì nước chảy trên đó như trên bến Ripetto. Tôi còn đọc thấy : "Khi người đàn bà bất hạnh biết là mình có bầu, bà ta vội lấy một quyết định tội lỗi là hủy diệt cái trái của cây tình yêu đó đi..." . Vậy mà cái quyết định này, vợ chồng tôi cùng đồng lòng, khi khám phá ra rằng vợ tôi có bầu lần thứ bảy. Tóm lại, chúng tôi định là khi thời tiết cho phép, chúng tôi sẽ mang đứa bé bỏ trong một nhà thờ, trông nhờ vào lòng hảo tâm của người nào bắt gặp nó đầu tiên.
Luôn luôn nhờ các bà trong ban cứu tế ấy, vợ tôi đi sinh ở bịnh viện và khi lấy lại sức thì trở về Tormarancio với đứa bé. Bước vào căn phòng của chúng tôi, vợ tôi nói : "Nhà biết không, mặc dầu bịnh viện luôn luôn là bịnh viện, tui sẵn lòng ở lại đó hơn là về đây". Với những lời đó, đứa bé làm như hiểu được, bèn tấn công bằng những tiếng ré thủng màn nhĩ. Một cái phổi tốt, mạnh khỏe, và nó tốt giọng đến nỗi ban đêm khi nó thức giấc và bắt đầu mè nheo thì không ai trong chúng tôi ngủ lại được.
Khi tháng năm tới, thời tiết bắt đầu ấm áp có thể ở ngoài mà không cần măng tô, chúng tôi đi Rome. Vợ tôi ôm chặt đứa bé vào ngực, ních cho nó đầy giẻ rách như thể sắp bỏ nó giữa đống tuyết. Và khi tới thành phố, chắc là để che giấu nỗi đau lòng, vợ tôi bắt đầu thao thao bất tuyệt, hổn hển đứt hơi, tóc tai bay trong gió, mắt lộn tròng. Khi thì bả nói về các nhà thờ khác nhau mà chúng tôi có thể bỏ đứa bé lại đó, giải thích rằng phải là một nhà thờ thường có nhiều người giàu có tới lui - bởi vì nếu đứa bé rơi vào tay người nghèo như chúng tôi thì tốt nhất là cứ giữ nó lại. Khi thì bả nói rằng phải là nhà thờ cống hiến cho bà Thánh Madone, bởi vì Thánh Madone cũng từng có một đứa con trai nên có thể hiểu được một số chuyện và sẽ nhậm lời cầu xin của bả...
Sự liến thoắng này làm tôi mệt và bị khích động dữ dội. Hơn nữa là tôi không hãnh diện gì và không thích việc mình đang bắt buộc làm. Nhưng tôi không nói gì, tự nhủ thầm là phải giữ cái đầu thật lạnh, chứng tỏ mình trầm tĩnh và giúp vợ can đảm.
Tôi đưa ra vài nhận xét, với mục đích chính là cắt đứt cái trò tràng giang đại hải ấy, nói : "Tôi có ý này... nếu mình bỏ nó ở nhà thờ Thánh Pierre ?". Nhà tôi hơi lưỡng lự một chút rồi nói: "Cái nhà thờ đó cứ như là một nơi bí mật quân sự... mình có thể sẽ không bao giờ thấy lại thằng bé... không, tui muốn thử ở cái nhà thờ nhỏ ở Condotti. Ơ đó toàn là tiệm hàng đẹp đẽ... biết bao nhiêu người giàu có tới lui... chỗ đó tốt đấy..."
Chúng tôi đi xe buýt, và giữa các hành khách khác, nhà tôi im. Thỉnh thoảng bả còn quấn đứa bé trong chăn chặt hơn, hay cẩn trọng giở hé ra để nhìn mặt nó. Thằng bé ngủ, khuôn mặt xinh xắn trắng hồng vùi trong đống tã lót. Quần áo nó tồi tàn như chúng tôi, và chỉ có vẻ đàng hoàng ở đôi găng tay len xanh nhạt thò ra ngoài nên cứ thể như nó muốn khoe.
Chúng tôi xuống đại lộ Goldoni và tức thì vợ tôi bắt đầu cà kê dê ngỗng. Bả dừng lại trước một tiệm kim hoàn, chỉ cho tôi xem những món bày trong tủ trên tấm nhung đỏ và nói :
"Nhìn mấy món đẹp quá nè ... người ta đến khu này chỉ để mua nữ trang và bao nhiêu thứ đẹp đẽ khác... người nghèo như tụi mình thì đừng có mạo hiểm vào đấy... họ thì giữa cửa tiệm này và cửa tiệm khác lại vào nhà thờ cầu nguyện một lát... họ có đầy lòng tốt... một trong bọn họ sẽ trông thấy thằng bé và đem nó đi". Nhà tôi vừa nói vừa nhìn đồ nữ trang, ép chặt thằng bé vào ngực, mày nhíu lại như thể nói với chính mình, và tôi không dám hó hé gì. Chúng tôi vào nhà thờ : nó nhỏ xíu, tường dát đá hoa giả màu vàng, ngoài bàn thờ lớn ra còn có rất nhiều nhà nguyện. Nhà tôi tức thì tuyên bố là nó hoàn toàn khác với hình ảnh nhà tôi nghĩ, và rằng bả không hài lòng về nó chút nào. Vậy mà bả cũng chấm tay vào nươc phép và làm dấu thánh giá. Rồi, với đứa bé trong tay, nhà tôi đi chầm chậm một vòng quanh nhà thờ với vẻ bất mãn và nghi ngờ. Từ vòm nóc đổ xuống một luồng ánh sáng lạnh nhưng sống động, xuyên qua lớp kính màu. Vợ tôi đi từ nhà nguyện này đến nhà nguyện khác, thám thính hết mọi cái, ghế, bàn thờ, tranh ảnh, coi thử có tiện bỏ đứa bé lại đây không - và tôi thì lẽo đẽo theo sau cách một quãng, vừa nhìn chừng cửa ra vào. Một cô gái cao lớn ăn vận toàn đỏ, tóc vàng óng bước vô. Hơi vướng vì cái rốp chật bó, cô ta quỳ gối và sau vài giây cầu nguyện, cô làm dấu rồi bỏ đi ra, không thèm nhìn chúng tôi lấy một cái. Theo dõi mọi cử chỉ đó, vợ tôi thình lình nói : "Không, nhất quyết là không... những người tới đây đều như cái cô đó hết, ai cũng vội vã đi vui chơi và tha thẩn trong các cửa hàng... mình đi thôi". Và vừa nói, vợ tôi bước ra khỏi nhà thờ.
Chúng tôi ngược lên gần hết Corso, bước rất nhanh, vợ đi trước, tôi theo sau, và ngang tới quãng trường Venise, chúng tôi vào một nhà thờ khác. Nhà thờ này lớn hơn cái trước nhiều, một phần chìm trong bóng râm, đầy màn trướng xếp nếp, đồ mạ vàng và hòm thánh tích đựng những quả tim bằng bạc sáng lấp lánh trong bóng tối. Có rất đông người và chỉ một cái nhìn thoáng qua cũng đủ biết là họ thuộc thành phần khá giả. Các bà đội mũ, các ông ăn bận chỉnh tề. Một ông linh mục đang giảng đạo, vung vẩy hai tay trên giảng đài. Thiên hạ đứng, dán mắt vào ông ta và tôi nghĩ là rất thuận tiện bởi không ai để ý chúng tôi. Tôi nói nhỏ với vợ : "Mình thử bỏ nó ở đây ?". Nhà tôi ra dấu đồng ý. Chúng tôi đi tới nhà nguyện bên cạnh, rất tối. Không có ai và có thể nói là không thể trông thấy gì ở đó hết. Vợ tôi che mặt đứa bé bằng một vạt chăn và đặt nó trên ghế như thể đặt một cái gói cồng kềnh cho tay được rảnh rang. Rồi bả quỳ xuống và cầu nguyện rất lâu, úp mặt vào lòng bàn tay. Tôi thì không biết làm gì, nhìn vớ vẩn vào hàng trăm con tim bạc đủ cỡ phủ kín tường. Cuối cùng vợ tôi đứng lên với vẻ căng thẳng, làm dấu và từ từ rời nhà nguyện. Tôi theo sau cách một quãng. Lúc đó ông cha đạo kêu to lên : "Và Chúa hỏi Pierre, con đi đâu đấy?". Tôi rùng mình với cảm tưởng ông đang hỏi mình. Nhưng khi vợ tôi sắp vén tấm trướng cửa, một giọng nói làm cả hai chúng tôi giật nẩy người : "Này bà, bà bỏ quên cái gói trên ghế". Đó là một bà vận toàn đen, một trong những kẻ mê đạo suốt ngày tiêu thì giờ trong các nhà thờ và kho đồ lễ. Vợ tôi nói : "A vâng đúng rồi, cám ơn... tôi quên mất". Chúng tôi lấy lại cục nợ và ra khỏi thánh địa, dở sống dở chết.
Ra tới ngoài, bằng một giọng của người bán hàng muốn tống bôi lôi khứ món hàng đi mà không tìm ra người mua, vợ tôi nói :
"Không ai muốn nó cả, thằng bé tội nghiệp của tôi !". Tuy nhiên bả bắt đầu chạy lon ton với những bước chân giật giật từng cơn như không bén đất.
Chúng tôi đổ ra quãng trường Saints-Apôtres. Nhà thờ mở cửa, và khi vào thấy nó rộng mênh mông và tối, vợ tôi thầm thì : "- đây tốt đấy". Bằng một bước cả quyết, vợ tôi tiến tới nhà nguyện ở bên, đặt đứa bé xuống băng, rồi làm như bị đất nung hai chân, bả không làm dấu, không cầu nguyện, không đặt ngay cả một cái hôn lên trán thằng bé, bước vội ra cửa . Nhưng vừa đi được vài bước thì trong nhà thờ dội lên tiếng khóc tuyệt vọng : đã tới giờ thằng bé đòi bú, nó đói. Với tiếng ré chát chúa đó, vợ tôi mất bình tĩnh. Trước tiên nhà tôi chạy ra cửa, rồi chạy ngược trở lại, và không cần biết mình đang ở đâu, bả ngồi xuống ghế bồng đứa bé lên và mở cúc áo ra để cho nó bú. Vợ tôi vừa mới móc vú ra là thằng bé bám riết với cả hai tay như một con sói con, ư hử im lặng. Đúng lúc ấy một giọng giận dữ la to lên : "Những việc đó không bao giờ được làm trong nhà của Chúa... ra ngay... ra ngay... đi ra đường mà làm !". Đó là ông giữ nhà thờ, một ông già nhỏ bé với chòm râu cằm trắng và giọng nói to hơn ông ta. Vợ tôi vừa đứng lên vừa nói, hai tay khép vội ngực áo và đầu thằng bé : "Vậy mà bà Thánh Madone trong những bức tranh luôn luôn là cho con bú". Ông ta la lên : "Mày dám so sánh với bà Madone hả ? Đồ tự phụ !". Chán quá, chúng tôi ra ngồi trong cái vườn nhỏ quãng trường Venise, vợ tôi cho con bú tiếp cho tới khi nó no nê ngủ lại.
Bây giờ đêm xuống rồi, các nhà thờ đều đóng cửa, chúng tôi mệt lữ và đầu óc mê muội không nảy sinh được một điều gì nữa. Với ý nghĩ đã phiền phức nhiều để làm một cái việc đáng lẽ không nên làm, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi bảo : "Này, khuya rồi và tui không chịu nổi nữa... mình phải quyết định đi thôi !". Vợ tôi trả lời với giọng chua chát : "Nhưng là giọt máu của ông !... và ông muốn bỏ nó như vậy đó, trong một góc, như thể để một chéo giấy đựng đồ lòng cho mèo vậy !" - "Dĩ nhiên là không, nhưng có những việc người ta có thể làm tức khắc không đắn đo hay là không bao giờ làm cả ". - "Thực tình là ông sợ tui đổi ý và đem nó vế nhà trở lại... đàn ông các ông, các ông toàn là những thằng hèn !". Tôi hiểu không phải là lúc nói ngược lại nên trả lời một cách khá ung dung : "Tui hiểu bà. Nhưng nên biết là dù có việc gì không hay xảy ra cho nó đi nữa thì cũng tốt hơn là lớn lên ở Tormarancio, trong một căn phòng không cầu tiêu không nhà bếp, giữa bao vi khuẩn muà đông và ruồi muỗi mùa hè". Và lần này thì vợ tôi không trả lời.
Không biêt đi đâu, chúng tôi lấy đường quốc lộ ngược lên hướng tháp Néron. Tôi để ý thấy xa hơn một chút là con đường dốc nhỏ, hoàn toàn vắng vẻ, trừ một chiếc xe hơi xám cửa đóng, đậu trước cổng nhà. Tôi nảy ra một ý, tới thẳng chiếc xe vặn cái nắm tay : cửa mở. Tôi bảo nhà tôi : "Nhanh lên, lúc này được rồi. Đặt nó lên ghế sau". Nhà tôi vâng lời đặt đứa bé lên ghế và tôi đóng cửa lại. Mọi việc xảy ra chớp nhoáng trong vòng vài giây đồng hồ và không ai trông thấy. Rồi tôi nắm cánh tay vợ và chúng tôi chạy tránh xuống quãng trường Quirinal.
Quãng trường vắng teo tối om với thưa thớt vài ngọn đèn đường chiếu sáng ở cung điện, và vượt khỏi phần trên các lan can là ánh sáng của Rome lấp lánh trong đêm. Vợ tôi bước tới vòi nước, đến gần cột tháp và ngồi xuống băng ghế rồi thốt nhiên bật khóc, lưng quay lại tôi như thể bả đang chỉ một mình. Tôi hỏi : "Chuyện gì vậy ?" Nhà tôi trả lời : "Bây giờ bỏ nó rồi thì tui nhớ nó quá... tui thấy thiêu thiếu cái gì ở đây, chỗ ngực mà nó bấu vào đây này". Tôi nói không chủ định : " Ô, thì cũng dễ hiểu thôi... nhưng rồi sẽ qua đi".
Vợ tôi nhún vai và cứ khóc. Rồi thình lình mắt nhà tôi ráo hoảnh như gió trời thổi khô nước mưa. Bả đứng lên giận dữ chỉ cho tôi một trong những lâu đài : "Bây giờ tui biết phải đi đâu rồi, tui đi gặp ông vua và sẽ kể hết".
Tôi nắm tay nhà tôi và la lên : "Đứng yên ! bà điên sao chớ... bà biết thừa là không còn vua nữa mà !" - "Tui cóc cần, tui sẽ nói với người thay thế ổng... chắc chắn là phải có ai chớ !" Nhà tôi sắp chạy tới cổng ra vào và chỉ có trời mới biết chuyện khủng khiếp gì sẽ xảy ra, thì đùng một cái, tôi nói ngoài dự định : "Này bà, tui suy nghĩ lại rồi... mình quay tới chiếc xe lấy lại thằng nhỏ... chớ còn gì nữa, mình sẽ giữ nó... thêm bớt một miệng thì nhằm nhò gì..." Cái ý đó đương nhiên là ý muốn chính của vợ tôi, nó xoá liền ý nghĩ muốn nói chuyện với vua. "Nhưng liệu nó còn đó không ?" Vừa nói vợ tôi vừa chạy tới con đường có chiếc xe hơi xám. Tôi trả lời : "Dĩ nhiên là còn. Nãy giờ chưa tới năm phút mà".
Chiếc xe còn đó thật. Nhưng đúng lúc vợ tôi mở cửa xe thì một ông cỡ trung niên béo lùn với vẻ mặt rất hách dịch, xuất hiện ở cổng và la lên : "Dừng lại... dừng lại... bà muốn lấy gì trong xe tôi đấy ?" Nhà tôi đang nhoài người vào xe ôm đứa bé, trả lời mà không quay đầu lại : "Tui muốn lấy cái gì thuộc của tui !" Ông kia nhấn mạnh :"Mà bà lấy cái gì ?... cái xe này là của tôi... bà hiểu không ? nó là của tôi..." Phải nhìn thấy vợ tôi lúc đó : bả đứng thẳng lên và tấn công như vầy : "Coi kià, ai lấy cái gì của ông ? Đừng sợ, không ai lấy gì của ông đâu... còn xe của ông đấy hả, coi nè, tui nhổ lên nó đấy, ông thấy chưa ?" Và bả nhổ thật lên cánh cửa. Ông kia ngẩn ra : "Nhưng mà kià, cái gói gì đấy... ?" -" Không phải là gói gì cả, đây là con trai tui, ông nhìn nè..."
Vừa nói nhà tôi vừa dở lòi mặt thằng bé ra chìa tới trước mặt ông ta và tiếp : "Một thằng con trai xinh xắn như thế này, nếu ông tin là ông có khả năng tạo ra một đứa như vậy với vợ ông... và tui báo trước là không được đụng tới tui, nếu không tui sẽ la lên gọi cảnh sát và nói là ông muốn bắt cóc con tui..." Tóm lại, nhà tôi nói đủ điều, tới nỗi mà tội nghiệp ông ta, ông ta trở nên đỏ tía và há hốc mồm ra như thể đang bị xuất huyết não.
Cuối cùng nhà tôi bỏ đi không vội vã gì, con trong tay, trở lại chỗ tôi đang chờ ở cuối con đường.

Anh quá nghèo - Alberto Moravia

Anh quá nghèo
Alberto Moravia
Dịch giả: Trịnh Đinh Hùng và Hoàng Hải

Tôi lấy chồng năm mười tám tuổi. Chồng tôi sáu mươi, nhưng đúng là một người mà mẹ tôi hằng mong ước cho tôi từ khi tôi còn chưa lọt lòng mẹ: một người giàu. Song, hình thức bên ngoài của ông hoàn toàn không phải như thường thấy ở những người chiếm hữu những gia sản kếch sù: không thô thiển, cục súc hoặc đầu hói, bụng to. Thậm chí trái lại. Dưới mái tóc trắng óng ánh bạc là một khuôn mặt hồng hào, trìu mến và niềm nở. Nhưng điểm đáng chú ý nhất của ông là đôi mắt: đôi mắt đen, ánh mắt tắt lịm, không biểu hiện một tí tình cảm nào cả. Cái nhìn của ông bất động một cách lạ lùng, nhất là khi ông chú ý nhìn một cái gì đó (hoặc ai đó) khiến ông đặc biệt thích thú. Thay cho con ngươi là đôi kính hiển vi mà những người thợ kim hoàn thường đeo lên mắt để nhìn vàng bạc và các loại đá quý. Trong sâu thẳm của đôi con ngươi ấy không bao giờ biểu lộ sự không biết, nỗi ngạc nhiên, sự thán phục hay trí tò mò, mà bao giờ cũng chỉ là sự xét đoán không nhầm lẫn về giá trị của vật này hay vật khác hoặc (tại sao lại không kia chứ?) của một con người, về giá trị được biểu hiện trước hết bằng tiền hoặc dưới hình thức khác được chuyển thành các dạng tiền.
Và lạ lùng thay, tôi đã nghĩ về điều đó không phải sau khi cưới (chẳng hạn khi hai vợ chồng thường hay đi các cửa hiệu vàng bạc và đồ cổ), mà trước khi ông xin cưới, trong thời gian ông còn đang tán tỉnh tôi. Mà săn sóc phụ nữ thì ông là người rất tận tình, ít nhất là căn cứ vào những cử chỉ bề ngoài. Nhưng nghĩ kỹ thì sự nhiệt tình đó có hơi trơ trẽn, ít nhất là xét từ góc độ của một người phụ nữ không muốn bị người ta xem như là một bình sứ cổ Trung Quốc hoặc bức tượng nhỏ của bộ lạc Maya. Song đối với tôi, một cô gái trẻ, chưa từng trải, thì sự trơ trẽn đó lại làm tôi thích thú, có tác dụng vuốt ve dây thần kinh, cho nên rốt cuộc tôi đã phải lòng ông ta.
Ông ngồi trong căn phòng tiếp khách nghèo nàn và tù túng của gia đình tôi (tôi với mẹ tôi ở một căn hộ hai phòng và sống rất eo hẹp), hầu như không hề nói năng gì cả, chỉ nhìn tôi. Sau này, khi chúng tôi đã cưới nhau rồi, tôi nhận thấy rằng ông ta nhìn các vật trưng bày ở cửa hàng cũng đúng y như thế.
Phải nói rằng tôi là một cô gái rất xinh. Nhưng căn cứ và cái nhìn của ông, vẻ đẹp của tôi hoàn toàn không hề gây ra ở ông một sự hồi hộp, bối rối nào cả, cũng không hề làm mê mẫn như đối với những người đàn ông khác. Cách thể hiện của ông là của một người biết rằng nếu muốn, anh ta có thể mua ngay đồ vật ấy và anh ta hiện đang xem xét nó chỉ là để xác định đúng giá của nó hiện nay là bao nhiêu và sau này nó có thể đem lại những ích lợi gì.
Cuối cùng chúng tôi cưới nhau. Chồng tôi yêu tôi và tôi cũng yêu chồng. Trong suốt hai năm, cuộc hôn nhân của chúng tôi có thể nói là hạnh phúc. Nhưng cần phải nói rõ tình yêu đó là gì và hạnh phúc đó ra làm sao. Tôi sẽ cố gắng giải thích bằng chính ngay thí dụ đó (tôi muốn nói cặp mắt của chồng). Chính mắt, chứ không phải các giác quan khác, làm sợi dây nối liền ông với thực tế, nói đúng hơn là với những đồ vật mà ông liên tục mua sắm. Mắt ông thiết lập mối liên hệ đó, củng cố nó và cuối cùng cắt đứt nó. Mối liên hệ đó thường trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đánh giá và giai đoạn thưởng thức vật mua về. Giai đoạn đầu diễn ra trước mặt người bán, trong cửa hàng. Chồng tôi ngắm nghía rất lâu vật định mua, đứng xem không sờ mó, hoặc giả cầm lên, lăn đi lăn lại trên tay để xem cho rõ bằng hai con mắt cú mèo –toàn bộ xúc cảm của ông tập trung ở thị giác chứ không phải ở xúc giác. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thưởng thức vật mua diễn ra ở nhà, trong phòng làm việc của ông. Đấy là một phòng rộng với một cái bàn lớn cùng nhiều cái giá đóng trên tường để đặt những đồ vật ông mới mua được. Khi mà chúng vẫn còn ở trong phòng, thì có nghĩa là ông vẫn còn đang ngắm nghía, thưởng thức chúng. Ông thưởng thức chúng như thế nào? Như một con quỷ hút máu, bằng cặp mắt mà ánh mắt đã tắt với cái nhìn bất động, ông “hút” đồ vật như hút lòng đỏ lòng trắng trứng từ cái lỗ nhỏ của quả trứng. Quả trứng đã bị hút hết trông vẫn tưởng như còn nguyên nhưng kỳ thực rỗng ruột và bị vứt ra sọt rác. Chồng tôi sau khi đã “hút” xong đồ vật dĩ nhiên là không vứt đi (còn chưa đến mức độ đó); vật ấy chỉ đơn giản là biến mất khỏi phòng làm việc. Tôi nhớ hồi trước ông có một bình sứ Hy Lạp rất đẹp trang trí những hình người màu đen trên nền đỏ. Cái bình đặt mãi ở trong phòng, rồi biến mất. Một thời gian sau, tôi tìm thấy nó ở trong một cái bọc.
Tình yêu của chồng đối với tôi cũng hoàn toàn giống như sự say ngắm đồ vật của ông. Ông nhìn ngắm tôi không hề biết chán, lúc nào cũng nhìn suốt: trong khi ăn, trong khi ngủ, ở nhà bạn bè, ở tiệm ăn, trong nhà hát, ngoài vườn, ngoài bãi biển, trên núi, giữa đám đông ngoài phố cũng như khi ngoài chúng tôi ra không có một ai…Chính là trong cái nhìn không dứt, không còn là cái nhìn mang tính chất đánh giá lạnh lùng nữa mà là cái nhìn say sưa không biết chán đó, chứa đựng tình yêu của ông. Còn về phần tôi, tôi rất gắn bó với ông. Có lẽ tôi cảm thấy đối với ông một thứ tình cảm giống như những đồ vật vô tri vô giác cảm thấy đối với ông chủ báu vật của chúng nếu như chúng có tình cảm: đó vừa là một thứ tình cảm biết ơn, vừa là mong muốn khoe sắc đẹp, vừa là sự công nhận uy thế tuyệt đối của ông ta.
Thế rồi bỗng dưng, vô duyên cớ, chồng tôi không yêu tôi nữa, hoàn toàn không nhìn tôi nữa. Chúng tôi vẫn sống như trước, nhưng ông dường như gạt tôi ra khỏi tầm mắt mình như gạt ra khỏi phòng làm việc những đồ vật mà ông đã ngắm nghía thỏa thê. Sự thật thì sự gắn bó giữa ông với tôi trong khi ấy vẫn không hề giảm đi, mà trái lại, có phần tăng lên. Cảm giác sở hữu đã mất đi. Ông bắt đầu đối với tôi như đối với một người phụ nữ gắn bó với mình bởi một sự gần gũi lâu ngày. Nói một cách ngắn gọn, tôi thôi không còn là một đồ vật đối với ông nữa, mà trở thành một con người. Người phụ nữ khác ở địa vị tôi hẳn đã lấy làm mừng, cho rằng bước chuyển đó là theo hướng tốt, rằng nó chứng tỏ mối quan hệ vợ chồng như vậy là được củng cố. Nhưng tôi thì đau khổ đến chết đi được, không biết làm thế nào. Tôi cảm thấy mình bị “thương hại”, rằng vị trí của tôi đã bị lung lay, và tôi không còn là tôi trước nữa. Vâng, vâng, đúng thế, tôi lấy làm tiếc cái thời mà tôi chỉ là một đồ vật quý, xinh đẹp được người ta mua về ngắm nghía cùng với những đồ vật khác, và thấy đáng ghét làm sao địa vị của người phụ nữ được người ta đối xử bằng những tình cảm kính cẩn và dịu dàng bình thường của con người.
Một năm sau khi diễn ra sự hóa thân -từ đồ vật thành con người- ấy là tôi, thì chồng tôi chết. Như vậy là tôi với ông đã sống với nhau ba năm, nhưng trong đó như “người chủ với đồ vật” chỉ có hai năm. Tôi bỗng nhiên đơn chiếc, trở thành người chủ của một tài sản kếch sù và –than ôi!- hơn bao giờ hết cảm thấy mình là một phụ nữ, một nhân cách, một con người.
Tôi sẽ không kể với các bạn tôi đã sống những năm từ đấy đến đây như thế nào. Hãy giở bất kỳ quyển họa báo thời trang nào, đọc qua mục phóng sự đời sống thượng lưu, bạn sẽ có ngay một khái niệm đầy đủ về tôi, về sinh hoạt của tôi, được minh họa tỉ mỉ bằng những bức ảnh kèm theo: đây là tôi đang trượt tuyết ở núi Cortina, kia là tôi đang tắm nắng ở bãi tắm bên hồ Liđô, đi săn ở Kênia, câu cá ở biển miền Nam, vui chơi trong đêm hội thời trang ở Niu Yooc, đánh “gôn” ở Kent, xem đấu bò tót ở Mađrit, còn đây tôi là một tay máu mê cờ bạc tại cái sòng bạc ở Miami, là khách du lịch đang tham quan khu khai quật ở Pecxêpôn, vân vân và vân vân. Các bạn hẳn đã thấy cảnh tôi vô số lần và có thể còn ghen tị với tôi nữa là khác, dù rằng chẳng có gì đáng ghen tị cả: vì tôi vẫn không thể nào tìm được một người yêu tôi như tôi muốn, bằng một tình yêu mà chông tôi đã làm cho tôi quen với nó. Với một ý nghĩa nào đó, tôi đã bị chấn thương suốt đời. Người ta bảo chính những quan hệ tình dục đồi bại hoặc quá sớm thường làm cho con người bị chấn thương như thế. Nói tóm lại, tôi cần người ta phải đánh giá, mua và sử dụng một đồ vật hiếm hoi, quý giá. Các phương án khác của tình yêu đều không làm tôi vừa lòng.
Tiếc rằng giờ đây đối với tôi tình hình phức tạp hơn nhiều so với cái ngày hai mẹ con sống trong một căn hộ hai phòng và những người muốn đến “đánh giá, mua và sử dụng” cứ nườm nượp. Nhờ chồng, tôi đã chuyển thứ bậc sang loại người tự mình có đủ khả năng mua tất cả những gì mình muốn, nhưng trở thành vật sở hữu của ai đó thì không trở thành được nữa rồi…Ai dám cho phép mình làm một việc sa hoa dường ấy, “mua” tôi? Tôi hiểu rất rõ rằng cái nhìn mà ngày nào đã khiến tôi rùng mình phát sợ, vì nó cân nhắc một cách lạnh lùng những giá trị của tôi, cái nhìn đã buộc tôi phải yêu khi tôi còn là một cô gái nghèo, cái nhìn ấy bây giờ chỉ người nào có đủ sức không chỉ sở hữu tôi mà sở hữu cả toàn bộ gia tài không kể xiết này mới có được. Nói cách khác, người ấy lại còn phải muốn sở hữu tôi nữa chứ! Có nghĩa là những xác xuất của tôi bị giảm đi rất nhiều, nếu không phải nói chung chỉ còn là số không.
Tôi sẽ làm thế nào đây? Không biết.
Để chứng minh cho những lời tôi vừa nói, tôi xin kể lại vắn tắt một câu chuyện, về việc suýt nữa tôi có một thiên tình sử với một anh chàng trí thức trẻ mà tôi gặp cách đây ít lâu ở nhà những người bạn quen chung của cả hai chúng tôi. Trí tuệ sắc sảo của anh ta, tính nghiêm túc lạ thường, thậm chí hơi quá mức của anh ta, và điều chủ yếu là cái cách nhận xét rất mới của anh về sự việc và con người rất thu hút sự chú ý của tôi. Tôi với anh bắt đầu gặp gỡ nhau ngày càng thường xuyên hơn. Thường thường, tôi hẹn anh ta ở một quảng trường nào đó, anh ta đứng đợi tôi, tôi đi xe đến đón anh ta đi ra ngoại ô, có khi đi rất xa. Chúng tôi nói chuyện với nhau. Chúng tôi không làm gì khác ngoài việc nói chuyện với nhau. Đúng hơn là anh ta nói còn tôi nghe. Anh hay nói và nói rất hùng biện, đến nỗi đôi lúc tôi tự nghĩ: nếu lời nói mà đánh giá được trọng lượng bằng vàng thì chắc chắn anh ta có thể mua nổi tôi rồi! Nhưng than ôi, anh thanh niên trí thức của tôi lại rất nghèo. Kết quả tất nhiên là anh ta đâm yêu tôi. Tôi –trong những trường hợp như thế- hiểu ngay ra điều đó căn cứ cách anh ta nhìn tôi. Nhưng cái nhìn của anh, cái nhìn nồng cháy bình thường của một kẻ đang yêu gặp phải con người tôi lạnh lẽo. Tôi cần phải thấy được trong cái nhìn của người đàn ông thể hiện sự đánh giá lạnh lùng, chính xác những giá trị của tôi, mà một cái nhìn như vậy chỉ có thể có được nếu được cổ vũ bởi một sự giàu có ghê gớm đủ sức nuốt được một cách dễ dàng cả cái vốn tài sản đồ sộ của tôi. Nói giả dụ, nếu tôi đáng giá năm tỉ, thì cái nhìn ấy phải có một sức mạnh ít nhất là ngang bằng với năm mươi tỉ. Cần nói thêm là tỉ lệ giữa sự nghèo nàn của tôi và sự giàu có của chồng tôi ban đầu lớn hơn thế nhiều.
Do đó, khi anh người yêu trí thức của tôi làm một bước đầu tiên nhích lại gần tôi, không đắn đo gì cả tôi liền gạt ngay đi:
- Không, không, tôi xin anh, chúng ta chỉ có thể là bạn với nhau thôi! Anh quá nghèo để có thể trở thành tình nhân của tôi.
Việc đó xảy ra ở ngoại ô, xa thành phố. Anh ta không nói một lời, ra khỏi xe, đi bộ theo đường cái. Tôi cũng không gọi anh ta nữa. Sức mạnh của cái nhìn của anh khi anh ta định hôn tôi tính ra (than ôi!) không phải là năm mươi tỉ, mà là một số đồng bạc ít ỏi hàng tháng anh ta nhận được của cha. Thực ra tôi có thể làm với anh ta cái điều mà ngày xưa chồng tôi đã làm với tôi: tức là đánh giá anh ta để mua và sử dụng. Trên thực tế, từ này vốn tài sản của tôi có thể cho phép tôi đóng vai trò đó được. Nhưng, như tôi đã nói, cuộc hôn nhân đầu tiên đã làm chấn thương tôi rồi. Sợ rằng số phận tôi là làm một đồ vật suốt đời đi tìm chủ nhân mà không thấy.

Trộm vào nhà thờ - Alberto Moravia

Trộm vào nthờ
Alberto Moravia

            Khi sói mẹ và sói con bị đói, bụng rỗng ngồi đó rên ư ử và cắn xé lẫn nhau thì sói bố làm gì? Con sói đực sẽ làm gì, tôi hỏi bạn? Nó làm gì lúc đó, tôi nói cho các bạn rõ nhé: nó ra khỏi hang ổ, đi tìm mồi; có thể, tuyệt đường hy vọng, nó xuống làng, lẻn vào các nhà. Và những người nông dân giết chết nó là phải, khi nó lẻn vào nhà nông dân và xông vào họ. Thành thử mọi sự điều đúng, và ở đây chẳng ai có tội cả. Nhưng vì lẽ phải đó, cái chết đã thoát thai.
            Tôi chính là con sói bố mùa đông năm ấy, và tôi cũng sống theo lối sống của sói –không sống trong nhà cửa, mà trong một cái hang ở chân đồi Môngtơ Mariô, trong những mỏ lộ thiên bỏ hoang. Ở đó có rất nhiều hang, nhưng hầu hết các hang đều bị phủ đầy bụi gai, chẳng luồn vào được. Chỉ có hai cái là ở được, một của tôi và một của ông cụ già Puliti, cụ vừa đi ăn mày vừa nhặt giẻ rách. Xung quanh chỗ đó là một màu vàng, trần trụi, cửa hang đen xì, ám khói. Trước hang của ông cụ Puliti bao giờ cũng có một đống giẻ rách mà ông nhặt nhạnh, tích lại; trước cửa hang tôi có một chiếc biđông to đựng dầu dùng làm bếp nấu. Vợ tôi tay bế con, luôn luôn phùng mồm thổi lửa.
            Nói quả đáng tội, bên trong cái hang trông khá hơn một cái buồng vớ vẩn nào đó, cũng rộng rãi, khô ráo, sạch sẽ, trên mặt đất trải đệm, đồ đạc xống áo móc trên đinh. Tôi để cả gia đình ở lại trong hang, một mình đi Rôma tìm việc, tôi là một lao công, thường vẫn làm nghề thợ đấu. Nhưng đông đến, chẳng hiểu tại sao công việc đất cát ít hẳn đi. Giờ đây tôi phải luôn luôn đổi nghề, rồi cuối cùng tôi hoàn toàn thất nghiệp. Tối tối, khi tôi quay về hang, dưới ánh đèn dầu, vợ tôi ngồi trên đệm nhìn tôi, thằng bé áp vào ngực cô ta, nhìn tôi, hai thằng lớn đang chơi dưới đất, cũng nhìn tôi, còn tôi, thấy trong bốn cặp mắt đó cùng biểu hiện một chữ “đói”, tôi cảm thấy mình đúng là con sói đực trong một gia đình sói, và tôi nghĩ bụng: “Nếu mình chẳng đem gì về cho chúng ăn, thì chúng sẽ xé xác mình ra từng mảnh mất”.
            Ông cụ Puliti với chòm râu bạc trong hang, trông cứ như một ông thánh thực sự, nhưng vừa mở mồm ra là thấy ngay đấy là một ông lão gian xảo. Ông cụ thường bảo tôi:
            - Sao nhà cậu đẻ lắm vậy? Để cho chúng nó khổ à? À mà tại sao cậu không đi nhặt mẩu vụn thuốc lá nhỉ? Bán đi cũng thu được chút ít đấy.
            Nhưng tôi chẳng thể bắt mình đi nhặt mẩu thuốc lá, vì tôi muốn có một công việc thực sự. Một buổi tối, khi hết cả hy vọng, tôi nói với vợ:
            - Anh chẳng muốn sống mãi như thế này nữa…Em biết không? Anh sẽ đứng núp ở một xó, người đầu tiên đi qua, là anh sẽ…
            Vợ tôi ngắt lời:
            - Anh muốn vào tù sao?
            Tôi nói:
            - Vào tù lại được nuôi ăn.
            - Nuôi anh được thôi, nhưng thế còn mẹ con chúng em?
            Phải nói là câu ấy đã khiến tôi suy nghĩ.
            Chính ông cụ Puliti đã gieo cho tôi ý nghĩ vào ăn trộm nhà thờ. Ông cụ thường đi ăn xin ở các nhà thờ và có thể nói là thuộc lòng tất cả những nhà thờ ấy. Ông cụ thuyết phục tôi, nói rằng nếu tối đến, tôi nấp được ở trong nhà thờ trước khi người ta khóa cửa, thì sáng ra có thể lẻn đi mà không ai biết. Nhưng ông cụ căn dặn:
            - Cẩn thận đấy…Các cha cố không ngốc đâu…Đồ quý họ để trong tủ sắt, chỉ bày ra ngoài những đồ bằng thủy tinh thôi.
            Ngoài ra, ông cụ hứa sẽ đem đồ đi bán hộ, nếu như tôi ăn trộm được. Nói chung là ông cụ nói cứ ngon ơ, mặc dầu lúc đầu tôi chẳng muốn nghĩ mà cũng chẳng muốn nói đến chuyện đó. Còn ý nghĩ thì chúng cũng như những con rận ấy: đã bò vào là cứ tự ý tung tăng, rồi bỗng dưng cắn mình nhói một cái, làm mình phải thót lên vì bất ngờ.
            Thế rồi một tối, nó đã cắn tôi như vậy, và tôi đem chuyện ấy nói với vợ. Cần phải nói là vợ tôi rất ngoan đạo, khi chúng tôi còn ở quê, cô ta thường lui tới nhà thờ nhiều hơn là ở nhà. Cô ta bảo tôi:
            - Anh điên mất rồi!
            Tôi chỉ đợi cô ta phản đối, nên đáp:
            - Có phải trộm cắp gì đâu…Tại sao người ta dâng cho nhà thờ những vật ấy? Để làm phúc mà lỵ…Nếu chúng mình lấy những cái đó, thì để làm gì? Để được quả phúc thôi…Vậy thì ban quả phúc cho ai, ngoài chúng mình ra, là những kẻ rất cần đến quả phúc ấy?
            Cô ta lúng túng nói:
            - Sao anh lại nghĩ được như thế nhỉ?
            Tôi nói:
            - Chuyện ấy việc gì đến em. Trả lời anh câu này: Có phải sách kinh dạy là cần cho kẻ đói khát được no đủ không?
            - Có đấy.
            - Mình có phải là kẻ đói khát không?
            - Có!
            - Vậy, có nghĩa là mình chỉ thực hành nhiệm vụ của mình thôi…Mình làm một việc có thiện quả.
            Nói tóm lại là tôi cứ cái giọng ấy mà nhắc đi nhắc lại với cô ta, luôn dựa vào tôn giáo - đó là yếu điểm của cô ra mà - rồi cuối cùng, cô ta đã vỡ nhẽ ra. Sau đó, tôi nói thêm.
            - Có điều anh không muốn để em trơ trọi một mình. Cứ đi với anh. Họ mà có bắt được thì chúng mình cùng ngồi tù với nhau.
            - Thế còn con cái anh ơi.
            - Con, cứ để cụ Puliti trông nom…Rồi chúa sẽ lo cho chúng nó.
            Nói chung, chúng tôi thỏa thuận với nhau rồi báo cho cụ Puliti biết mọi sự. Ông cụ bàn kế hoạch hành động với chúng tôi và tán thành kế ấy. Cuối cùng cụ vuốt râu, nói:
            - Anh Đômênicô, nghe lão già này, đừng động đến những trái bằng bạc nhé. Của rẻ đấy. Có lấy thì lấy những đồ quý.
            Giờ thì nhớ đến ông cụ Puliti với chòm râu của ông, những lời ông dặn dò tôi thật nghiêm chỉnh, tôi lại thấy buồn cười.
            Vậy là đến ngày đã định trước, chúng tôi để các cháu lại cho cụ Puliti rồi đi xe điện tới Rôma. Thật y như hai vợ chồng sói đói từ trên núi lần xuống làng xóm; nhìn chúng tôi lại càng thấy giống: vợ tôi thấp lùn, to ngang, vai rộng, tóc dày xoăn tít như cái bếp lửa úp trên đầu, mặt cường quyết; tôi thì gầy nhom như một anh chàng chuyên lột da thú, má hóp, râu đâm tua tủa, đôi mắt sâu hoắm long lên sòng sọc. Chúng tôi chọn một nhà thờ cổ trên một phố trong ra Cóoxô. Nhà thờ rộng và tối như bưng, vì xung quanh nó là những ngôi nhà cao; bên trong có hai hàng cột, sau các hàng cột là hai chái hẹp, tối và một vài bàn thờ xép, đầy những đồ vật quý. Trên tường, dưới lớp kính có treo rất nhiều những trái tim vàng và bạc, nhưng tôi để ý đến một tủ kính nhỏ, trong tủ, trên mặt nhung đỏ, giữa một số trái tim quý giá hơn, có chuỗi ngọc lam. Tủ kính đó để ở bàn thờ xép dành cho đức Thánh Mẫu; trên bàn thờ là tượng Thánh Mẫu to bằng người thật đứng dưới tán che toàn thân sơn son thếp vàng, đầu có vòng hào quang kết bằng những đèn thờ, dưới chân là rất nhiều hoa cùng những cây nến.
            Chạng vạng tối, chúng tôi mới lọt vào nhà thờ, và đợi lúc ở bàn thờ xép đó không có ai, chúng tôi liền nấp ngay ở phía sau. Đằng sau bức tượng có một vài bậc lên xuống, chúng tôi ngồi vào đó. Lúc ấy đã muộn, bác coi nhà thờ đã lệt xệt lê chân đi khắp cả, miệng lẩm bẩm: “Đóng cửa đây”. Nhưng bác ta không nhìn vào sau bàn thờ, mà chỉ tắt các ngọn đèn thờ, để chừa lại hai cây nến đỏ ở hai bên. Sau đó tôi nghe thấy bác khóa cửa lách cách và đi qua suốt nhà thờ tới kho đồ thánh. Bọn tôi ở lại trong hành lang hẹp giữa bàn thờ và tường hậu. Tôi cứ run lên lẩy bẩy như người sốt rét khẽ bảo vợ:
            - Này, lẹ lẹ lên…Mình mở tủ kính ra đi.
            Vợ tôi bảo:
            - Khoan đã…đi đâu mà vội?
    Tôi nghe thấy cô ta ra khỏi chỗ nấp. Cô ta đứng ngay giữa bàn thờ xép, trong bóng tối mờ mờ, cô làm dấu thánh, cúi rạp mình xuống, sau đó lùi lại một tí, rồi lại làm dấu, lại cúi xuống. Sau hết, tôi thấy cô ta quỳ gối trong một góc và chắp tay cầu nguyện. Cô cầu gì tôi không rõ, nhưng tôi biết là cô ấy chẳng tin gì lắm vào chuyện mình đang làm điều thiện như tôi đã nói với cô ta, và cô ta muốn hết sức hết lòng tự bào chữa cho việc mình làm. Cô ta cúi đầu, do đó không nhìn rõ khuôn mặt dưới mái tóc dày; sau đó, dưới làn ánh sáng đỏ mờ, cô ta ngẩng đầu lên, rồi lại cúi xuống, mấp máy môi như người lần tràng hạt.Tôi đến gần cô ấy, thận trọng thì thào:
            - Có thể về nhà mà cầu nguyện, em ạ!
            Cô ta nói sẵng:
            - Để mặc em, nhà thờ rộng, anh đi đi, đứng đây làm gì?
            Tôi thì thào:
            - Em có muốn trong khi em cầu nguyện, anh mở cái tủ kính ra không?
            Cô ta lại sẵng giọng:
            - Không, em chả muốn gì hết…Đưa cho em cái móc sắt kia.
            Tôi thủ sẵn trong mình một cái gióng cửa mà dùng nó để mở cái tủ kính ọp ẹp kia thì thật là thích hợp. Tôi đưa cho cô ta rồi bỏ đi. Tôi đi loanh quanh trong nhà thờ, không biết làm gì. Tôi thấy sờ sợ. Trong tòa thánh đường mờ tối với những vòm mái âm vang, với bàn thờ chính rộng lớn lấp lánh tận sâu phía trong cùng, với những ghế xưng tội đen sì phủ kín ở hai bên chái.
            Tôi rón rén luồn qua hai hàng ghế dài trống không, tới cửa ra vào, sống lưng ớn lạnh, y như có người đang theo dõi tôi. Tôi định mở cửa, nhưng cửa đóng kín mít; bấy giờ tôi liền quay trở lại, ngồi mé trái cạnh một phần mộ xây, được soi sáng bằng một ngọn đèn đêm đỏ, leo lét.
            Phần mộ được xây thụt vào trong tường, trên đó có một phiến đá hoa cương to màu đen, mặt nhẵn, hai bên có hai hình người một bộ xương với lưỡi hái, và một người đàn bà trần truồng, thân thể cuộn trong chính mớ tóc của mình. Đó là những pho tượng tuyệt tác bằng đá hoa cương ngà ngà vàng, nhẵn bóng.
            Tôi đứng ngắm nghía hai pho tượng ấy, thấy hình như trong bóng tối mờ mờ, chúng động đậy và người đàn bà định chạy khỏi bộ xương, nhưng bộ xương lịch thiệp níu tay cô ta lại. Bây giờ, để lãng quên đi, tôi phải nghĩ đến cái hang nhà, lũ trẻ con, cụ Puliti, và lòng tự nhủ lòng là nếu bây giờ có ai đề nghị tôi thoái lui và lại quyết định lại nên làm gì, thì tôi vẫn làm chuyện đó hay một việc gì đại loại như vậy.
            Nói chung, không phải tình cờ mà tôi rơi vào nhà thờ này, không phải tình cờ tôi đã nghĩ đến một công việc như vậy, không phải tình cờ mà trong đời, tôi chẳng tìm được cho bản thân mình một cái gì tốt đẹp hơn. Và giữa dòng suy nghĩ mông lung đó, tôi bỗng buồn ngủ và thiếp ngay đi. Đấy là một giấc ngủ nặng nề, không mộng mị, và trong cái nhà thờ lạnh như nhà hầm này, người tôi cứ run lên đây đẩy. Tôi ngủ tít, và chẳng hay biết gì nữa.
            Sau đó có ai lay lay tôi, tôi lẩm bẩm trong cơn ngái ngủ:
            - Yên nào, cứ quấy rầy mãi!
            Nhưng người ta vẫn cứ tiếp tục lay lay tôi, tôi liền mở mắt và thấy bao nhiêu người: ông cụ coi nhà thờ đang trố mắt nhìn tôi, ông cha đạo già có bộ tóc bạc bù xù, với bộ quần áo khoác vội lên người, hai thày cảnh sát và giữa họ là vợ tôi, mặt mũi ủ dột. Tôi vẫn đứng yên tại chỗ, nói:
            - Các vị để chúng tôi yên…Chúng tôi là dân không nhà cửa, vào nhà thờ ngủ đỡ…
            Thế là một thày cảnh sát dí vào mặt tôi một cái gì đó; đang còn ngái ngủ, tôi tưởng đó là chuỗi tràng hạt, sau thì tôi nhìn rõ nó là chuỗi ngọc lam.
            - Nó là cái gì vậy, để chiêm bao đấy phải không? thày cảnh sát nói.
            Rốt cục, sau khi bàn tới bàn lui một lát, các thày cảnh sát tóm lấy chúng tôi, giải đi khỏi nhà thờ.
            Vẫn còn là đêm, nhưng đã hơi tang tảng, đường phố vắng tanh vắng ngắt, ướt đẫm sương. Chúng tôi cúi gầm đầu, lặng lẽ rảo bước, cảnh sát bao quanh. Tôi thấy vợ tôi đi trước, trông thật thấp lùn, nghèo khó, với chiếc váy ngắn, tóc lởm chởm trên đầu, tôi thấy thương cô ta hết sức, bèn bảo một thày cảnh sát:
            - Tội nghiệp vợ con tôi quá.
            Thày hỏi:
            - Các con anh ở đâu?
            Tôi kể lể. Thày cảnh sát nói:
            - Bác là bố trong một gia đình…Làm sao đầu óc lại nghĩ đến chuyện làm ăn như vậy? Nhẽ ra phải nghĩ đến con cái mới phải.
            Tôi trả lời thày ta:
            - Tôi làm chuyện ấy là vì nghĩ đến con cái đấy thôi.
            Đến đồn cảnh sát, một người đàn ông trẻ tuổi, tóc hoe ngồi bên bàn giấy, thấy chúng tôi, nói:
            - À, cái bọn ăn trộm đồ thánh…
            Bỗng vợ tôi kêu lên the thé:
            - Xin chúa trời chứng giám, tôi không có tội!…
            Tôi chưa từng thấy cô ta có cái giọng ấy bao giờ, đến nỗi tôi há hốc cả mồm.
            Ông cẩm nói:
            - Có nghĩa là chồng cô có tội?
            - Cũng không phải ạ.
            - Thế hóa ra là ta có tội đấy…Thế làm sao mà chuỗi ngọc lại rơi được vào tay chị?
            Vợ tôi nói:
            - Đức Thánh Mẫu từ trên bàn thờ bước xuống, tự tay mở tủ kính lấy cho tôi chuỗi ngọc.
            - Ái chà, Thánh Mẫu…thế Thánh Mẫu cho nhà chị cả cái móc sắt mở khóa à?
            Nhưng vợ tôi, giơ hai tay lên cao, tiếp tục hét lên bằng cái giọng điên loạn:
            - Nếu tôi nói sai, xin cứ vật tôi chết ngay tại chỗ này này!
            Họ hỏi cung chúng tôi chẳng biết bao nhiêu lâu, nhưng tôi nói là mắt tôi chẳng trông thấy đích thực là như thế nào, còn vợ tôi thì cứ nhất định quả quyết là bà Thánh Mẫu đã đem cho chuỗi ngọc. Thỉnh thoảng cô ta lại quát lên:
            - Hỡi các con chiên, hãy quỳ gối trước phép màu!
            Tóm lại, cô ta có vẻ như bị ma ám hay loạn trí làm sao ấy. Rốt cục người ta giải cô ấy đi, còn cô ta vẫn cứ la hét và kêu gọi Thánh Mẫu. Tôi đoán người ta dẫn cô ấy vào trạm y tế. Ông cẩm hỏi tôi xem có cho là vợ tôi điên không, và tôi trả lời ông:
            - Có thể là như vậy.
            Vả lại, người điên có phải là người ốm đâu, có điều họ cứ tưởng tượng ra khác hẳn mọi người…Sau đó, tôi nghĩ biết đâu vợ mình nói đúng sự thật, và như vậy thì quả là đáng giận nếu như tôi chẳng được tận mắt nhìn thấy Thánh Mẫu công bằng từ trên bàn thờ bước xuống, mở tủ kính ra và trao cho vợ tôi chuỗi ngọc màu lam ấy.