Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Lai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Lai. Hiển thị tất cả bài đăng
1/3/12

Mắt sau vách lá - Chu Lai

Mắt sau vách lá
Chu Lai

            … Một mái lá trung quân, một ngọn đèn bão cháy giữa hầm thùng, một mùi vị quen thuộc… Đó là mục tiêu ngọt ngào, run rẩy tôi đang tiến tới. Em kia rồi! Lồng ngực tôi nghe tức lại. Vẫn mái tóc ấy, sống mũi ấy và cái miệng hay nhõng nhẽo ấy. Chỉ khác, đôi mắt em đang cúi xuống chăm chú nhìn một cái gì… Út Thương ơi!
            Chuyện đơn giản thôi, chỉ một cái nhìn sau vách lá, vậy mà cho đến suốt những năm tháng sau này, cứ mỗi khi chợt nghĩ tới, lồng ngực đau yếu của tôi lại nhói lên, nhột nhạt.
            Dạo ấy tôi ở chủ lực, em là cô y tá địa phương. Tôi quen em trong một lần vướng mìn Kleymo, mảnh găm tơ tướp toàn thân, phải cáng đi nằm trạm xá. Em, do hoàn cảnh nên văn hoá có hạn. Tôi, văn hoá lại khá nhiều, một bằng rưỡi đại học gì đó thì phải. Nhưng bù lại, em rất đẹp, chí ít là khái niệm nằm trong văn cảnh rừng, còn tôi lại tương đối xấu: Cao long khòng, răng vẩu, chân đi vòng kiềng, miệng cá ngão, mắt hơi lồi, mũi tẹt… Nhưng tôi lại ngọt giọng, đa tình, hiểu tâm lý phụ nữ và đáng tội, lúc hứng lên cũng có làm dăm loại thơ tình vớ vẩn. Thì đấy, chính cái hôm cắt xé vá víu than thể, do không có hay là hết thuốc mê, tôi phải vừa nghiến răng vừa đọc thơ ông ổng lên cho nó khỏi đau. Ai dè, khi tỉnh lại, em, lúc đó là nhana viên tiếp dụng cụ, lại một mực đòi phải đọc khẽ lại để chép vào sổ. Tôi đọc. Em chép, mắt mở to, như chứa hết cả nắng rừng, và dần dà học thuộc. Thế rồi thành trớn. Cứ ba ngày tôi lại làm một bài tặng em, ngắn thôi, còn vụng dại nhưng thật long. Ba tháng nằm viện là 90 ngày. 90 chia ba là 30 bài, kể cũng nhiều đấy chứ. Và cuối cùng, lượng đã biến thành chất. Ngày ra viện, cả đêm hôm đó, hai đứa đã thức trắng với nhau. Thức trắng theo đúng nghĩa đen vì lúc ấy, tâm hồn con người trong trẻo và lãng mạn lắm, cái chuyện trao gửi, cái chuyện hiến dâng gần như không ai chạm đến, có vẻ mất thiêng thế nào! Và hẹn hò và thề thốt và thậm chí có cả nước mắt nước mũi nữa. Rồi tôi đi. Đi luôn cho đến ngày chuẩn bị cuộc tổng tiến công ngày mùa xuân.
            Chuyện bắt đầu xẩy ra.
            Đơn vị tôi nhận lệnh đánh thẳng vào hướng đông Sài Gòn, hướng dữ dằn nhất. Do thế mà không biết sống chết ra sao. Cũng do thế mà tôi quyết định phải gặp lại được em một lần. Biết đâu… Chỉ hiềm nỗi thời gian quá ngắn, vỏn vẹn chỉ nội trong một đêm, sang sớm mai đã phải hành quân bôn tập rồi. Mà đường đất từ đây xuống chỗ em, bình thường phải mất ít nhất hai đêm giao lien căng chằng để vượt qua được ba con lọ, hai con song đầy mìn trái và các ổ phục kích lớn nhỏ. Đằng này… chỉ có mỗi một đêm lại phải vừa đi vừa về, tức là bằng một phần tư thời gian cần thiết. Có tài thánh cũng không kịp và, dẫu có kịp thì rất dễ nằm lại giữa đương giữa xá, be bét máu me. Nhưng cứ đi, không thể không đi. Cái máu trinh sát cộng với máu đa tình đã ngào trốn thành một thứ cảm hứng lãng mạn đến ngang tang mà sau này nghĩ lại, tôi cứ thấy lạ cho mình.
            Thế là đúng 5 giờ chiều, sau khi đã đánh no một bụng cơm, giắt theo chục trái da láng, khẩu AK bang xếp khoác chéo vai, dây giầy thít cho chặt, tôi khe khẽ lỉnh ra cửa rừng. Và chạy luôn. Chạy vừa phải, không thật nhanh nhưng cũng không thật chậm, chạy làm sao cho kịp tiến độ thời gian, chạy như kẻ mộng du một mình làm một cuộc Marathon giữa thiên nhiên hoang vắng và chết chóc rình rập. Nhưng trong không khí tổng tiến công như vũ bão trên toàn cục, cái sự rình rập ở đây cũng thơi thoáng đi nhiều, thơi thoáng như đang được chạy giữa đất đai tự do của mình. Qua con lộ thứ nhất, mồm miệng tranh nhau thở, lưng áo ướt đẫm mồ hôi, bụng dạ cứ tức anh ách. Vẫn chạy…. Qua con lộ thứ ba, mệt quá, buộc phải nghỉ, đã tính đến chuyện quay lại. Nhưng con mắt màu rừng chiều- Thì cứ cho là như thế đi - của em lại hiển hiện ra trước mắt, trong bong đêm, lay láy, vẫy gọi. Chạy tiếp. Thi thoảng lại vấp, lại ngã, lại chạy, cứ chạy. đa tình thì phải luỵ tình chứ sao! đến nơi, không cần gì nhiều, chỉ cần được nhìn em một cái, nói cùng em một câu, và nếu có thể được sẽ ghì chặt em vào lòng giây lát, hôn nhẹ lên môi là có thể chạy về được ngay. Tiếp tục! Qua con sống thứ nhất, một chiếc giày tự nhiên bị bục. Thì vất luôn cả chiếc kia, chạy chân không, càng dễ lội. Nhưng nhớ là chạy chỉ trên đường mòn hay cỏ mịn, chạy lạng vào sỏi đá, vào gai góc là coi như nằm lại chết cứng luôn để mãi mãi mang cái án đảo ngũ hay chiêu hồi. đến con sông thứ hai, may mắn sao lại vớ được đôi dép mềm của ai đó trong ấp ra làm bưng để lại. Thế là có đôi hài vạn dặm, thể xác lại được tiếp xúc với nước lạnh khoẻ hẳn ra, chân cẳng bỗng giồng nhoay nhoáy như một vận động viên chuyên nghiệp thật sự. Cục rừng em đang ở đã mờ mờ hiện ra kia rồi! Thật tuyệt vời. Nhìn đồng hồ, kim đã sang chỉ trên con số 11. Vậy mới hết có 5 tiếng. Gặp em cùng lắm cứ cho là nửa tiếng đi, 12 giờ quay về, 5 giờ có mặt, quá kịp! Ôi cục rừng than yêu! Rừng đâu cũng chả là rừng nhưng rừng có em, hình hài, mùi vị, màu sắc của nó sao mới nồng nàn, dễ thương đến thế! Giờ này em đang làm gì? Ngủ chưa hay là đang nằm trên võng nghe đài Hà Nội phát tiếng thơ? Xa nhau gần nửa năm rồi, em có dành ra một phút nào nghĩ nhớ đến anh như thỉnh thoảng có lời em nhắn gửi qua giao liên? Anh đang đến với em đây! Rất gần lắm đây…
            Nhưng sự đời rõ chán! Cứ trống không, như cả ngàn năm nay chưa hề có ai qua lại. Đi đâu cả rồi nhỉ? Chả lẽ cũng đang lao theo một mũi tiến công? Thế thì… Máu như đông lại, đầu óc trống roãng, than thể bải hoải, tôi ngồi phịch xuống giống kẻ một mình ăn cả trái mìn, muốn chết luôn. Và tôi sẽ ngồi khốn khổ khốn nạn như thế nếu như lát sau không có một lưỡi đèn pin chem. tới. Rồi tienég quát, tiếng lên đạn, tiếng chân lạo xạo đến gần… Cha trời! Thì ra là chú Năm quân báo huyện! Bắt tay. Ôm chầm. Xoa tóc… Mừng như ông già ruột sống lại, tiếng chú làu bàu: “Tao theo mày từ bìa song lận. Tưởng thám báo, tính bám theo làm một đòn, ai dè… Con Út Thương hả? Trạm phẫu của nó chuyển rồi. Bên kia gò Bắc Dật kia kìa. Đi lẹ lẹ đi, không nó lại chuyển nữa… “Đi luôn. Không kịp cả đôi hồi nọ kia như thói thường lâu ngày gặp lại giữa những kẻ than quen. Xin lỗi chú nghen!”.
            … Một mái lá trung quân, một ngọn đèn bão cháy giữa hầm thùng, một mùi vị quen thuộc… Đó là mục tiêu ngọt ngào, run rẩy tôi đang tiến tới. Em kia rồi! Lồng ngực tôi nghe tức lại. Vẫn mái tóc ấy, sống mũi ấy và cái miệng hay nhõng nhẽo ấy. Chỉ khác, đôi mắt em đang cúi xuống chăm chú nhìn một cái gì… Út Thương ơi! Tôi sẽ bật gọi to lên như thế nếu như qua vách lá, không kịp nhận ra dưới cái nhìn của em là một ca mổ ruột. Ca mổ có vẻ xảy ra đã lâu rồi vì trên trán mọi người đều nhóng nhánh những giọt mồ hôi, cả em. Im lặng. Gió rừng xào xạc. Tiếng kim loại va vào nhau. Tiếng cựa mình. Tiếng rên khó nhọc… Tôi nhìn em. Em nhìn vào vết mổ. Thời gian trôi nhanh… Làm sao đây? Đồng hồ đã sắp chỉ sang con số 12 rồi! Cháy ruột cháy gan như chính tôi mới là kẻ đang bị mổ. Kiểu này, ca mổ gần như kéo dài chừng mươi phút nữa là tôi coi như… Mà xem chừng nó có vẻ còn kéo dài thật, kéo dài sang đêm vì cho đến lúc ấy, vẫn chưa thấy bàn tay người mổ có dấu hiệu làm động tác khâu nào. Mà em lại không thể bỏ ra, tôi biết chắc như thế. Và tôi cũng chẳng thể bước vào được. Đang phẫu thuật kia mà. Thôi thì, không ra được, em cũng phải linh cảm mà nhìn lên tôi một chút chứ. Một chút thôi để biết rằng tôi đã có mặt ở đây vào giây phút này, thế cũng là đủ. Nhưng đôi mắt kia cũng chỉ nhìn xuống, mệt mỏi và căng chằng. Đồng hồ lại nhích them đoạn nữa. Không kịp rồi! Không kịp thật rồi! Đành tạm biệt em vậy. Thương ơi!... Anh đi đây. Chỉ cầu mong song trận đánh cuối cùng này, chúng mình sẽ gặp lại nhau. Sẽ gặp lại… Ráng đừng để bị làm sao nghen em! Thương em nhiều lắm!... Tôi thảng thốt thầm thì qua vách lá như vậy. Và trời ơi! Không hiểu do cách cảm thần giao hay do gió rừng đưa lời toi vào, đôi mắt kia bất giác nhìn lên, hướng thẳng vào tôi, đắm chìm và vời vợi… Nhiều năm sau tôi vẫn còn uống mãi ánh mắt này. Còn giây phút mỏng tang ấy, không hiểu em có nhận ra tôi không, tôi không thể biết nhưng rõ rang tôi nhác thấy đôi môi xanh tái của em khẽ mỉm cười… Thôi, thế cũng là đủ. Tôi mang cả cái cười xanh tái ấy băng mình trở lại, ngọt ngào và the thắt, đủ cả.
            … Nửa tháng sau thì giải phóng Sài Gòn. Không kịp biết cái thành phố hoa lệ này mùi vị nó ra làm sao, ngay ngày hôm sau, tôi mượn được một chiếc xe máy của dân phóng thẳng về vùng rừng cũ. Vâng, rừng vẫn như thế, nồng nồng ngái ngái và gió yên hàn nhưng… em không còn nữa! Lại chính người cán bọ quân báo lão luyện trận mạc đó đã thong báo cho hay: Trong cơn giãy chết cuối cùng, kẻ thù đã điên cuồng trút bom đạn xuống cục rừng bé nhỏ ấy mà chúng nghĩ rằng có bộ đội chủ lực đống quân. Em và cả trạm phẫu của không còn một ai sống sót…

Hơi thở đêm - Chu Lai

Hơi thở đêm
Chu Lai

            Mùa khô năm một ngàn chím trăm sáu bảy. Những cánh rừng chồi xôn xao nắng gió thơm thoáng mùi cây trái từ khắp các bưng bienè thổi về.
            Hai mươi chin tết.
            Ở đâu không biết chứ đối với cánh lính đặc công ven Sài Gòn chúng tôi, cái ngày này chỉ tồn tại như một khái niệm nhạt nhoà. Đánh nhau tan hoang đầu óc, sống đã được là điều thần kỳ, còn hơi sức long dạ đâu mà để ý tới cõi thời gian tháng ngày dặc dài lãng đãng nữa. Giống nhau tuốt. Hiểm nguy và chết choc tuốt. Trận này nối trận kia. Cánh rừng này tràn sang cánh rừng khác. Không không gian, không thời gian. Chỗ nào cũng thế, khoảng khắc nào cũng vậy. Lạnh là mùa mưa, nóng là mùa khô, có lẽ chỉ rạch roi được một nét đất trời như vậy. Thì đó, nhằm trúng vào đêm hai chin tết năm nay, chúng tôi quyết định làm cú xuất hành đầu năm vào đồn địch. Xuất hành với ý nghĩa luồn sâu thăm dò sờ mó lục phủ ngũ tạng của nó thôi chứ không đánh, chưa đánh. Đánh thế quái nào được khi theo thong lệ, cứ đến ngày tết côe truyền là hai bên dù có cáu nhau thế nào đi chăng nữa, cũng phải tôn trọng một cái quy định bất thành văn gọi là tạm thời ngừng bắn. Nhưng cứ sờ mó cho kỹ rồi chờ sau tết nổ súng cũng được, thậm chí rất được. Bởi lẽ khi xuân nồng nàn dễ có khả năng làm tan loãngđi ít nhiều cái ý thức chiến tranh hết sức riết róng trong đầu óc con người, dẫu bên này hay bên kia. Và khi ấy, bên nào bền chí hơn ít chịu tan loãng hơn bên đó coi như cầm bằng chiến thắng mà, cái sự bò rào sát nút đêm giao thừa linh diệu của đám lính xa quê chúng tôi sắp diễn ra đây là một thể hiện tương đối sinh động và, nói thực long là không kém phần tức tưởi. Chiến tranh, tên gọi nghe to tát nhưng nhiều khi lại ăn nhau ở cái phần trăm tức tưởi quá đỗi nhỏ bé ấy. Hơn nữa, cái đồn Mỹ này tuy không có tên gọi kêu vang trong lịch sử tác chiến chiến lược hay chiến dịch nhưng nó lại hết sức hóc hiểm bởi cái lối phòng thủ độc địa thay vì là những hào rãnh, chó má, dây gai kém gia, hang rào điện tử… thong thường và phần nào đã lỗi thời, đã không ngừng bị vô hiệu hoá thì ở đây lại là những bụi tre gai ken sít, dày đặc mìn trái, một con chuột nhít cũng khó bề lách mình lọt qua mà không tan xác. Kha khá những đơn vị vào cỡ thiện chiến của trung ương, của vùng đã hăm hở tìm đến để rồi lại ngậm ngùi bỏ đi, trong đó có cả đơn vị tôi, tất nhiên. Nhưng cũng tất nhiên là không thể để mãi cái jmụn ghẻ lở lói mang lá cờ đạo tặc từ bên kia Thái Bình Dương sang đây cắm ngang nhiên giữa bưng biền cây cỏ đất ông bà mình được.
            Vậy là ngồi chờ nơi cửa rừng cho đất trời rơi khẽ vào chiều muộn, chúng tôi bắt đầu khăn gói bồng bị lên đường. Đến nơi, vừa hoàn thanh xong động tác tháo bỏ quần áo, hoá trang bôi đen bôi đỏ xong, một tình huống bất ngờ xảy ra: Người lính trinh sát kỳ cựu của địa phương làm nhiệm vụ dẫn lối vào rào đêm nay đã chẳng may vướng mìn hồi hôm! Thế là hư hết xôi chè! Mục tiêu lằng nhằng quái dị thế này, không có thổ công dẫn dắt, chỉ có mà đâm đầu vào cửa tử. Về cái đã! Chờ đêm khác. Chiến tranh còn dài, vội gì. Vả lại, chết ư, nếu phải chết, cũng được thôi nhưng có nhất thiết cứ phải chết vào đúng đêm hai mươi chín tết không nhỉ?
            Vừa chán lại vừa mừng, cái tâm lý chiến trận hai chiều vốn nó là như thế, bao giờ cũng là như thế, cha con đang tính làm nước mã hồi cho sớm chợ thì bị bí thư huyện ủy thình lình xuất hiện, giống như con người cả đời vận quần cộc, mặt mày nhàu nát nhưng nói năng lại rất có duyên này bao giờ về ở đâu cũng luôn luôn biết xuất hiện thật đúng lúc, lạ thế! Ông bảo, giọng miệt vườn Nam bộ ấm xỉn mùi thuốc rê Gò Vấp, xin các chiến hữu đừng xóa ngụy trang vội, chúng tôi đã tìm được người thay thế. Lại vừa mừng vừa có chút hụt hẫng, thì vẫn cái tâm lý chiến trận nó thế. Ừ, có rồi thì lại tiếp tục nhào zô, không đánh lúc này thì đánh lúc khác, đằng nào chả phải đánh, chạy trời có khỏi nắng đâu. Nhưng phải xem cái anh chàng thay thế cũng vừa hoàn tất xong động tác bôi nhọ này người ngợm nó ra làm sao đã nào! Liệu có được ngon lành, kỳ cựu như cái anh chàng đã có phần quen hơi bén tiếng trước đó không? Xem nào….
            Thú thực là bỗng thấy rôm sẩy nổi khắp người. Trước mắt tôi, một bong đen nhỏ thó, tách màn đêm bước ra. Gọi là tách cho nó có vẻ văn chương chứ thực ra, đêm và người đều đen kịt như nhau, có trời cũng chả tách nổi. Đêm đen, người đen, cây cỏ đen, kẻ thù cũng đen. Đen lắm, đen như bị thít vải vào mắt, đêm bình thường đã đen, đêm giáp tết càng đen, đen như thể không đen hơn được nữa. Đen từ chân lên đến đầu. Đồng đội ngồi tránh gió cách nhau chỉ vài thước là chẳng còn nhận ra đâu là người đâu là đất nữa! Tất cả không quần không áo, chỉ có mỗi chiếc si líp bó sát vào hông cũng được bôi đen. Và cũng chỉ còn mỗi cách là gí sát mắt vào cái khẩu hình cời vuông tròn méo lệch của từng đứa, nơi duy nhất có màu trắng sang là hầm răng không phải ngụy trang để nhận ra nhau. Ngụy làm gì? Có vừa bò vừa nhe răng ra cười trắng ởn với bao la đâu mà ngụy! Thế là, hạ thấp người xuống, mượn cái da trời địch hậu bạch phếch như da trâu chết làm nền, tôi cố giương mắt ngắm kỹ anh chàng. Không ngắm kỹ vào cái vật thể đen tuyền na ná như hình người đang hiện diện trước mặt tôi chừng hơn sải tay thì đúng hơn. Chết mất thôi giời ạ! Hết người rồi hay sao mà phải đưa cả một thân hình èo uột như thế này vào trận, mà lại là một thứ trận đặc công tinh nhuệ của người ta đàng hoàng chứ có phải trận thường đâu. Đầu thì to, vai thì nhỏ, chân tay lại còn nhỏ hơn, gầy nhẳng, cứ như ba, bốn, cái gọng vó xếp lại với nhau, thế là của trẻ con chứ đâu phải của người lớn! Chỉ còn mỗi cái dáng dấp nhanh nhẹn, cái ngoắt chân, ngoắt tay gòn gọn là trông còn tạm được, cũng tạm được thôi, khả dĩ có thể le lói chút đỉnh cái năng lực bò trườn, còn ngoài ra… giời ạ! Mà lại cứ im thin thít nữa chứ. Im thế, bô ai đoán được tuổi? Biết đâu vô phúc lại vớ phải cụ bốn, năm mươi có tật hay ho đêm hoặc sôi bụng vặt nữa thì coi như chúng con tàn đời.
            Nhưng thôi, lỡ rồi, muộn rồi. Cái thanh sang trên mặt đồng hồ đã quét quá giờ hành động rồi. Không còn thời gian ngắm nghía, cũng chẳng còn thời gian đãi bôi chào hỏi nữa. Nhỏ con cũng chơi, sôi bụng cũng chơi, gọng vó gọng càng cũng chơi, và ho đêm hay ho ngày cũng chơi tuốt. Còn hơn là trống lổng không có gì. Nào, nhằm hang rào phía trước, chia hai mũi, bắt đàu tiến nhấp! Đồng chí gì vừa tới, bò với mũi chủ yếu là tôi. Bị đâu nằm đấy, không được rên la. Nhớ trở ra cho đúng giờ, tết nhất rồi, chớ có để phải nằm lại giữa rào. Tiến!
            Sau cái khẩu lệnh rung rợn và quen thuộc đến bình thản ấy là sự im lặng bao trùm. Im lặng đến tuyệt đối. Im lặng của mùi cỏ. Im lặng đến nỗi rặng cỏ gãy dưới tay nghe cứ răng rắc như tiếng củi gãy trên rừng. Gió thổi trên cao. Đất thở nồng nàn dưới ngực. Cỏ mơn man da thịt. Con dế nào ri rỉ kêu ngay bên cạnh. Một tiếng vạc nẫu buồn ở cuối ấp se lạnh. Sương rơi… thì vẫn đêm như mọi đêm, hiểm nghèo và vô địch nhưng sao đêm nay lại cứ thấy long dạ xoona xang nhiều đến thế! Bò như không phải là bò. Chiến tranh như không phải là chiến tranh. Vẫn mùi cỏ ấy, vẫn hướng đất ấy, vẫn dây thép gai lạnh tanh mùi tử thần ấy nhưng rõ rang vẫn có cái gì khác lạ; ngòn ngọt; nảy mầm, chầm chậm nhen nhẹ trong người. Đất trời như rộng hơn, thiên nhiên như vô cùng vô tận, thời gian quánh quện lại và ngay cả cái sự nhọc nhằn chết choc cũng trở thành nhẹ thỏm, rất gần mà lại xa ngái như không có thực. Nhưng lại có thực làm sao cái tiếng gà eo óc gáy báo canh một trong khu ấp chiến lược nằm im lìm dưới kia. Xa xa là Sài Gòn đang hắt lên trời một quầng sang, mờ đục, cồn cào và vô nghĩa. Thèm vô cùng được thiết lập đặt chân tới đó cũng như khát cháy cổ một giây phút thái bình để được bước khoan thai trên mặt đường trải nhựa đầy nắng, đầy gió đáng xoải dài tít tắp ở sau lưng kia. Chỉ một lần thôi… Bao năm tháng rồi, hết mùa khô lại mùa mưa, đêm nào cũng bò chỉ được một lý một tý thế này, biết bao giờ mới có thể đến nơi? Và liệu có đến hay lại vĩnh viên nằm lại ở một nơi hang rào nào?... Hai mươi chin tết. Không gian cứ tràn ngập làn gió Xuân ngai ngái cho long dạ phải ngổn ngang trăm chiều quá thể!
            Miết mạnh trán xuống cỏ ướt để lấy lại sử tỉnh táo cần thiết, tôi bắt đầu gãi nhẹ vào gan bàn chân anh chàng thổ địa đang nằm bẹp dí phái trước. Cái bàn chân cũng nhỏ và mềm như bàn chân đi học – ra hiệu trườn lên. Xem nào… xem nào… à, thì ra anh chàng trườn, của đáng tội, cũng không đến nỗi. Gọn và dẻo ra phết. Động tác tương đối chuyên nghiệp. Không phát ra tiếng sột soạt. Không quá gợn song than hình. Khá giống một tảng đất khe khẽ chuyển dịch chìm nhòa trong cỏ, chuyển dịch như không chuyển dịch gì. Chỉ phải cái hơi chậm, hơi có chiều chỉn chu quá. Chỉn chu là bí quyết thành công của binh chủng nhưng chỉn chu ngay từ hang rào ngoài cngf thế này là hơi thừa, nếu không nói là mất thời gian.
            Tôi gạt ngón tay mạnh hơn. Bàn chân phía trước hơi rung nhẹ một cái rôi tăng tốc độ. Tốt rồi. Cứ vậy mà mần tới đi cậu em!
Hàng rào thứ nhất dạng mắt cáo thong thường đã đập thẳng vào mặt. Lỗ rào hơi nhỏ, chỉ bằng nửa bàn tay, không được cắt, được gỡ, chỉ được dung móc mà móc rộng ra cho than hình chui lọt. Chuyện vặt! Cái khó là phải vừa chui vừa sờ ra được dây mìn dây trái nhỏ tựa sợi cước, lạnh buốt, nằm lẩn sâu trong cỏ trong rác của nó mà tránh. Không sờ được, nó phát nổ, cả than thể cha mạ sinh ra có khi gom lại chẳng còn đủ… một bao diêm quẹt. Xem nào… Khá! Thì ra cậu chàng chui cũng khá. Gớm, bàn tay rà trái soi nhìn hắt lên nền trời cũng thấy mềm ngọt ra dáng! Phải cái phần dưới than thể, tực phần hông trở xuống, có chiều hơi bị lệch, tí nưa thì làm cái ông lon treo ở cạnh đó bật rung lên thành sấm nổ. Nói chung, tôi cáu sườn nghĩ, phàm đã là cái anh chui rào thì mọi thứ đều phải nhỏ, nhỏ chân nhỏ tay, nhỏ đầu nhỏ ngực, nhỏ hông nhỏ đùi… Có bất cứ cái gì đó hơi cong vênh lên một chút là mệt lắm. Ngay như tôi đây, đít đai chả lấy gì làm to tát, thậm chí phần xương nhiều hơn phần thịt nhưng đã không ít bận phải bỏ quách luôn cả cái mảnh vải duy nhất che than lên gọi là si líp ra cho đỡ vướng. Gai thép cứa vào da thịt không sao, cũng lắm chỉ để lại những vết cắn rớm máu rồi vẫn truột đi được. Còn khứa vào vải ư? Chết cứng. Mất cả tiếng đồng hồ cũng không gỡ ra nổi. Có khi mất mạng luôn.
            Hàng rào thứ hai là dạng bùng nhùng. Ũng chuyện vặt! NHưng đã bắt đầu có điều bực mình. Vốn lắm tiền nhiều của, hang rào Mỹ nó xếp chồng ba, chồng tư cao lênh khênh, cứ ngồi xổm mà chui cho sướng chứ việc gì phải nằm bẹp dí bẹp dị như gián đực chết khô thế kia? Đúng là đàn bò nghiệp dư! Kiểu này cứ dầm dề theo cậu, có khi hết tết rồi vẫn không ra khỏi đây mất. Tôi gãi mạnh vào gan cái bàn chân đem rầm như chân vượn đặt ngay trước mũi. Như true ngươi, cái gan bàn chân phả hơi lạnh buốt đó chỉ hơi nhúc nhắc chút xíu rồi gần như anwmf im. Hết kiên nhẫn nổi, tôi phá lệ, tách ra. Trườn lên ngang bằng, nhìn như đổ củi, đổ lửa vào cái gì đó tròn mời gợi lên một khuôn mặt người, rít giọng, tất nhiên là rít rất khẽ thôi, chỉ nhỉnh hơn tiếng cỏ cọ lá vào nhau một chút thôi: “ Không bò được thì lui lại đằng sau! Muốn ăn cứt cả lũ ở đây à?” Cậu chàng im lặng, chỉ thấy ánh mắt đụng trời đêm nhìn lên tôi có chiều thiểu não và bối rối. Rồi cái than hình nhỏ bé và gầy yếu kia cũng chuyển dịch nhanh hơn. Tôi trườn lùi về vị trí, chìa môi nhai liếm một nhánh cỏ lạnh buốt như lưỡi rắn, thoáng một chút hối hận vì sự nặng lời rất vô cớ của mình.
            Đã hết đâu. Đến hang rào thứ ba, hang rào chót cùng mang tính chất kim loại, lại nảy ra một điều bực mình nữa, nó hoàn toàn ngược chiều với sự bực mình ban đầu. Ai đời, toàn than đang lộ ra trơ khắc ở khoảng trống, đáng lẽ phải nằm cho im để tránh những luồng đèn pha sang trắng chúng soi mói quét qua quét lại, cũng chỉ là một kỹ thuật quá ư sơ đẳng, vậy mà cu cậu cứ bò tớn lên như động tình động cỡn. Điên ruột, tôi lại làm một cú trườn ngang ngoạn mục, sát địch rồi, không thể rít răng, rít lợi được nữa, chỉ còn cách dứ dứ nắm đấm đen sĩ vào giữa cái sống mũi cũng đen sì của kẻ phá quấy mà thầm rủa: “Ngớ ngẩn thế là giết nhau, là quân… dã man giết người, hiểu chưa?” Chả biết cậu ta hiểu chưa hay hiểu chửa nhưng trong bong tối mông lung, sánh sệt, vẫn lại chỉ thấy cái ánh mắt đêm nhìn lên không còn là thiểu não nữa mà đã phảng phất màu ai oán.
            Lần này, cái nhìn đó khiến tối bất giác đã rùng mình. Giận thương, thương giận đan xen. Mà nói cho cùng, cu cậu đâu có lỗi. Lỗi là như ở quận uỷ, quận đội cắt người, là ở như chính bản than mình kiểm tra năng khiếu không đến nơi đến chốn. Vâng, đặc công là năng khiếu, tôi dung chữ này không ngoa. Thôi được, phải bình tĩnh, phải kiềm chế! Nổi nóng nữa, cậu chàng cuống quá, tè ra quần thì phiền! Mà không khéo tè ra rồi cũng nên.. càng vào sâu càng phải hết sức mát tính! Tôi tự dặn mình như thế.
            Rồi đâu cũng vào đấy. Cái phần than phần nạc đã xong. Bây giờ là đến cái phần hóc nhất, phần của những bụi tre gai xương xẩu, phần đã trở thành bất lực nhiều năm nhiều tháng của cánh đặc công cứ tự xưng là chuyên nghiệp chúng tôi và cũng là phần dành cho anh chàng đặc công địa phương nhỏ con, ít nói này có dịp thể hiện vai trò và năng lực thật sự của mình. Đó là những bụi tre già bị bỏ quên lâu ngày. Trải qua bao biến thiên, mưa nắng, nó đã sinh sôi ra hằng hà sa số những tre ông tre bà, tre mẹ tre con, tre cháu tre chắt… rối nhằng, quấn quyện, dứt không ra mà cắt đi cũng không được, bò đến đâu là ầm ầm ào ào đến đó như heo ủi rừng. Chiến tranh là có quy luật nhưng tre lại mọc không thành quy luật nên nó bỗng trở thành một chiến luỹ phòng thủ dường như bất khả kháng. Mẹ khử (Xin lỗi, dân lọ nghẹ chúng tôi vãn không sao bỏ được thói hay chửi tục mỗi khi vào trận). Mẹ… Nó vô cớ sang đây đổ sắt thép đánh nhau với mình đánh không lại, nó dung cả tre pheo của mình chống lại mình nữa thì đểu thật! Nó học ai thế nhỉ?...
            Trước tre, và sự bí ẩn nồng ngái của tre, tôi bỗng thấy mình mong manh như người sắp kiệt sức. Chỉ còn thoi thóp trông vào cái anh chàng tưởng như suốt đời im lìm kia. Anh ta sựng một chút như lấy sức, như rằng ôn nhớ một điều gì, cũng lại như đang ngần ngại đo đắn… Rõ cái than hình thiếu niên ấy bắt đầu chuyển lên, chuyển thẳng vào cái vực đen ngòm của lùm bụi. Tôi dấu đi một tiếng cười nhạt. Tưởng gì chứ thế thì bọn này mần mãi rồi chú em ơi! Thách chú qua được đấy, dẫu chỉ qua được một nửa. Giỡn hoài. Xin mời! Nói xin mời mà trong đầu tôi đang nổi cơn nóng lạnh. Nếu chú có bề gì, mà coi cái kiểu bò nhui nhủi, bò lấy được thế kia, dứt khoát là sẽ có bề gì rồi, thì đâu phải chỉ có mình chú nằm lại. Nằm lại ráo trọi ấy. Tết nhất mà cha con tha nhau vào đây nằm ngổn ngang., đầu mình chân tay mỗi thứ văng một góc, chắc cũng không lấy gì làm đẹp mắt cho lắm.
            Nghĩ vậy, tôi quờ tay giữ chân anh chàng lại định níu kéo một điều gì đó nhưng thật bất ngờ, cái đầu có đội mũ dù của tôi liền bị dội lại một cú đạp đau điếng. Và tiếp sau là những cái vỗ vỗ chân đầy kẻ cả, hơi có vẻ thương hại nữa, như ý nói: “Biết gì! Cứ nằm im đấy! Tôi vào thử trước rồi quay ra đón!”. Tất nhiên là tôi nằm im. Từ đây trở đi là đất của người ta rồi. Mình chỉ còn đóng vai trò khách. Tiếp tục giở cái trò chỉ huy lãnh đạo ra lúc này dê trở thành vô duyên lắm. Nhưng lại không thể không vùi miệng xuống cỏ mà cười nhạt phát nữa. Cứ vào thử đi. Rồi trước sau cũng công cốc thôi e ạ! Bất giác tôi nhìn theo cái tảng đất hình người kia chìm dần vào bong tối rặng tre mà ngao ngán hết cả long cả dạ. Lúc này, ghé răng khẽ vén miếng dù nơi cổ tay, thanh sang trên mặt đồng hồ đã chém chói chang vào con số 3 rồi. Chỉ còn không đầy một tiếng nữa là phải ra để tránh cái sự ló đuôi thê thảm. Vậy mà…
            Trời bắt đầu chuyển lạnh. Sương rơi nặng hơn. Sự im ắng vẫn rờn rợn bao trùm. Quầng sang Sài gòn càng về khuya càng có vẻ sáng rõ, như sự trêu ngươi, sự thách thức, nét tương phản nhức nhối với bong tối vùng tử thần này. Trời vẫn đen nhức nhối. Đen như có ai cứ mãi quét nhựa đường vào mắt mình… Giây phút chập chờn ấy, kỳ lạ làm sao, nương theo ngọn gió đêm, rõ rang cảm thấy dường như có cả mùi nhang khói, mùi bánh chưng bánh tét, mùi mứt thèo lèo… Ở đâu đó thoang thoảng tràn về. Chao ôi! Giá như giờ này có một mái nhà, một bếp lửa, một chiếc bánh tét ấm mềm trên tay? Bao giờ mới có hay không bao giờ cả? Thôi thì lạy trời đêm nay được hay không được nhưng đừng đứa nào bị làm sao. Cố gắng sang mai trở về cho nguyên vẹn để cùng làm vài món thịt rừng, vài món rau rừng gọi là đón tết. Rồi sau đó… Bỗng tôi giật nhảy người! Một chàng tiểu lien cực nhanh phóng lửa xanh lét xuống đúng cái bụi tre con người kia vừa mất hút. Trời đất! Chân tay tôi nhủn ra. Chả lẽ anh chàng dính rồi ư?... Nhưng sao không thấy tiếng rên? Hay lãnh trọn cả băng đạn vào ngực rồi? Tôi đang định bò lên xem tình hình ra sao thì bất thần hang loạt những con rắn lửa khác lại hộc lên lao về các hướng xé vụn bong đêm ra hang trăm mảnh. Đầu tôi nhẹ hẳn. Thì ra chúng bắn cầm canh, bắn doạ thôi nhưng doạ như thế cũng phải nói là hơi độc địa đấy. Hơi có vẻ phô trương cái kiểu đánh nhau con nhà giàu vãi tiền vãi đạn ra đấy. Trong cái sự xa xỉ khí tài ấy, biết đâu cậu chàng kia vẫn có khả năng bị dính đạn? Băn khoăn chưa biết lùi hay tiến thì từ chỗ bụi cây, một tiếng soạt nhẹ vang lên, nhẹ hơn cả tiếng chồn bò và sau đó là cái bong loà nhoà mờ tịt của cậu ta hiện ra. Mừng quá, bất kể đây đã lọt vào vòng tử địa, tôi gần như ôm ghì lấy cái đầu to tướng của cậu ta vào ngực mình. Đã tưởng sắp sửa được hưởng chút hơi ấm sâu xa của tình đồng đội, bất thần một cú đẩy mạnh không kém cú đạp lúc nãy khiến tôi tí nữa bật ngửa, chưng hửng. Cái thằng này lạ nhỉ! Gỗ đá chứ không phải người nữa. Coi bộ nó tính quân hằn thù với mình chắc! Được, đã thế thì chỉ có công việc! Tôi làm mặt lạnh, hất đầu ra ý hỏi: Sao? Vẫn không mở miệng, cậu ta chỉ làm động tác ra hiệu cho tôi bò theo. Bò thì bò. Nhưng mà vô lý! Chả lẽ cái thằng người oặt ẹo như miếng giẻ thấm nước này lại có thể tìm ra được lối vượt qua bức tường gai quỷ thần? Chả có lẽ. Vô lý…
            Ấy vậy mà ở đời mọi việc tưởng như vô lý nhất lại vẫn có thể xảy ra. Hì hục bò đằng sau, mới lầm bầm về cái sự vô lý ấy được vài lần thì tôi bỗng tỉnh hẳn. Chao ôi thì ra cậu ta đã tìm ra được nẻo đi thật! Tôi không còn tin ở mắt mình nữa. Chuyện đùa hay là chuyện thật đây? Chả lẽ chuyện chết choc sống còn rút cục lại được lý giải bằng một cách quá ư đơn giản thế này! Có gì đâu. Dưới những ngón tay bới móc khéo léo kia, một cái rãnh con bị bỏ quên lâu ngày đã được đất và lá phủ dày, bò ngoằn ngoèo xuyên qua những gốc tre dần dần hiện ra như thần thoại. Một cái rãnh vẩn vơ đã làm thay đổi cả cục diện tâm hồn. Vạch đất, vạch lá ra một tí, oằn lưng miết bụng xuống một tí là cả hai có thể bò thun thút như bò giữa luống cày. Sướng quá, mát long mát ruột quá, tôi ghé miệng vào sát cậu ta: “Quý hóa lắm! Sao đằng ấy lại biết có cái rãnh này?... Hồi bé chắn trâu qua đã phát hiện ra phải không?” Chỉ thấy khuôn đầu đen mun vội ngoắt ra như thể muốn tránh cái miệng đang chực cắn vào má cậu ta của tôi rồi khẽ gật gật. Chao ôi! Lúc này cái gật mới dễ thương và ngọt ngào lam sao! Bò tiếp! Hàng rào tre thứ hai cũng có một cái rãnh tương tự nhưng nông hơn, khiến mọi động tác phải chậm lại hẳn. Chậm nhưng không để bị tắc. Súng chúng nó vẫn bắn cầm canh. Ngọn đèn pha dựng ngay trên đầu vẫn không ngừng lia qua lia lại. Da bụng tôi bỗng nhói một cái ngọt xớt. Mẹ khỉ! Lại một mảnh trai hay một mảnh sành nào nó cứa vào rồi. Sao đêm nay bò biệc thế nào mà để nó cứa nhiều thế? Phải đến nhát thứ năm rồi không ít. Kiểu này sang mai về cứ chà xà bong đến đâu là xót nảy người đến đấy. Thoáng thấy thương anh chàng thổ địa. Bò rào có thâm niên như mình mà còn bị vậy, bò vỡ long tập tọng như thế kia, chắc toàn than đùi, ngực bụng không chỗ nào là không bị cào nát. Tôi!
            Lại vượt them một hàng tre gai nữa, hàng tre gai cuối cùng. Đến đây đã có thể giơ tay chạm vào tóc tai kẻ thù được rồi. Gần lắm! Gần như đang hòa nhập, đang cùng ở chung trong một hầm bê tông với chúng nó. Vẳng ra một tiếng đàn ông ngoại quốc xèo xèo, một tiếng đàn bà nội địa nấc lên, ngầy ngụa, rít rẩm, rú thé... Có cả mùi da thịt, mùi rượu lạ, mùi thuốc lá thơm khen khét như mùi thịt người cháy ngào trộn, bay ra, bốc ra, luồn sâu vào mũi, thốc cả vào mồm. Mẹ khỉ, xin lỗi, nước đời sao lại oái ăm quá đáng. Tết của mình thì mình lại phải bò. Tết của chúng nó đâu mà chúng nó lại được đú đởn như thế? Uất nghẹn cả người! Giá không vì cái quy định ngưng bắn quái quỷ ấy mà lúc này được đứng thẳng dậy lia hết cả cơ số đạn vào cao không hay vào một cái gì đó nhỉ!
            Hết cả cơ số đạn, đúng thế, coi như 1 tràng pháo, vậy thôi! Cạnh tôi, anh chàng lính thổ công xem chừng như cũng cùng tâm trạng nên cái dáng nằm có vẻ im lịm, đắm chìm lắm. Giây lâu câu ta như giật mình choàng tỉnh, nhìn sang tôi ý hỏi: Phía trước là lô cốt rồi, có tiếp tục bò nữa không. Tất nhiên là tôi lắc đầu. Qua hết hang rào là đã đạt thắng lợi chin mươi phần trăm, còn cái khu tung thâm kia ư?... Chuyện vặt. Và tôi nháy tín hiệu quay ra. Tìm được đường rồi, ra tết bò nốt. Một đêm bò , một đêm đánh nữa là xong.
            Hai thằng rón rén làm động tác xoay người thật gọn để bắt đầu làm cú mã hồi vui vẻ. Đến lượt tôi bò trước, hắn bò sau. Bò vào thì chậm mà sao bò ra thì nhanh thế. Cứ như ngựa đã quen đường. Rèn rẹt… vun vút… Chả mấy lúc chúng tôi đã quất hết nửa số rào. Nhưng cha trời! Mải bò, đến khi nhìn lại tôi hoàn toàn không còn nhìn thấy cái tảng đất hình người kia đâu nữa cả. Lạc ư? Bậy! Hay lo xóa dấu vết kỹ quá? Bậy nốt! Kỹ gì thì kỹ nhưng cũng phải bám sát lấy người đằng trước chứ! Tối tăm mỗi lúc mỗi mù mịt thế này, không dính cứng vào nhau lệch đi một chút là coi như biến hẳn vào cõi vô cùng. Khốn khổ! Lại lòi cái đuôi đặc coong xóm ra rồi. Buộc long tôi phải quay trở lại vậy. Mới trườn được một đoạn, đang căng tai, căng mắt hết cỡ nhìn ngó thì may quá, suýt nữa đầu tôi đã chạm cái cộc vào đầu hắn. Tôi lại làm một cú rít thật nhỏ vào mang tai: “Làm gì mà chậm thế? Định ngủ ở trong đó à?” Vẫn không trả lời, cậu chàng chỉ nhúc nhắc người rồi lầm lũi trườn tiếp về phía cửa rào. Đến lúc ấy, nhờ có ánh hỏa châu nhấp nhóa ở tít trên cao, tôi mới kịp phát hiện ra dáng bò của cậu hơi lạ! Bò lệch sườn, bò chếch choác, như chỉ bò bằng sức dướn của một chân, còn chân kia lại hoàn toàn thả lỏng, cứng đờ. Động tác tay cũng thế. Như khuỵu như gẫy, như không còn mang nổi thân người. Và hơi thở mới nhọc nhằn khổ sở làm sao. Thở đứt quãng, thở rin rít trong cuống mũi mà không sao thoát hơi ra được. Tôi lại ghé sát vào mang tai, mềm going thì thào: “Đuối rồi phải không? Đưa sung đây tớ mang cho!” Và cái đầu dị dạng vẫn lại khẽ lắc. Lắc gì mà lắc! Thằng dở người! Tôi giằng lấy khẩu bang xếp trên vai anh ta đeo luôn vào lưng rồi ấn khẽ xuống cái mông bôi lọ nghẹ đen xì; gớm thôi, bò lết kiểu gì mà mông miếc cong tớn cả lên thế; ra trước đi, tôi bảo, tớ ra sau óa dấu cho! Lần này thì cái đầu bướng bỉnh kia không còn đủ sức để ngúc ngoắc như bị sài lắc sài giật nữa mà ngoan ngoãn nghe theo lời của tôi, trườn ra, vẫn cái dáng trườn nghiêng lệch, nhọc nhằn và duỗi dệt.
            Tốt rồi! Vậy là cuối cùng rồi cũng kết thúc một đêm xuôn sẻ, một đêm nồng nàn khí xuân, một đêm ngạt ngào hương đất. Cám ơn! Cám ơn thần phật, cám ơn đất trời! Cám ơn anh bạn đặc công chiến hữu có cái hình dáng con nít! Cám ơn! Vừa cẩn thận vén vuốt lại từng nhánh cây ngọn cỏ, từng lỗ rào, từng cái kíp mìn đã được tạm tháo ra, tôi vừa khoan khoái đến râm ran trong bụng, chút xíu nữa thì bật ra một điệu huyt sáo vu vơ, điệu huýt mà, nếu lúc đó được tấu lên, chắc chắn đó sẽ là tín hiệu âm nhạc cuối chót của cuộc đời.
            Ra đến hàng rào ngoài cùng, bao la khoáng đạt quá, đang ngơ ngác tìm xem cái dáng nhỏ nhắn kia lẩn chờ ở đâu bất ngờ tôi đụng tay phải một vật gì âm ấm như thân người? Định thần nhìn lại thì, cha trời, đúng là thân người thật! Thân người của chính cậu ta. Bố khỉ! Tưởng anh chàng trong lúc chờ đợi, tranh thủ đánh nhẹ một giấc, tôi đưa tay véo mạnh vào cái vùng da thịt mà có thể dự đoán là vùng đùi ấy đang duỗi dài trước mặt. Quá lạ! Cái thân thể kia vẫn không hề nhúc nhíc gì? Tôi định véo một cú mạnh hơn nữa thì bất giác cả bàn tay sựng cứng lại. Chỗ ấy nhầy nhầy những nước. Vội đưa ngón tay lên… Một mùi tanh nóng xộc mạnh vào mũi! Hoảng hồn, tôi lần giờ cả hai bàn tay xuống. Một vòng băng quấn quanh đùi ướt nhoét máu và đất cấn cộm… Tôi bỗng hiểu cả. Trời ơi! Thì ra cậu ấy đã bị ngay từ loạt đạn cực nhanh ban đầu mà tôi đâu có biết, nhưng vẫn cố nín nhịn để khi đã ra đến đây, mới tự cho phép mình cái quyền được ngất xỉu. Vậy mà tôi…
            Chân mây đã có chiều chạng vạng. Quầng sáng đô thành Sài Gòn đang chuyển màu nhạt thếch. Không kịp làm cái gì có thể hơn được nữa, tôi xốc nhanh cái thân thể đang nằm thiêm thiếp kia trên vai. Chao ôi, máu ra nhiều lắm hay sao mà lại nhẹ bẫng thế này? Và chân tay sao cũng mềm quá thể đến thế? Lại còn cái gì vương vướng ở lưng, nơi có phần ngực của cậu ta đè vào? Bao đạn chăng?... Kệ! Cứ phải nhanh chóng mang đến được bờ sống cái đã rồi có cấp cứu, có hô hấp gì thì hô hấp. Hụ!... Mải bước, tôi vấp một cú ra trò vào cái quái quỷ gì không biết? Cùng với tiếng rên khe khẽ như tiếng rên của một đứa trẻ bật lên là cái mũ dù trên đầu cậu ta rơi ra. Ngay liền đó, cả tấm lưng đang bị đè nặng của tôi bỗng như có sương khói, như có hang ngàn những hạt bụi li ti phủ vào, bám vào, mơn man, lay động… Chưa kịp hiểu ra sao thì thật là quá đỗi bất ngờ, không rõ có ai tin không, tại chính chỗ đó, một tiếng con gái vang lên yếu ớt như từ một hành tinh xa xôi nào đậu xuống:
            “Đừng… Bỏ em xuống… Đau quá! Đừng anh… Má ơi!”.
18/2/12

Mất - Chu Lai


Mất
Chu Lai

Mất! Vâng, tôi không dám nói về một phạm trù mất mát gì lớn lao thuộc về số phận con người, số phận dân tộc trong thiên tai hay địch họa cả. Bởi đây chỉ là một cái mất quá ư là thường tình, một cái mất ai cũng có thể mất, ai cũng đã từng mất một lần trong đời. Đó là mất giấy tờ. Thằng con tôi đã đánh mất toàn bộ giấy tờ xe máy, giấy tờ tùy thân của nó.
Mà làm sao trong cuộc đời vốn lắm nỗi bực mình, riêng cái chuyện xe pháo này tôi đã phải chịu đến hai lần bực mình rồi. Cái bực thứ nhất là mua phải cái con xe chả ra làm sao. Nó là mác Nhật, đồ Nhật xịn từ trong ra ngoài, từ đầu đến cuối đàng hoàng nhưng khi về đến nhà, đem ra thợ bảo mông mới vỡ lẽ ra chỉ một nửa là Nhật, nửa kia, cái nửa quan trọng nhất an toàn là cái anh Trung Quốc. Coi như mất nửa tiền. Đau hơn hoạn, nhưng xe mua ngoài chợ, cá biển chim trời, làm sao có thể đòi bồi hoàn, chả lẽ lại mang cái thân già đầy bệnh tật này ra giữa chợ tỷ thí một phen cho trắng đen rõ rệt? Cuối cùng chỉ còn nước là ngồi nghe vợ cằn nhằn chồng là ngu lâu, là đã từng bắt bớ băng cướp này băng buôn lậu nọ, đã từng chỉ huy hàng trăm người xông pha nơi biên thùy, hải đảo để rồi có cái xe ranh cũng bị nó lừa. Đấng trượng phu giữa trời đất ai lại đi cãi nhau tẹp nhẹp với đàn bà, đành cằn nhằn lại con là tại nuông chiều mày, mới đi lính về có vài ngày đã nằng nặc đòi mua xe máy, tiền của cả chục năm chắt bóp mới dành dụm được bây giờ để chúng nó... lừa (Lại câu của mẹ nó) trắng mắt, sao mày không nhìn thằng bố mày đây này, cả đời toàn đi bộ hay đạp xe cọc cạch có chết ai đâu, hả?
Thằng con hai mươi mốt tuổi, cao một thước bảy lăm, mặt toàn mụn trứng cá bị mắng chỉ ngồi im lìm như sắp sửa hành quân đi xa. Mà nó lại sắp đi xa thật. Lâu lâu mới tranh thủ về được nửa ngày, có cái xe để nó nhẩy đi thăm hết bạn bè cho đỡ cuồng cẳng hoặc vi vu chở mẹ nó đi thăm bên nội bên ngoại một chập rồi tất tả vào đơn vị, sướng nỗi gì mà mắng. Mà Trung Quốc thì đã có sao. Cũng là bè bạn, cũng là cường quốc kinh tế, có phải bùn cả đâu mà hắt nước đổ đi. Biết đâu cái giống xe pháo, thứ này đi với thứ kia lại càng bền, như vũ khí Liên Xô đi với quân phục vải Trung Quốc, đã chả đánh nhau cả đời sao. Thế rồi chuyện cũng qua trong sự liên tưởng hết sức chiến tranh như vậy.
Nhưng đến cái bực mình thứ hai thì lại bực quá! Thằng con trước khi vào đơn vị mươi phút mới thông báo một câu xanh rờn: "Bố ơi! Con đánh mất hết giấy tờ rồi!". Hả? Giấy tờ nào? Giấy tờ gì? Sao lại mất? Có đúng mất thật không? Đã tìm lục kỹ chưa? ... Một đống câu hỏi bục ra như vãi trấu khiến nó quắt cả lưỡi lại: "Dạ! mất hết ạ! Giấy đăng ký, giấy phép lái xe, giấy chứng minh thư, giấy phép ra vào doanh trại, giấy ...". Trời ơi! Một con người tồn tại trên đời sao lại cần đến nhiều giấy tờ như thế cơ chứ! Nhưng mà mất thế nào? Mất ở đâu? Mất trong trường hợp nào? ... Lại một sự vãi trấu nữa. Con ... con cũng không biết. Con chỉ nhớ đã để nó ở trong cốp dưới yên... Sao lại dưới yên? Túi tắm đâu mà lại để dưới yên, đồ ngu! Con ... sợ để túi quần nó bị quăn. Quăn à? Quăn còn hơn mất. Thế mày có mở yên ra để rửa xe lần nào không? Có nhưng ... Nhưng gì! Thế trong cốp có khe kẽ gì có thể lọt được không? Con ... Thế mày có theo bạn bè vào quán xá nào không? Con ... Thế mày có mở ra để đổ xăng không? Con ... Biết là hỏi chỉ để mà hỏi chứ cái mặt xanh lét ra thế kia thì còn nhớ ra được điều gì nữa. Thế mày định thế nào? Mày định cứ thế trần trụi đi trên đường phố, trần trụi đi vào đơn vị để người ta bắt phạt, bắt làm kiểm điểm è cổ sao? Tất nhiên là nó lại im thin thít. Cuối cùng mẹ nó, một người đàn bà chưa đánh mất cái gì bao giờ, kể cả cái thứ dễ mất nhất là chồng lại là người biết cách hóa giải tình thế một cách uyển chuyển: "Ông hỏi như hỏi cung thế, đến kẻ thù nó cũng phải mất mật chứ đừng nói đến con. Còn mấy phút đồng hồ nữa, ông cùng với con thử đi lại tất cả những chỗ nó vừa nói xem. Biết đâu ...".
Thì đi! Nói chung trong những rắc rồi đời thường, đàn bà với bản năng giới tính rất ư là mềm mại thường bao giờ cũng bình tĩnh hơn. Nhưng trước khi đi, bảo nó mở yên xe xem có lòi ra cái khe, cái kẽ nào không đã... Hoàn toàn không! Kín bưng như quan tài đen, đến con giun cũng chả lách qua nổi chứ đừng nói đến cả một tệp giấy dày cồm cộm.

Bức chân dung của người đàn bà lạ - Chu Lai


Bức chân dung của người đàn bà lạ
Chu Lai

Vào một buổi tối ảm đạm, có một người đàn bà chừng trên bốn mươi tuổi đến gõ cửa phòng họa sĩ Lưu An.
- Xin phép hỏi bà là ai? Bà muốn gì ạ? - Ông nói.
Người đàn bà đưa đôi mắt đẹp và buồn thăm thẳm nhìn khắp gian phòng một lượt rồi dừng lại rất lâu trên khuôn mặt họa sĩ, lát sau mới nói chậm rãi: - Tôi đến đặt ông vẽ một bức chân dung.
- Chân dung ai?
- Người đang ngồi trước mặt ông.
Lưu An buông cây bút vẽ, nhìn lên. Trong đời cầm cọ, ông đã tiếp xúc với không ít các loại người, đã chứng kiến khá nhiều nhân vật nhưng vẻ điềm tĩnh, giọng nói tự tin thái quá ở người đàn bà này khiến ông hơi lạ. Dáng người gầy guộc, ăn vận xoàng xĩnh, khuôn mặt bình thường nếu không muốn nói có phần còn hơi tiều tụy. Tất cả chỉ có vậy thôi mà cớ sao ánh mắt lại tỏa ra nhiều vẻ tự tạo đến thế? Một đôi mắt hơi dài dại của người nghĩ ngợi nhiều. Tự nhiên ông thấy bực mình.
- Xin lỗi! Tại sao bà lại đến chính tôi chứ không phải một ai khác?
- Bởi vì tôi đã xem tranh của ông, vì người ta đã nói nhiều về ông. Tôi muốn có một bức tranh hoàn hảo, vậy thôi.
Hoàn hảo ư? Bà ta là cái gì mà lại có cái lối nói năng như một mệnh phụ phu nhân như thế? Hoàn hảo! Buồn cười! Chắc là lại một con mẹ thần kinh ngộ nghệ đến quấy rầy đây.
- Xin lỗi! - Ông cố nói bằng một chất giọng mềm mỏng để che đi cái cười giễu cợt cứ chực hiện ra nơi khóe mép - Tôi không vẽ chân dung và nói chung từ lâu tôi không màng tới thể loại này nữa. Bà có thể cảm phiền đi nơi khác.
- Tôi sẽ trả ông gấp mười người khác nếu ông vẽ.
- Gấp mười? - Tự dưng ông nổi máu tò mò - Tức là bao nhiêu thế thưa bà?
- Ba triệu.
- Ba triệu? Trời đất! - Ông trợn tròn mắt - Thế bà có biết vẽ một bức chân dung giá bình thường là bao nhiêu không? Tất nhiên bức vẽ ấy ít liên quan đến chất liệu vàng bạc.
- Tôi không biết vì hình như nghệ thuật không có giá.
- Vậy tại sao bà lại trả vậy?
- Tôi nghĩ ông sẽ có đủ tiền sống một năm để hoàn tất bức vẽ của tôi.
- Hả?... Bà nghĩ rằng, để vẽ xong bức chân dung ấy tôi phải bỏ ra một năm?
- Tôi cho là thế hoặc lâu hơn.
Tới đây thì họa sĩ Lưu An không chịu nổi nữa:
- Tóm lại bà là ai? Và bà muốn gì ở tôi?
- Tôi là một người đàn bà bình thường muốn có bức chân dung cuối đời của mình - Người đàn bà vẫn trả lời bình thản, sắc thái trong mắt vẫn không hề thay đổi - Và tôi sẽ trả công cho ông sòng phẳng, đúng như tài năng ông bỏ ra, đơn giản vậy thôi ạ!
Gõ gõ ngón tay bết mầu xuống mặt bàn một lát, ông nheo mắt nhìn người khách rồi nhìn ra ngoài khung cửa sổ, rồi lại nhìn khách... Cuối cùng ông đấu dịu.
- Thôi được rồi. Bà ghê gớm lắm! Thế bà muốn chất liệu nào? Bút sắt, sơn dầu, bột mầu hay sơn mài? Hay cả bốn thứ gộp lại?
- Tôi không quan tâm nhiều đến chất liệu, thưa ông! Đó là quyền của người vẽ. Cái tôi cần là: TÔI ĐúNG Là TÔI. Ông muốn vẽ kiểu gì cũng được, càng giản dị càng tốt.
- Vâng! Thế bao giờ bà có thể cho tôi cái quyền được mời bà ngồi để tôi bắt đầu công việc?
- Ngay bây giờ nếu ông muốn.
- Vâng, ngay bây giờ, tôi chấp nhận. Mời bà ngồi vào cái ghế ở cạnh nơi cửa sổ kia. Mời bà! - Ông nói như ra lệnh.
Buổi chiều hôm đó, với một chút thích thú, chút tò mò, hiếu thắng và cả một chút cay cú xáo trộn trong đầu, họa sĩ Lưu An lôi cái khung vải giăng đầy mạng nhện bị bỏ quên lâu ngày ở gầm giường ra và bắt đầu công việc mà không hề có một tý nào hứng thú...
... Họa sĩ Lưu An lâu nay chưa động bút vẽ một bức chân dung nào nghiêm ngắn, cũng như ông chưa vẽ được một cái gì cho ra tấm ra món theo ý nghĩa thường gọi của ngành nghề cả. Ông đang lụn bại. Lụn bại toàn diện cả về cuộc sống, kinh tế hạnh phúc gia đình lẫn sự nghiệp. Sau khi người vợ trẻ cùng nghề của ông bỏ ông ra đi cùng với đứa con trai mười hai tuổi, sau khi cái Gallery thứ hai của ông bị phá sản, bị giới phê bình chỉ trích, bị người đời quên lãng, không bán được một cái tranh nào, ông bắt đầu xa rời dần nghệ thuật. Buồn chán, thiếu thốn, cô đơn và nợ nần, ông không từ chối bất cứ một thứ gì có thể kiếm ra tiền mà ít phải đổ tâm huyết nhiều nhất: Kẻ biển, vẽ pa nô, áp phích, đắp tượng, viết khẩu hiệu... Cho tất cả các hội trường, nơi công cộng, đám cưới. Nếu có bạn bè giới thiệu, ông sẵn sàng đêm ngày lao động vào những sê-ri tranh lụa theo mô-típ quen thuộc: Cây đa, bến nước, sân đình, nhằm thỏa mãn thị hiếu cho những người ngoại quốc lắm tiền ưa mốt lạ Đông phương yên ả. Tóm lại là ông làm hết, làm đúng theo nghĩa thợ mặc dù đã có một thời ông rất đỗi khinh miệt cái từ rẻ rách này, mặc dù đã có một thời ông là tay vẽ tài hoa, luôn đứng cạnh những họa sĩ bậc thầy, cây đa cây đề của quốc gia mà không thấy tủi hổ.
Tuy vậy, cùng với năm tháng nghiệt ngã, dẫu rằng những ngón tay nghệ sĩ nơi ông đã méo mó đi nhưng trái tim nghệ sĩ chân thật trong ngực ông vẫn thập thõm đập khôn nguôi ở một chỗ nào đó sâu kín lắm. Ông day dứt, ông khổ sở, ông đau đớn, ê chề mỗi khi phải ngửa tay nhận những đồng tiền gần như của bố thí của thiên hạ. Ông triền miên nhận thấy khoảng trống rỗng nhạt thếch ở trong lòng mình mỗi ngày mỗi nới rộng mà không sao vùng thoát ra được. Ông buông lơi mình vào những ly rượu sáng đêm và để hôm sau ngủ dậy, mồm miệng đắng nghét, lại tiếp nhận thêm một cái com-măng uốn sấy tóc, chữa truyền hình tủ lạnh, chuyên trị bệnh đái đường, đái buốt, đái ra mủ... khác. Công sản ra quấy quá, tiền thu vào rẻ mạt, lắt lẻo sống qua ngày, qua cái thời ly loạn của nghệ thuật, cái thời thứ rởm cưỡng dâm thứ thật, cái thời mọi giá trị tinh thần, vật chất đều hết sức lộn sòng, cái thời chứa chấp cuộc đồng tính luyến ái dữ dội giữa ăn xài và phá phách.
Vậy thì để có ba triệu cho một bức chân dung nhạt nhẽo như thế này là béo bở quá rồi còn gì. Cám ơn trời phật đã run rủi cho con mẹ trưởng giả học làm sang ấy đến đây để ông có thể sống được một năm sạch sẽ, không phải bán linh hồn cho hè phố, không bị ba cái đái buốt, đái ra mủ kia réo gào, úp chụp lên đầu. Và như thế biết đâu chả có thể trở lại, vẽ lai được một cái gì đó của chính mình chăng? Biết đâu!... Lây lan một chút khói trá mơ hồ, ông mỉm cười huơ bút vẽ lên...
Nhưng sự đời lại không giống như ông tưởng.
Với một bức chân dung đơn giản như thế này, ông dự tính phác mộc mất một ngày, phẩy mầu hai ngày, vị chi chỉ cần khoảng ba ngày hoặc bốn ngày là xong, là nhận được tiền. Nhưng... Thật kỳ lạ! Ngay ở giai đoạn vẽ mộc, ông đã thấy cây bút trong tay mình vấp váp liên tục, vấp váp đến khốn khổ, như có một lực cản siêu hình nào đó cứ độc địa lái ngọn bút của ông đi chệch khỏi mọi thứ cảm nhận thông thường.
Người đàn bà vẫn ngồi đó, lặng phắc, cạnh cửa sổ, bình thản, đôi mắt nhìn xa xăm ra ngoài khung trời hình vuông, đôi môi mím nhẹ không ra vui cũng không ra buồn, có lúc lại nhạt nhòa vô cảm, ngồi đó mà cũng không phải ngồi đó... Chỉ thế thôi mà hai giờ đồng hồ đã trôi qua, ông vẫn không tài nào nắm bắt được cái thần sắc mà xét đến cùng là chẳng có chi đặc biệt ấy. Ông đã thay đến khung vải thứ ba, thay đến tờ crô - ki thứ tư mà khuôn mặt bình dị của người đàn bà kia vẫn vuột đi xa tít, vô hình vô ảnh. Mồ hôi ông vã ra, ngực nóng ran, sống lưng mỏi dần, hai bàn tay cóng ngọng lại tưởng chừng như là tay của kẻ khác. Ông có cảm giác mình sắp sửa lên cơn sốt rét rung võng như những ngày ở Trường Sơn năm nào... Và ông buông bút xuống, bất lực:
- Xin lỗi! Hôm nay tôi hơi... bị mệt. Hẹn bà ngày mai trở lại.
Người đàn bà chớp mắt đứng dậy, vẫn bình thản đến tê lạnh nhưng đôi mắt nhìn vào ông thật buồn, nét mặt cũng thật buồn, cái buồn sâu thẳm, xót xa mà chỉ thoáng nhìn vào, ông đã thấy mình bị ngợp.
- Ngày mai... Rất tiếc là tôi không thể trở lại được - Người đàn bà nói bằng cái giọng âm u thoảng nhẹ.
- Thế thì tôi biết phải làm sao bây giờ? - Ông gắt lên - Bà định đùa tôi chắc? Không có ai vẽ một cái chân dung nghiêm chỉnh mà người mẫu chỉ ngồi đó có hai giờ đồng hồ bao giờ, bà hiểu chưa?
- Tôi hiểu - Người đàn bà vẫn hết sức từ tốn, thậm chí lại có phần dịu dàng hơn - Chính thế mà tôi phải đi hai trăm cây số đến đây nhờ ông và tôi tin ở ông.
- Bà mang cái tin ấy đi mà thờ Chúa. Tôi chỉ là một thằng người.
- Vâng! - Người đàn bà nói sau một chút cắn môi ngẫm nghĩ - Tôi sẽ cố... cố trở lại. Nhưng nếu không trở lại được, tôi xin gửi ông tấm ảnh này. ảnh tôi chụp đầu năm, ông có thể căn cứ vào đó. Tôi xin phép đưa trước ông hai triệu. Sáu tháng sau, cũng ngày này, giờ này, sẽ có người tới đưa nốt cho ông một triệu và mang tranh về. Xin phép ông. Chúc ông thành công!
Đặt số tiền được nói trong một miếng dù pháo sáng mầu cỏ úa có chút phẩm đỏ loang trên mặt như cánh hoa niêm phong lên bàn, không để cho ông phản ứng gì, bà ta cầm lấy túi xách tay đi luôn ra cửa.
Phải mất một lúc lâu sau đó, ông vẫn chưa hiểu cái gì đã vừa xảy ra với mình và tự trong xôn xao tiềm thức, ông còn cảm nhận rõ cái hơi hướng lạ lẫm, vô hình của người đàn bà bí hiểm ấy vương lại trong lòng. Họa sĩ không bật đèn, ngồi lặng đi trong bóng tối rồi vỡ òa một tràng cười mà không hiểu mình cười cái gì?
*
Ngày hôm sau họa sĩ Lưu An treo tấm biển Đi vắng ngay trước cửa rồi lặng lẽ ngồi vào góc nhà nơi có cái khung vải trắng sáp và tấm hình của bà ta để lại kẹp bên cạnh.
Ông làm việc âm thầm và nhọc mệt. Bà hàng xóm phòng đối diện chỉ thấy mỗi ngày ông láng giềng tốt bụng và hơi lẩn thẩn mở cửa đi ra ngoài một lần ăn uống cái gì đó rồi lại trở vào khóa trái cửa. Bà ái ngại thấy mỗi ngày ông mỗi gầy đi và đôi mắt cứ long lanh như đang lên cơn sốt.
Ông đang lên cơn sốt thật! Cơn sốt sáng tạo, cơn sốt đam mê vĩ cuồng. Ông đang cô độc trải qua cơn vật vã tinh thần mà đã lâu lắm rồi nó chưa hề trở lại với ông. Những cái khung vải được thay nhau nhét xuống gầm giường. Những tờ giấy crô-ki lem nhem liên tục bị xé, vo viên quẳng vào sọt rác. Nhưng bức chân dung vẫn chưa nhích thêm được một chút nào thậm chí, bằng bề dày kinh nghiệm ông cảm thấy nó không thể nhích thêm được nữa! Quái lạ! Khuôn mặt người đàn bà cứ phồng lên xẹp xuống, lúc xa lúc gần, khi mờ khi hiện, như ảo ảnh, như ma trơi, tưởng đã nắm bắt được rồi nhưng mở tay ra lại trống trơn chẳng có gì. Có lúc ông ghì mắt vào tấm ảnh căn theo từng nét, có lúc lại che nó đi bằng giấy báo để vẽ bằng ký ức bức sốt và cũng có khi ông vẽ bằng cả hai: Nhìn và nhớ nhưng tất cả đều vô hiệu. Vẫn không đúng, không giống, vẫn không phải bà ta. Bà ta... Đến bây giờ nghĩ lại, nhớ lại, chiêm nghiệm lại, ông mới chợt nhận ra rằng khuôn mặt ấy không nhợt nhòa như ông tưởng. Một khuôn mặt vừa dịu hiền vừa cương nghị, vừa u hoài vừa rộn ràng sức sống, sâu sa và bồng bột, vừa ấm nóng vừa lạnh tanh, đằng sau cái vẻ bình thản kia là cả một dòng lũ nội tâm chảy xiết, lặng tờ đấy nhưng lại thật nhiều giằng xé, yếu đuối vô cùng mà lại sắc sảo biết bao... Và đôi mắt nữa! Dường như có cả một trời những mâu thuẫn, những nét nghịch đảo cùng ẩn chứa đằng sau cái vẻ buồn dìu dịu ấy. Trời ơi! Có lẽ mọi điều nan giải, mọi điều bí mật về hạt nhân hình họa đều nằm cả trong đôi mắt này.
Thời gian lặng lẽ trôi qua trong căn phòng nhỏ. Một tháng... Hai tháng... Rồi ba tháng... Phần phác thảo mộc vẫn chưa xong. Người đàn bà cũng không thấy trở lại nữa!
Đã có lần ông đã quyết định đóng cửa phòng đi tìm nhưng ra đến ngã ba, ông lại quay trở vào. Bà ấy, con quỷ hiện hình ấy có để lại một mẩu địa chỉ nào đâu ngoài cái gói tiền chết giẫm có cánh hoa đỏ loang ra trên miếng dù xanh pháo sáng kia. Ông đã nghĩ. Nếu bà ta quay lại, dứt khoát ông sẽ trả lại tiền, nếu cần trả cả lãi suất luôn thể để thoát khỏi cái cảnh bẽ bàng này, để đêm đêm khỏi bị cái khuôn mặt có đôi mắt quái dị kia ám ảnh nữa. Đúng là quái dị thật! Người đàn bà hiện về từ cái thế giới hư vô quái dị nào để làm tình làm tội ông đây?
Mà cũng thật kỳ lạ! Đã có lúc mệt mỏi quá, ông quẳng ráo trọi cả đồ nghề ra vườn, quyết định không vẽ nữa. Nhưng nửa đêm, không hiểu sao, như có một ma lực hối thúc, ông lồm cồm trở dậy nhặt lại từng cái. Nỗi nhọc nhằn phi thực này lâu dần đã ăn sâu vào đầu óc ông, càng nhọc nhằn, ông lại càng thấy gắn bó vô hình với nó, rồi như không thể thiếu được nó. Nó và ông, hai thành phần ghét bỏ nhau đã nhào trộn vào nhau thành một. Tâm hồn ông cựa quậy, trái tim ông thắt bóp, mạch máu ông chảy mạnh hơn, trong ông đang biến cải, đang rục rịch sống lại một cái gì lạ lắm, thân thiết lắm nhưng cũng xa ngái lắm mà ông không tự biết...
... Cũng vào một đêm như thế, sau cả một ngày làm việc mụ mị, họa sĩ rơi người vào trong một vùng ký ức xa xôi mà đã lâu lắm rồi ông không còn nhớ đến... Đó là một đêm mưa rừng rơi không dứt, gió lạnh mang theo những hạt mưa li ti từ khắp nơi thổi qua kẽ lá. Trong lán chỉ có hai người: Ông, một họa sĩ trẻ mới từ nước ngoài trở về tình nguyện xin vào ngay chiến trường và cô gái giao liên đang trên đường dẫn ông đến binh trạm. Ngọn lửa nhỏ bùng lên, soi tỏ khuôn mặt trẻ thơ mịn màng. Quần áo cô ướt sũng, bó dính lấy cái cơ thể nở nang, tròn lẳn của độ tuổi đang sức mười tám đôi mươi. Lửa vẫn nổ tí tách. Không hiểu do lửa hay hơi ấm từ cái thân thể rừng rực kia tỏa ra, ông bỗng thấy nóng ran cả người. Đột nhiên ông muốn vẽ và khe khẽ yêu cầu cô cứ thế ngồi yên lặng. Rừng đêm... Mưa gió... Chiến tranh... Chết chóc... Đời con gái gian nan... Ngày mai cái gì sẽ xảy ra với cô? Liệu có còn được gặp lại nhau một lần?... Dòng cảm xúc lãng mạn và ngậm ngùi choáng ngợp, ông vừa vẽ vừa thấy lòng mình rung lên khác lạ... Cô gái vẫn ngồi lành hiền như con sóc, con chim bé bỏng ướt át tội tình lên ánh lửa. Một khuôn mặt cằm tròn, một nước da xanh mầu lá đang ửng hồng, một sống mũi xinh xinh, một đôi mắt nhìn đi đâu xa xăm về phía bên kia ánh lửa, lửa chơi với trong mắt, lửa viền quanh má cô một đường sáng tạo nao lòng... Rồi đột ngột đôi mắt ấy quay lại phía ông. Đôi mắt ấy không rời ông ra nữa. Đau đáu, khắc khoải, chới với, dạn dĩ và xót xa đến ngượng ngùng. Trái tim ông ớn lạnh. Thân thể cường tráng nơi ông hối thúc ông được che chở, được hong khô, sưởi ấm. Mắt ông bắt ánh lửa trong mắt cô, cháy lên. Ông tiến lại... Ai đã trải tấm dù pháo sáng mầu cỏ úa trên vai cô xuống nền đất ẩm? Em chết mất!... Khuôn ngực căng cứng của cô nâng ông lên, sưởi ông và dìm ông xuống, chìm lịm, ôi anh! Ôi anh!... Em chết mất!... Cô cắn vào vai ông đến rớm máu. Suốt đời em sẽ chờ anh! Cô nói lên, đôi môi nhỏ nhòa máu và nước mắt... Khi đỡ cô ngồi dậy, dường như ông thoáng nhìn thấy có một chút sắc đỏ vương lại trên lá dù mầu cỏ úa...
Sáng hôm sau trở dậy, ông không còn thấy cô gái đâu nữa! Một đoàn khách cần cô nhanh chóng dẫn ngược trở lại để tránh tọa độ B52. Còn ông, sau một chút bâng khuâng, ông tiếp tục hăm hở đi sâu xuống mặt trận. Sâu nữa... Và từ ấy, bao cảnh đời đã trôi qua, bao trận đánh đã ập vào, vài ba cô gái khác cũng đã đến với ông rồi lại đi, thú thật ông không có thời gian nghĩ đến, không kịp nghĩ đến cô nữa - Một cô gái giao liên ngẫu nhiên gặp giữa rừng mà vội vàng tới nỗi, cái tên cô ông cũng không hỏi kịp! Rồi hòa bình...
Tiếng nổ cháy rừng và mùi khét lẹt xộc lên khiến ông choàng tỉnh... Một ngọn lửa nhỏ đang phực lên nơi khung vải ông đang vẽ dở. Ngọn lửa đang liếm gần vào tấm ảnh người đàn bà. Tấm ảnh cong lên... Ông chợt nhớ đêm qua mất điện, ông phải đốt nến làm việc rồi mệt quá thiếp đi. Lát sau, khi ông cuống quýt dập rụi được ngọn lửa thì tấm ảnh đã cháy sém hết một phần ba!... Nhưng chính hai phần còn lại đã làm ông sững sờ!... Chao ôi! Dưới quầng sáng nhập nhòa của cây nến mới được đốt lại, trong cái mùi khen khét quá ư quen thuộc của rừng bị đốt cháy, của bom đạn còn vương vất đâu đây, khuôn mặt người đàn bà bỗng dưng mềm lại, trẻ thơ mịn màng, đang rọi về ông cái ánh nhìn bé bỏng, tội tình và có phần trách móc... Ông vồ lấy tấm ảnh đưa ra sát ngọn nến... Nhưng rồi ông lại buông rơi xuống, tuyệt vọng! Khuôn mặt có viền sáng nôn nao của cô gáo giao liên năm nào không còn nữa, trong hình vẫn chỉ là nét mặt bí hiểm của người đàn bà đang nhìn ông hết sức dửng dưng.
Nhưng như thế cũng là đủ.
Cái khoảnh khắc ma quái không rõ từ trong ông tỏa ra hay do chính tấm ảnh kia xuất thần, như một chớp lửa rừng già, đã làm đầu óc ông sáng bừng lên. Ông đã hiểu mình phải vẽ cái gì và vẽ như thế nào rồi. Trời ơi! Tất cả chỉ là một chút ánh hồng nơi khóe mắt và một nét phẩy nhỏ ở khóe môi. Chỉ thế thôi là khuôn mặt người đàn bà kia sẽ khác hẳn mà tại sao suốt ba tháng trời vật lộn mà ông không thể nghĩ ra? Phải chăng ngọn lửa rừng năm ấy và ngọn nến cháy lan vào ảnh hôm nay đã soi tỏ cho ông một chi tiết mà nếu có khổ công tìm tòi cả đời trong phòng kín chắc cũng không ra?
Toàn bộ cảm hứng nơi ông tưởng đã giá lạnh, giờ đây bỗng nóng bức trở ngược về quá khứ, trở ngược về những năm tháng đau thương và lãng mạn, những năm tháng quá đỗi nhọc nhằn nhưng cũng là những năm tháng trong trẻo, đẹp đẽ nhất đời ông, thế hệ của ông. Và ông vẽ. Vẽ đêm ngày mài miệt. Tấm biển ĐI Vắng vẫn im phắc treo ngoài cửa. Những khung vải không còn bị vất xuống gầm giường, những tờ crô-ki dày dặn đã nằm yên trên giá. Bức phác thảo xong, ông định sử dụng bột mầu nhưng sau đó ông lại quyết định xử lý những gam mầu chói gắt và thâm trầm của sơn dầu. Tất cả chỉ là một chút ánh hồng thẳm sâu nơi khóe mắt, một nét phẩy nhỏ ngọt ngào nơi khóe môi, một đường viền tỏa rạng nâng cả khuôn mặt lên khỏi mọi nỗi gian truân và ngầu bọt. Cái gian truân của ngày hôm qua và cái ngầu bọt ngày hôm nay. Ông lại đang bồng bềnh trong một cơn sốt. Cơn sốt đam mê của sáng tạo. Cơn sốt quá khứ. Ông không chỉ vẽ một bức chân dung, sâu đậm hơn, ông đang sống lại và làm sống lại qua hình ảnh của người đàn bà đó một thời trai trẻ sống động, thuần phác tươi nguyên của mình. Đã lâu lắm rồi ông mới lại có những khoảnh khắc sáng tạo hết mình, sáng tạo thăng hoa đến tan chảy thế này.
Đúng sáu tháng sau, bức chân dung được hoàn tất bằng một nét chấm phá táo bạo cuối cùng. Họa sĩ gần như kiệt sức, thân thể gầy tọp đi đến năm ký lô, tóc bạc nhiều hơn nhưng riêng đôi mắt lại bàng bạc một cõi tĩnh lặng siêu phàm.
Tắm rửa sạch sẽ, cạo râu, thay một bộ đồ mới, ăn một bữa cơm tiệm thật ngon, ông trở về ngồi im lặng ngắm bức tranh, bồn chồn chờ chủ nhân của nó đến tiếp nhận. Nắng chiều từ ngoài cửa sổ tràn vào dịu nhẹ. Khuôn mặt người đàn bà sáng tỏa trong một vẻ đẹp nội tâm khác lạ. Vẫn là khuôn mặt ấy nhưng thấm đậm hơn, thần sắc hơn. Vẫn là cái ánh nhìn dìu dịu buồn ấy nhưng lại lom dom cháy những đốm sáng của sự vị tha nhân hậu, của sự sắt son chung thủy bên trong. Nhìn vào đó, tâm hồn ta bỗng tự dưng yên ả dù cuộc đời có ngang ngửa thế nào cũng chẳng nỡ đánh mất niềm tin. Đôi mắt biết nói, biết chia sẻ và biết tâm tình se sẽ. Đôi mắt của cô gái giao liên áo quần sũng ướt ngày nào pha trộn với cái nhìn điềm tĩnh thể tất của người đàn bà đã luống tuổi hôm nay.
Một tiếng gõ cửa khe khẽ vang lên... Cô ấy rồi! Bà ấy đến rồi! Người họa sĩ già reo thầm một tiếng trong đầu. Chao, tối nay nếu có thể được, ông sẽ nói với bà ấy thật nhiều, sẽ ôn lại, kể lại mọi thứ chuyện và nếu... Nếu bà ấy không để bụng, không ruồng rẫy, không oán trách thì biết đâu... Phải, biết đâu hai người có thể sống lại những giây phút đã lùi xa bên ngọn lửa giữa cánh rừng bom đạn ấy? Với tâm trạng hết sức bồi hồi, ông run run đặt tay lên nắm đấm cửa...
Nhưng hiện ra trước mặt ông không phải bà ta mà lại là một cô gái mảnh khảnh có cái nhìn tư lự. Cô ta mở to đôi mắt khá đẹp nhìn ông một lát rồi nói nhỏ:
- Bà hiệu trưởng nhờ cháu đến bác lấy bức tranh.
- Bà hiệu trưởng nào? - Ông hỏi với giọng có chiều hụt hẫng.
- Bà hiệu trưởng cách đây đúng sáu tháng đã đặt bác vẽ một bức chân dung.
- Nhưng... Thế bà ấy đâu - Giọng ông đã tỏ ra sốt ruột - Và cô là ai?
- Dạ, đây là thư của bà ấy, bác đọc sẽ rõ.
Mải cập rập xé chiếc phong bì dán rất cẩn thận, ông họa sĩ không để ý thấy cô gái đang quan sát căn phòng của ông cũng vẫn bằng đôi mắt chậm rãi dìu dịu buồn của người đàn bà cách đây sáu tháng kia.
Bức thư viết bằng nét chữ rời rạc, có đôi đoạn gẫy vụn:
"Anh Lưu An!
Chắc anh đã vẽ xong bức chân dung và chắc anh cũng đã nhớ ra em là ai. Xin lỗi đã làm cho anh phải nhọc lòng và phải nhớ những điều không nên nhớ. Anh biết không? Sau cái đêm ở lán ấy, em đi tìm anh khắp nơi, đi hỏi tin anh ở khắp mọi chỗ nhưng có người nói anh đã chuyển ra Bắc, người khác nói anh đi xuống sát ven đô, lại có người bảo anh bị thương, bị sốt rét ác tính chết rồi! Buồn quá! Em khóc suốt một tuần rồi làm một mâm giữa rừng giỗ anh. ít tháng sau em được điều đi học. Ra trường em lấy chồng, sinh con nhưng hình ảnh anh không lúc nào nguôi ngoai trong em. Đó là mối tình đầu, là lần hiến dâng thứ nhất, trọn vẹn và say đắm không bao giờ có được nữa. Anh có tin không? Có lẽ cái vết đỏ vương lại trên tấm dù mầu cỏ úa, dấu hiệu một đời trinh trắng hiến cho anh đêm đó sẽ nói hộ em nhiều hơn những điều em muốn nói.
Thế rồi một lần đọc báo thấy hình anh và phòng tranh GALLERY đầu tiên của anh, em đã mừng đến rơi nước mắt. Em đã lén đến đó để được nhìn anh, chứng kiến thành công của anh và cũng để biết anh có... gia đình, một gia đình thuận hòa, ấm cúng và đàng hoàng. Người ta bảo thế. Trước tình cảnh ấy, em tự cảm thấy mình thừa, thấy là rất vô duyên nếu đứng ra nhận anh. Nhận để làm gì khi giữa hai người không còn gì nữa, khi anh đang được vầng hào quang của thành công vây bủa bốn xung quanh và nhận làm gì khi nghĩ rằng, chắc gì anh đã còn nhớ em, một con bé giao liên mờ nhạt ngẫu nhiên gặp giữa rừng rồi sớm mai lại chia tay. Thì đến ngay cái tên của em anh đâu đã kịp hỏi kia mà! Thế là em ầm thầm đi ngược lại trăm cây số trở về...
Nhưng, giống như sự ám ảnh của vô thức của một thời sôi nổi không thể dùng lý trí thoát vùng ra được, thỉnh thoảng em vẫn đến với anh. Đến để không dám vào, đến để chỉ lảng vảng ngoài đường nhìn qua hàng song sắt vào phòng vẽ của anh rồi lại lủi thủi ra về. Chính trong những lần như thế, em đã được biết được gia đình anh không còn thuận hòa như trước. Vợ anh không yêu anh. Anh bỏ bê công việc, cái GALLERY thứ hai của anh không có tiếng vang... Có lần nhìn anh bơ phờ đi lại trong phòng, tóc bạc từng đám, hai mắt trũng sâu, tay cầm cái bánh mì mà không đưa lên miệng nhai nổi, thương quá, em đã định cứ liều vào với anh, chăm sóc anh, được nói với anh vài điều nhưng rồi em lại quay đi. Là đàn bà với nhau, dù có thế nào em cũng không thể nhân dịp này mà nhảy vào chiếm chỗ của cô ấy. Em không thể. Rồi vợ chồng anh chia tay. Rồi anh xa rời nghệ thuật, anh hoàn toàn không còn là anh nữa...
Đó cũng chính là lúc em bắt đầu phát bệnh do thứ chất độc da cam đã ủ trong thân thể từ hồi ở rừng mà không biết. Em biết mình không còn sống lâu nữa và càng cồn cào nghĩ đến anh. Và thế là em đã quyết định tìm đến anh để đặt vẽ một bức chân dung. Em đâu có thích chân dung nhưng thấp thỏm hy vọng rằng nó sẽ là cái cớ để nhắc anh trở về với những năm tháng tốt đẹp nhất của chúng ta, để mong anh tĩnh trí lại. Thế thôi. Và không hiểu sao em tin anh sẽ tĩnh trí được.
Anh Lưu An! Khi anh nhận được thư này thì em đã đi rồi. Đi xa lắm! Phận em thế là xong, hoàn toàn thanh thản. Chỉ áy náy về anh như áy náy về một cái gì thân thiết nhất nhưng cũng mỏng manh không có thật nhất của đời mình. Lạ thế! Trong trái tim yếu đuối của đàn bà chúng em, có những góc sâu lắng mà đàn ông các anh ồn ào không bao giờ hiểu nổi đâu.
Em đã đến giờ phải đi... Em cầu mong cho anh sức khỏe, niềm vui, nghị lực và trở lại đúng là anh những ngày ấy. Xin trả nốt anh số tiền còn lại nhưng không phải số tiền một triệu mà là mười lăm triệu. Cả cuộc đời, cộng thêm vài lần đi nước ngoài, em đã dành dụm được, chỉ có thế. Em để lại cho chồng em một nửa và anh một nửa. Anh có thể sử dụng nó vào GALLERY thứ ba của anh tới đây được không? Em mong...
Bởi vì, đây mới là điều hệ trọng nhất: Cô gái cầm số tiền này đến anh để lấy bức chân dung chính là giọt máu anh đã để lại trong em sau cái đêm rừng mưa rơi không dứt ấy. Tên nó là An!
Vĩnh biệt anh!"
Đọc xong lá thư, mắt nhòa lệ nhìn lên, người họa sĩ già bỗng thảng thốt rùng mình... Trời! Có phải cái cô gái giao liên áo quần ướt sũng có đôi mắt ngây thơ, khắc khoải bên ngọn lửa lán trại năm nào đang đau đáu nhìn ông kia không?
- Con!... Tiếng gọi thốt lên từ buồng phổi ọp ẹp không đủ sức thoát ra ngoài mà lại chìm sâu vào gan ruột.
12-1991