Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Thế Hy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Thế Hy. Hiển thị tất cả bài đăng
2/6/12

Nguồn cảm mới - Trang Thế Hy

Nguồn cảm mới
Trang Thế Hy

I.
Giữa mùa mưa năm 1948, như một giề lục bình trôi,tôi tấp về sông với một người chị họ, chủ một cái quán cóc nghèo ở cuối một ngõ hẻm lầy lội thuộc một vùng ngoại ô Chợ Lớn. "Sự nghiệp" của tôi gồm có chứng sốt rét rừng trong cơ thể và một nỗi ê chề buồn nản trong tâm hồn dao động hoang mang vì không ức đoán nổi cuộc chiến tranh đẫm máu đang kéo dài trên đất nước chừng nào chấm dứt.
Chồng chị, một người thợ cưa chất phát, hiền lành bị "bao bố" (*) nhìn mặt bắt đi biệt tích từ ba tháng trước, bỏ lại cho chị bốn đứa con thơ và một nỗi đau buồn không được phép công khai biểu lộ.
Chị em nhiều năm xa cách gặp lại tình cờ giữa thời loạn lạc, niềm vui ấy tưởng không bút mực nào tả xiết nhưng nó rất mỏng manh, hời hợt vì bị đàn áp bởi những lo âu, sợ sệt triền miên. Tôi mua lá chèn lại mái nhà dột, mượn vá vét đường mương, chữa lại mấy cái ghế ba chân, mấy cái bàn khập khễnh, dọn quét cho cái quán bớt vẻ thảm hại, và giúp đỡ chị trong công việc lặt vặt hàng ngày : bửa củi, pha cà phê, tắm rửa mấy đứa cháu… Lần lần thấy cũng quen và vui vui. Tối lại, sau giờ giới nghiêm, tôi cắm đầu viết tiếp một tiểu thuyết đang bỏ dở. Khách hàng của chị tôi gồm những người nghèo trong xóm : phu xích lô đạp, thợ cưa, thợ máy, thợ hớt tóc và mấy cô gái quen mặt của cái ổ mại dâm công khai ở ngay đầu ngõ hẻm. Sáng nào cũng có năm ba khách chơi hoa, phờ phạc, rã rời sau một đêm trác táng, xách vài tờ báo đến chụm đầu bên những cốc cà phê mà bàn chuyện năm châu. Sau khi cãi vã dài dòng về Tàu, Nhựt, Mỹ , Nga, kết luận của họ thường thường rất đơn giản : trái đất mỏng manh nầy không còn đứng vững được mấy ngày. Sớm muộn gì nó cũng biến thành tro bụi vì chiến tranh nguyên tử.
Mấy ả giang hồ lơ đãng ngồi nghe, không tán thành, cũng không phản đối, lớp phấn son loè loẹt, sau một đêm dài chịu đựng đủ thứ trò phũ phàng của khách chơi hoa, không còn che đậy nổi cái tiều tuỵ rã rời của thân thể hao gầy.
Ngồi nhìn họ và nghe họ nói, tôi thương cho cuốn sách của tôi trong đó tôi chủ tâm xác định cái chiến thắng tất yếu, sau cùng của đạo lý trước cái thắng thế tạm thời của dục vọng xấu xa. Tôi mất tin tưởng lần lần. Ngon lửa yêu đời tàn lụn trong tim lạnh , và có nhiều đêm tôi cắn bút nhìn đèn đến sáng mà tập bản thảo vô duyên không thêm được một dòng mực mới nào..
Một buổi sáng mưa dầm, quán cà phê nghèo thưa khách, môt tư chức mới quen ngậm ngùi nói nhỏ vào tai tôi:
- Tôi biết anh đau lòng lắm vì những điều nghe thấy. Nhưng có gì lạ đâu! Anh chưa từng nhịn đói nên anh chưa biết . Ai cũng muốn làm người lương thiện. Nhưng người lương thiện cũng phải có ăn mới sống như mọi người . Khi bụng đói phải đem bán cái gì mình có để ăn. Người nghèo thì có cái gì ngoài sức lao động ? Đem lao động bán không người mua, rốt cuộc cũng phải bán tới những cái đáng lẽ không nên bán. Chính tôi hồi năm ngoái, giữa những ngày đói lạnh vì thất nghiệp, có lần tôi đã tiếc rẻ tại sao tôi không phải là một người phụ nữ để có thể làm gái điếm nuôi thân. Sự đời nó vậy! Cười lên đi bạn ơi! Buồn mà chi .
Tôi không đáp vì chưa có lý để đáp. Tôi nghĩ đến những cô gái nhỏ tóc mới chấm vai, môi vừa ửng đỏ, hồn nhiên trinh bạch như tờ giấy trắng, con em của những người nghèo trong xóm, trong vài năm nữa tránh sao cho khỏi một số lớn phải sa vào vũng bùn nhơ vì sinh kế. Trong số đó, tôi để ý đến một em người Tàu lai chừng mười lăm tuổi sống với nghề gánh nước mướn để nuôi cha. Cha em là một lão Hoa kiều già yếu, bịnh hoạn tối ngày nằm một chỗ. Tên em rất đẹp: Hứa Lệ Mai. Và người em cũng đẹp như tên em, cái đẹp hồn nhiên khoẻ mạnh của người lao động. Cơ thể em vì chưa phát triển hết mức của tuổi dậy thì nên chưa có những đường cong tuyệt mỹ của người thiếu nữ đương xuân, nhưng hứa hẹn rất nhiều nét đặc sắc quyến rũ được khách đa tình trong vài năm sắp đến.
Tôi chú ý đến em không phải chỉ vì em đẹp. Chính cái hồn nhiên tươi trẻ của em đã chận đứng được tư tưởng bi quan, yếm thế lúc nó sắp hoàn toàn chiếm cứ linh hồn tôi. Chưa bao giờ tôi bắt gặp em buồn. Nhà em ở cách nhà chị tôi ba căn phố hẹp. Khuya nào trong chuyến đi đầu tiên , em cũng quảy đôi thùng không , ghé quán gởi một cái ly mua cà phê để bận trở lại bưng về cho cha.
Từ đó em gánh cho tới hai giờ chiều, trung bình chừng sáu chục thùng nước, chỉ nghỉ vào buổi trưa một lát để lo cơm nước. Buổi chiều, đôi khi rảnh, em lội xuống cái ao sình trong xóm mua rau muống gánh bán dạo. Làm lụng cực nhọc như vậy , mà em luôn luôn vui vẻ với mọi người. Ít khi nghe em than mệt nhọc hay phàn nàn về cuộc đời nghèo cực. Lúc gánh nước, hái rau, em thường hát nho nhỏ nhiều điệu hát Tàu ngăn ngắn rất vui tai. Cũng ít khi nghe em trầm trồ một ngôi nhà đẹp hay mơ ước thèm thuồng một món ăn ngon, một bộ quần áo mới. Cái vui vẻ hồn nhiên trong cảnh ngộ đáng buồn của em làm tôi suy nghĩ. Tôi tự hỏi : "Cái triết lý yêu đời đó xuất phát từ đâu ? Sao em tìm thấy mà tôi không thấy ?".
***
Tháng sau, tôi được biết lý do yêu đời của Lệ Mai. Nó rất giản dị . Em nói :
- Chính nhờ vui mà em mới chịu đựng nổi cảnh nghèo. Nghèo mà buồn nữa thì có nước chết luôn.
- Nhưng làm sao mà em vui được trong cảnh nghèo ?
- Trong xóm, ai cũng khen em siêng năng, chịu cực giỏi, ăn ở với cha có hiếu. Ai cũng thương em. Điều đó làm cho em vui.
- Đó là chuyện bây giờ. Có khi nào em nhìn cái cảnh bán phấn buôn hương ngoài đầu lộ kia mà ngao ngán cho tương lai của em không?
- Không. Bởi vì em có định trước trong bụng rồi. Cùng quá thì chết, chớ không làm như vậy!
- Nhiều người trong số phụ nữ đó trước kia chắc cũng có nghĩ như em…
Mắt Lệ Mai sáng lên . Có vẻ như em cảm thấy bị xúc phạm :
- Bà cô ruột của tía em bên Tàu hồi còn là con gái đã nhảy xuống giếng tự tử để khỏi làm nàng hầu cho một ông quan hung ác. Em tin rằng em có cái máu dám chết đó của dòng họ bên nội.
Tôi mỉm cười gật đầu, hoài nghi cái quyết tâm của cô gái Tàu lai 15 tuổi. Em hỏi lại tôi :
- Thằng Hải, con chị Ba nói đêm nào anh cũng thức viết tới khuya. Anh viết cái gì vây?
- Tiểu thuyết.
- Tiểu thuyết anh nói cái gì đó ?
- Nhiều chuyện lắm. Trong đó có một cô gái đau khổ đang do dự trước sự lựa chọn : hoặc chết hoặc làm gái điếm…
Tôi ngưng nói nhìn Lệ Mai dò xét. Em nóng nảy hỏi phăng :
- Rồi kết cuộc ra sao ?
- Chưa có kết cuộc. Tôi cũng do dự như cô gái của tôi vậy. Bắt cô làm gái điếm tội nghiệp quá. Để cô ta chết thì tôi không nỡ…
Lệ Mai lắc đầu, bĩu môi:
- Nói anh đừng giận. Có khi tại anh nhát gan rồi cô gái của anh cũng nhát gan theo. Anh nên cho cô gái đó có cái máu dám chết như bà cô của cha em bên Tàu đi.
Lệ Mai nói xong, quảy thùng ra vòi nước. Tôi lặng lẽ nhìn theo chưa hết hoài nghi.
Hai hôm sau, tôi được dịp thấy Lệ Mai buồn. Tờ mờ sáng, nhiều người trong xóm bị "bao bố" nhìn mặt lùa lên xe bít bùng chở đi. Em đứng ở vòi nước nhìn họ, đôi mắt long lanh ướt lệ. Té ra, em không phải là một cô gái không biết buồn. Nhưng em buồn đúng chỗ. Chiều lại tôi cũng đi để tránh cái tai hoạ bị lùa lên xe bít bùng. Lệ Mai không khóc bằng đôi mắt như buổi sáng nhưng khóc bằng giọng nói nghẹn ngào :
- Anh nhớ đừng để cô gái đau khổ của anh làm gái điếm. Tội nghiệp lắm!
Cái buồn đẹp làm cho người đẹp càng thêm đẹp. Tôi gật đầu hứa sẽ y lời.
II
Một buổi chiều cuối tháng 10 năm 1954, tôi trở về xóm cũ sau nhiều năm lặn lội bôn ba. Nhà cửa cảnh vật lạ huơ lạ hoắc. Chỉ trong vòng 6 năm, bốn đám cháy đã đổi thay hẳn bộ mặt của xóm nghèo. Khó khăn lắm tôi mới tìm được nhà bác Tư xích lô đạp ở khít vách chị tôi hồi trước. Bác cho biết chị tôi và các cháu đã đùm túm nhau đi đâu không biết sau đám cháy đầu tiên. Chuyện trò giây lát, tôi hỏi tin tức Lệ Mai . Bác Tư cho biết cả hai cha con đều chết trong đám cháy thứ hai sau lúc tôi ra đi chừng vài năm. Người cha chết liền tại chỗ. Lệ Mai bị phỏng nặng vô bệnh viện mới chết. Một chi tiết làm nhiều người thắc mắc : lúc đập cửa để xông vào căn nhà đã bốc cháy, thay vì nghe Lệ Mai mở chốt cửa, người ta nghe em gài thêm một cái chốt nữa. Riêng bác Tư thì không ngạc nhiên . Trước đó mấy hôm, Lệ Mai tâm sự với cô Ngọc – con gái của bác – rằng em rất buồn, không muốn sống nữa nhưng chết thì không nỡ bỏ cha già hiu quạnh. Từ nhiều năm rồi , cha em cầm cự được với bịnh tật để sống lây lất không phải chỉ bằng số tiền của em làm lụng để phụng dưỡng. Thỉnh thoảng ông phải lén lút nhận tiền của một phú thương trong Chợ Lớn qua trung gian của một mụ mối lái chuyên săn gái tơ cho trọc phú. Mụ nầy đã "dòm ngó"ù Lệ Mai từ lúc em 12 tuổi, từng dắt em đến cho tên trọc phú kia nhìn thấy và ưng ý. Bây giờ đã đến lúc món hàng phải được trao tay cho người mua. Tương lai của những cô "tớ gái nàng hầu" kiểu phong kiến Tàu ấy sẽ bị đem bán lại cho các ổ mại dâm khi các em đã trở thành những món đồ chơi nhàm chán.
- Con "xẩm" con ngang bướng đó nó gan dạ và liều lĩnh lắm. Nhiều người cho rằng nó quá hoảng hốt đâm ra mất trí. Tôi thì tôi cho rằng nó… nó mượn ngọn lửa để kết liễu cuộc đời bịnh hoạn của cha nó rồi nó tự thiêu luôn.
Bác Tư kết luận bằng một sự áng chừng như vậy.
III
Hứa Lệ Mai.
Sự áng chừng của bác Tư xích lô về cái chết của em, kể lại cho một người khác nghe, có thể cứ còn là một sự áng chừng.
Với tôi, nó lập tức trở thành điều khẳng định. Tập bản thảo ngày xưa hãy còn đây và cô gái hiếu thảo với mẹ cha, chung thuỷ với người tình trên trang giấy của tôi vẫn còn do dự không dám chết. Cô ta nhát gan hay người cầm bút nặn ra cô là tôi đây mới là kẻ nhát gan như có lần em đã nhỏ nhẹ chê bai tôi kèm theo lời khuyên nhủ biểu tôi đừng giận ?
Tôi chưa viết tiếp cái chung cuộc của câu chuyện lên trang giấy nhưng trong ruột gan tim não tôi, cô gái chung tình mà nhẹ dạ trong tiểu thuyết - với chút máu dám chết mượn từ hồn phách của Lệ Mai – đã tự kết liễu cuộc đời mình để giữ vẹn cái gì cần giữ vẹn.

Sài Gòn 1957
T.T.H
Chú thích:
(*) Lúc bấy giờ, cảnh sát Sài Gòn thường trùm lên đầu bọn điềm chỉ những cái bao bố được khoét lỗ chỗ đôi mắt để chúng khỏi bị nhân dân phát hiện.
Tôi sẽ viết như vậy với lương tri yên ổn của người cầm bút biết rằng câu chuyện có thật hơi khó tin giữa cái xã hội đầy rác rưởi bọt bèo nầy đã được chắt lọc bằng sự trải nghiệm đau buồn của lớp người cùng khổ chớ không phải là điều bịa đặt hoang đường.
27/3/12

Trời xanh như mắt em - Trang Thế Hy

Trời xanh như mắt em
Trang Thế Hy  

            Duy ngồi thẫn thờ nhìn ra đường và ao ước rằng trước mặt là cánh đồng bao la của một miền quê nào đó, xanh rờn rợn màu xanh mát dịu mà chứa chan sinh lực của thảm lúa tháng tám sắp trổ đồng đồng. Heo hút đằng chân mây, một rặng cây màu lục, mờ mờ trong sương sớm. Trên nền trời lờn lợt màu xanh dương, vài cụm mây trắng mỏng, đôi ba vệt khói , một con chim nhỏ lửng lờ nghiêng cánh mỏi, ngập ngừng… Và nơi anh ngồi là một chiếc võng mắc giữa một khu vườn yên tĩnh dưới bóng một tàng bưởi đang tiết ra mùi thơm thoang thoảng của hoa mới nở. Tiếng líu lo của bầy sáo uống sương trên hoa vông, những câu hỏi ngớ ngẩn của một cô em gái quê mùa, ý mộc mạc như chiếc áo lụa giồng đang mặc, mà giọng nói ngọt ngào như lóng mía đương tơ…
            Duy thấy cần một số hình ảnh, âm thanh và mùi hương thơ mộng, êm đềm gợi niềm yêu đất mẹ như thế đã xua đuổi một cái gì rất đen và rất nặng trong lòng anh.
            Nhưng trước mắt Duy không phải là một cánh đồng lúa xanh mà là một đại lộ rộn ràng xe cộ của Sài Gòn chiều chúa nhựt. Nơi Duy ngồi không phải là một khu vườn yên tỉnh thơm hoa bưởi mà là một quán kem đông khách bên cạnh một rạp chiếu bóng lớn vừa mới chiếu xong một xuất.
            Người con gái ngồi bên cạnh Duy không mặc áo lụa giồng mộc mạc như một vài cô em họ quê mùa. Đây là Yến, người yêu của Duy, một thiếu nữ mang đầy đủ sắc thái của kinh thành hoa lệ từ lối trang phục, đến nết đi, nết đứng, giọng nói, giọng cười.
            Cuốn phim Duy và Yến vừa xem có nhan đề là “Đồng hoang đẩm máu”, nói lên những cảnh rùng rợn của giết chóc và kết luận rằng kẻ nào có gan đem tình yêu của mình phiêu lưu trong những cuộc đùa giỡn với tử thần một cách vô lý như thế thì mới hiểu được tình yêu. Bối cảnh của cuốn phim là cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỷ hồi thế kỷ trước  và nhân vật là những nam nữ thanh niên thèm giết ngang và thèm yêu, thấy màu máu đẹp như màu hoa, và nghe tiếng kêu cứu kinh khủng của con người bị đè xuống cắt cổ cùng thơ mộng ngang với những lời tình tự.
            Phim nầy, Yến đã xem rồi hai lượt Yến cho là hay lắm, hôm nay đến rủ Duy đi xem để Yến xem lại lần thứ ba. Chính vì vậy mà Duy buồn muốn phát khóc lên được.
            Cô đào Mỹ đóng vai chánh trong phim có một thứ nhan sắc khiêu gợi và man rợ độc đáo. Con người của Yến có nét hao hao giống với cô đào đó: một đôi mắt sáng với những rặng my dài và cong, một vóc hình không “nẩy lửa” lắm về thể tích nhưng có những cái uốn éo rất quyến rủ khi cử động.
            Mặc kệ những nét riêng của cô đào mà Yến không thể có như : mắt xanh, tóc hung và mũi cao, Duy vẫn thấy người yêu của mình  giống với một nữ tài tử mà anh không cảm mến. Hồi mới vào quán giải khát, Duy nhìn Yến một lúc rồi hỏi:
            - Uống gì, nàng Cát Tơ Linh của tôi? Cát Tơ Linh là tên của cô gái trong phim mà người viết phụ đề Việt ngữ phiên âm ra.
            Yến không để ý đến nụ cười gượng gạo trên gương mặt buồn rười rượi của Duy trong lúc Duy hỏi và tưởng Duy rất hảnh diện có người yêu giống tài tử chiếu bóng, nên Yến mừng rỡ:
            - Sao? Anh thấy em giống nữ anh hùng trong phim lắm à? Hôm nào anh mặc Aâu phục cho anh xem nhé ! Em có một số Aâu phục nhưng từ khi biết anh thì không mặc nữa, chỉ vì một câu nói của anh.
            - Anh nói gì, nói với ai?
            - Nói với em chớ với ai? Anh mau quên quá! Anh nói rằng anh rất ghét thiếu nữ Việt Nam mặc âu phục.
            - Vậy à? Anh không nhớ. Nhưng em đã nhớ  sao em còn muốn  đòi mặc Aâu phục cho anh xem?
            - Ai biểu anh gọi em là nàng Cát Tơ Linh của anh. Sự thật, Duy không quên câu nói đó của anh và anh hỏi Yến chỉ là hỏi cho có hỏi mà thôi. Duy muốn nói cho Yến biết rằng anh đang buồn lắm chớ không phải hảnh diện như Yến lầm tưởng. Nhưng Duy chỉ mỉm cười rồi ngồi trầm ngâm nhìn ra đường cho đến bây giờ.
            Ly nước trước mặt Duy có lẽ đã hết lạnh. Đường và nước lắng lại từ phân nữa ly trở xuống đáy, phần trên là bèo bọt còn đầy ăm ắp chực muốn trào ra ngoài vành ly mà Duy chưa rớ tới. Yến thở ra hỏi :
            - Sao anh buồn vậy? Anh không muốn em mặc Âu phục thì thôi. Từ biết anh đến giờ, em có mặc đâu.em chiều theo sở thích anh, anh thấy chớ! Anh giận em à?
            Duy ráng nở một nụ cười cố làm ra âu yếm để làm lành với Yến. Duy thấy giận Yến là vô lý. Con người của Yến là như thế. Từ nhỏ đến giờ, Yến theo học tại một trường mà giáo viên, giám thị đều là người Pháp. Trong lúc cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo lê thê chín mười năm, thì cuộc đời Yến êm ấm quá, yên vui quá giữa cái đô thị mà người Pháp cần phải ráng sức vãn hồi trật tự bằng mọi cách dù bằng máu hay bằng tiền. Yến không hiểu thế nào là “ sự đánh giặc ” với bộ mặt thiệt của nó. Người ta giảng giải cho Yến hiểu bằng những cuốn phim kiểu phim “ Đồng hoang đẫm máu ” nầy thì Yến phải hiểu như vậy chứ sao? Chính Duy đã chọn một người như Yến để yêu rồi bây giờ giận Yến sao phải. Nếu cần giận thì Duy nên tự giận mình đã thiếu suy xét chọn người yêu với tâm trạng vừa mừng rỡ vừa hốt hoảng của một con người dễ mừng mà cũng dễ sợ vừa mới bước ra khỏi một trận giặc, mang theo một thứ tư tưởng mù mờ rằng mầm chinh chiến không còn nữa. Để rồi khi cụng trán với thực tế lại giật mình.
            Cho nên, Duy thấy cần nói rõ cho Yến hiểu lòng mình. Duy nhìn vào đôi mắt Yến một lúc rất lâu rồi dịu dàng nói tiếp:
            - Yến lẩn thẩn lắm! Yến làm gì mà anh giận Yến? Anh đang buồn thật, nhưng đâu nhất thiết mổi khi anh buồn là vì giận Yến?
            Duy thở ra lắc đầu:
            - Xem xong cuốn phim như vậy, Yến không thấy buồn à?
            Yến ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:
            - Kể ra những cảnh chém giết cũng hơi buồn thật, nhưng cuộc đời là như vậy, biết làm sao?
            - Phải làm sao, thì không thế nào nói cho Yến hiểu trong một đôi ngày được. Nhưng ít ra, Yến củng phải thấy đau xót và thèm khát một cái gì chớ.
            - Em không đau xót vì những cuộc chém giết trong phim đều hợp lý cả. Phải giết kẻ khác để mình được sống. Còn thèm khát cái gì quả thật em không biết nên thèm khát cái gì bây giờ. Anh, thì thèm khát cái gì?
            Duy nhìn vào đôi mắt Yến lần nửa và nói một câu không định trước:
            - Nhìn cảnh máu chải nhiều quá, anh thèm khát trời xanh và buồn vì không tìm thấy màu xanh đó trong mắt em.
            Yến tưởng Duy nhớ đến màu mắt xanh của cô đào trong phim, liền nũng nịu:
            - Anh giàu tưởng tượng quá! Con gái Phương Đông làm gì có màu mắt xanh? Vậy mà anh nói là không ưa cô đào trong phim. Giấu đầu lòi đuôi! Không sợ em ghen à?
            Lần này thì Duy không cười nửa được . Duy nốc cạn một hơi ly nước khóm, kêu trả tiền rồi cầm tay Yến bước ra khỏi quán. Ngồi thêm một lát nửa, Duy có thể khóc vì tức tối. Trong lúc đứng đợi xe, Duy suy nghĩ về sự thông minh của Yến . Trong nhiều việc, Yến tỏ ra rất thông minh. Nhưng với sự thông minh đó, Yến không thể nào hiểu được mấy tiếng “ thèm khát trời xanh” nói lên những hoài vọng gì của con người.
            Lúc chia tay, Duy dặn Yến:
            - Trong một tuần lễ tới, em đừng đến tìm anh nhé. Anh về quê dự đám giỗ và thu xếp một vài việc nhà trong đó có vấn đề hôn nhân của chúng ta.
            Giọng Yến mừng rỡ nhưng hờn dỗi:
            - Đi ăn giỗ sao không rủ em đi với?
            Duy lắc đầu:
            - Đám giỗ nầy buồn lắm Yến à. Ba và anh Hai chết cách đây mười năm trong một cuộc tàn sát khủng khiếp. Hơn tám chục mạng người bị giết bằng đủ kiểu trong vòng vài tiếng đồng hồ và chỉ trong phạm vi một xóm nhỏ. Ngày giỗ này kêu là “ngày giỗ hội”. Ba bốn chục gia đình đều có giỗ, và không có ai đến dự đám giỗ của nhà ai; đìu hiu lắm.
            Tuy đáp vậy, nhưng Duy chờ đợi Yến hỏi một câu:
            - Anh không muốn em chia sớt nổi buồn với anh à?
            Hay ít nhất Yến củng rùng mình, nhăn mặt khi nghe nhắc lại cuộc tàn sát kinh khủng như thế. Nhưng Duy đành thất vọng. Yến bình thản quá:
            - Buồn, thôi để khi khác. Nhưng sáng sớm anh chờ em đem trà, bánh, trái cây gởi về cúng nhé. Phải làm ra điều rằng mình là cháu dâu ngoan cho bà nội và cô ba thương, và anh dễ ăn nói.
            Cha mẹ anh em Duy đều chết hết chỉ còn lại có bà nội và một người cô thứ ba, Yến có về chơi với Duy nhiều lần nên biết rõ như vậy.
            Với thái độ bình thản và câu nói thiếu nghiêm chỉnh với bề trên của Yến, Duy thấy rằng từ hôm nay cái hố phân cách giửa hai người sẻ lần lần lớn ra không có phương nào lấp lại.
***
            Qua khỏi vuông rào tre, Duy dừng lại đứng nghe Phượng và Thơm ngồi nói chuyện với nhau ở cầu ao, dưới dạ cây bình bát. Phượng rửa cá. Thơm vo gạo, Thơm là em họ của Duy, con cô Ba. Phượng hình như củng có bà con sao đó, nhưng xa lắm. Thơm có chồng, thỉnh thoảng mới về thăm mẹ và bà ngoại. Phượng mồ côi từ thuở bé, còn nhỏ mới mười bảy tuổi, ở chung với bà Cả và cô Ba là bà nội và cô của Duy.
            Duy đứng từ phía sau nên Phượng và Thơm không nhìn thấy anh, Thơm nói:
            - Đám giỗ gì loe hoe có mấy người, buồn hiu. Lát nửa, chừng dọn cúng, bà ngoại và má chị lại khóc kể y như đám ma, rầu quá. Phượng nhớ hồi đám giổ ông Cố hôn? Đám giỗ hồi đó vui lắm. Còn đủ mặt bà con: Ông ngoại, cậu Hai, mợ Hai, dì Tư… con nít thì một lũ rần rần, mới thọc huyết con heo là xúm lại giành cái bong bóng như giặc chòm vậy.
            Phượng day qua nhìn Thơm cười:
            - Hồi đó em còn nhỏ xíu mà nhớ gì.
            - Ờ, phải à, hồi đó Phượng mới biết đi lẫm đẫm. Chị cũng mới học lớp tư, lớp năm gì đó. Để chị nói chuyện hồi đó cho nghe. Hồi đó chị ở bên nội chị, một năm mới về thăm ngoại vài lần nên ông ngoại cưng lắm. Anh Hai Hiệp, anh của anh Ba Duy, bửa nay mình cúng nè, ảnh hổng có em gái nên ảnh thương chị lắm. Còn anh Ba Duy thì ảnh thấy ông ngoại cưng chị, ảnh cà nanh, kiếm chuyện ăn hiếp, bị chị mét phải đòn hoài. Có một lần nọ, củng trong dịp đám giỗ Ông Cố, chi chơi ác xúi ảnh ăn cắp bánh tét mới vớt chưa cúng. Aûnh đem chia cho cả bọn ăn no nê rồi chị đi mét. Cậu Hai giận quá bắt ảnh cúi đánh năm roi giửa đám giỗ làm ảnh mắc cở lủi ra ngoài rào tre trốn biệt. Bây giờ ảnh hiền vậy chớ hồi đó rắn mắc lắm.
            - Hồi đó thì em hổng biết. Lúc ba má em chết hết, em về ở luôn với ông bà, và bác hai thì ảnh lớn rồi. Ảnh đi học ngoài chợ, chúa nhựt mới về một lần, mà ảnh thương lắm, lần nào về củng có mua bánh cho em. Rồi kế tới thời kỳ giặc giã. Lúc đó em mới sáu, bảy tuổi. Em còn nhớ buổi tàn sát , ảnh với em trốn dưới ao cá nầy nè. Aûnh sợ em khóc, Tây nó nghe, ảnh bụm miệng em ngộp muốn chết. Cũng nhờ mấy thằng Tây đui. Hai đứa nằm nép trong mé bờ, úp mặt vô bụi ráng đưa lưng trơ trơ chớ có kín đáo gì đâu mà tụi nó hổng thấy. Khuya bửa đó, ảnh cỏng em từ đây đến tới bến đò. Em khóc đã đời rồi ngủ rục trên lưng ảnh, chừng thức dậy đói bụng, khóc nửa. Ảnh cực với em đủ cách mà hổng bao giờ  quạu quọ. Bây giờ sao ảnh hổng còn thương mình nửa, buồn ghê.
            Thơm cười lớn:
            - Vậy chớ lớn đầu rồi mà muốn làm con nít rồi như hồi nhỏ vậy sao? Để coi, ảnh lớn hơn chị hai tuổi, năm nay hai mươi sáu, còn em cũng mười bảy, mười tám tuổi rồi. Ờ, nghe nói mấy tháng trước, ảnh về thăm nhà có dắt theo một cô nào ở Sài Gòn,  ngộ lắm hả Phượng? Chắc mê cô đó rồi quên em út hết trọi chớ gì.
            Giọng Phượng buồn mà gay gắt:
            - Nhắc cái bà đó em còn sôi gan nữa. Giầy cao gót cả tấc tây, đi ngang cầu không chịu cởi để cho lật té trặt giò rồi đày anh Ba ảnh thức cả đêm săn sóc. Đòi đi câu bắt ảnh thọc trứng kiến vàng làm mồi. Kiến cắn ảnh đỏ rần mình mẩy, hổng dám bắt đứng cười chơi.
            - Đàn ông con trai thì vậy không. Hể mê gái rồi thì bất kể trời đất. Mà Phượng coi bộ ngoại với má chị ưa cô đó hôn?
            - Ưa iếc gì. Nhưng thấy anh Ba thương, bà với cô Ba củng làm mặt vui cho anh Ba vừa lòng. Kỳ giỗ này dám ảnh quên không về lắm à!
            Thơm đứng dậy nói :
            - Thôi chị vô trước. Nước sôi nãy giờ. Ở nói dóc hoài, bà già bả chửi bây giờ.
            Vừa mới bưng thúng gạo quay mặt lên, Thơm nhìn thấy Duy, giựt mình:
            - Hú hồn, hú vía. Cái anh quỷ nầy! Về tới hồi nào? Nãy giờ đứng rình nghe tụi nầy nói lén đã đời hả?
            Duy cười:
            - Nghe chút đỉnh thôi. Bắt đầu từ lúc cô nhắc lại vụ hồi nhỏ chơi ác xúi tôi ăn cắp bánh tét chưa cúng, bị đòn năm roi, mắc cở trốn ra bờ tre bỏ ăn cỗ.
            Phượng củng quay lại nhìn thấy Duy nói với Thơm nhưng ngó mình, lật đật ngó xuống rổ cá để giấu sự e thẹn, trong lúc Duy và Thơm vui vẻ cười lớn lên theo những hình ảnh đẹp và vui của tuổi thơ được gợi lại.
            Lúc ba người vào nhà, Duy đi sau chót để nhìn Phượng. Lần đầu tiên, Duy thấy Phượng đẹp và đột ngột có cái ý định muốn tìm hiểu trong dịp đám giỗ nầy, coi anh và Phượng bà con với nhau như thế nào.
***
            Phượng đi chợ về, vô nhà bằng ngã sau không ai hay. Cô đi thẳng vào buồng thay đồ, thấy cô Ba nằm ngủ trưa một mình. Bà Cả có lẽ đi đâu đằng xóm. Đằng trước im lìm. Qua kẽ vách, Phượng thấy Duy và Ông Tám, người ông chú của anh ngồi đánh cơ. Duy đang nghiệm một nước cờ gì đó bổng đột nhiên tuyên bố chịu thua, làm ông Tám có vẻ mất hứng:
            - Còn nước gỡ mà mầy Ba?
            Duy lắc đầu:
            - Dạ cháu chóng mặt quá ông Tám  à! Với lại trước khi về Sài Gòn, cháu muốn nhờ ông Tám giúp cháu một chuyện là soạn lại một cuốn gia phả để hiểu biết căn cội dòng họ của mình. Trong thân tộc bên nội bây giờ chỉ còn có ông Tám là lớn. Bà nội cháu thì già quá rồi mà chắc củng không rõ căn cội bên chồng cho lắm.
            Ông Tám gục gặc đầu:
            - Phải chớ! Thằng Ba mầy nói phải! Nhiều người bà con với nhau mà không biết bà con như thế nào, ai hỏi tới nói ú ớ, nghe lãng xẹt. Tao còn giử một cuốn trên nhà, cũng của Ông Nội mầy để lại. Mấy năm giặc, thứ gì củng tiêu, may mà nó còn đó. Mai chiều gì mầy muốn chép thì lên mà chép. Bổn đó chữ  nho, chép lại chữ quốc ngữ, phải có tao nói mới được. Hay à! Ýù đó hay à. Mà sao tự nhiên thằng Ba mầy nẩy ra ý đó?
            - Dạ, cũng nhơn ngày giỗ ông nội cháu, ba cháu và anh Hai cháu, cháu mới suy nghĩ thấy cần. Thí dụ như bây giờ ai cắc cớ muốn hỏi thử cháu và con Phượng trong nhà nầy bà con như thế nào, thì cháu vô phương phăng manh mối. Cần phải có cuốn gia phả là vậy.
            Ông Tám mỉm cười, vừa rót trà ra tách vừa nói:
            - Con Phượng đối với gia tộc mình thì ăn trớt, không có họ hàng gì hết. Nhưng có chuyện nầy củng cần phải nói cho thằng Ba mầy thông. Chuyện củng hay lắm. Số là ông nội của tao tức là mầy kêu bằng ông Sơ đó, với ông Sơ của con Phượng hồi xưa vốn là người dưng và đều là bộ hạ của ông lãnh Thiệp. Ông lãnh Thiệp là đồ đệ của Ông Đốc binh Kiều. Lãnh đây là lãnh binh nói tắt. Đó là một chức của mấy ông “đằng cựu” phong cho chớ không phải của Triều đình. Lúc Tây bắt được ông lãnh binh Thiệp giết rồi, thì bộ hạ mạnh ai nấy chạy như gà giở bội. Ông Sơ của mầy với ông Sơ của con Phượng xiêu lạc về đây làm ăn tự xưng là anh em ruột, rồi cưới vợ sanh con đẻ cháu cho tới bây giờ. Năm mười năm sau, ở đây có phong trào cũng của một ông đằng cựu nào đó tao hổng nhớ tên. Ông sơ con Phượng rủ ông Sơ mầy theo nữa. Ông mầy hổng chịu, ông kia đi một mình gởi gắm vợ con lại. Về sau ổng chết oanh liệt lắm. Ông Sơ mầy thương bạn và nhớ lời gởi gắm mới tiếp tục nhận bà Sơ của con Phượng là em dâu cho tới ngày nay. Đầu đuôi là như vậy, tính theo bà con thiệt tình thì bây giờ cũng xa xôi lắm rồi, còn phăng ra cho đúng căn cội thì là chánh hiệu người dưng.
            - Thưa chuyện đó, bà nội và cô Ba cháu biết rỏ không vậy ông Tám?
            - Chị Cả thì biết chớ, còn con Ba chắc củng được nghe chị Cả nói lại chớ chẳng lẽ không. Nhưng theo tao nghĩ mỉnh phăng nguồn cội để biết bà con là một chuyện còn thương yêu nhau hay không là chuyện khác. Con Phượng nó còn nhỏ khoan nói sợ nó nghe nó buồn. Thuở giờ nó tưởng nó là con cháu ruột trong nhà.
            - Dạ
            Bước ra khỏi ngạch cửa, ông Tám quay lại hỏi:
            - Ờ còn thằng Ba mầy nghe nói hôm nào có dắt con nhỏ nào đó ở Sài Gòn về chắc là để cho chị Cả và con Ba coi mắt cháu dâu chớ gì? Phải vậy không ? coi được thì tính tới đi, mầy củng trọng tuổi rồi.
            - Dạ trước có định  vậy nhưng bây giờ chắc là hồi mối đó rồi ông Tám à.
            - Sao vậy?
            - Dạ coi kỹ lại tánh tình không hợp.
            - Ờ! Hổng ấy thì về vườn kiếm gái vườn mà cưới.
            - Dạ cháu củng tính vậy à ông Tám.
            Duy vừa đáp vừa bước theo ông Tám để tiển ông ra tới cổng. Lúc vừa vô, Duy gặp Phượng từ phía sau nhà bước lên, tay cầm một trái bắp nấu, miệng chúm chúm cười, má hây hây đỏ vì đường đi từ chợ về nhà phải qua một cánh đồng ruộng nắng chang chang, không có bóng cây.
            - Đói dữ hả anh Ba, Ăn dỡ trái bắp đi. Chờ em nấu cơm.
            - Đói mà vui quá quên đói.
            - Gì mà vui dữ vậy ?
            - Mai mốt nói cho nghe.
***
            Bóng chiều đã ngả từ lâu mà nắng gắt vẫn còn chớp chớp trên cánh đồng tháng hai trơ gốc rạ. Vài cụm mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh biếc. Tiếng sáo diều ở đâu văng vẳng lại ngọt  ngào như tiếng hát của người mẹ hiền thời  xa xưa nào nhập làm hồn buổi xế trưa yên tĩnh.
            Duy và Phượng ngồi bên cạnh nhau lưng dựa vào cây rơm chất sát vuông tre, cùng nhìn về bên kia cánh đồng. Tre bị gió lay nghiến thân vào nhau nghe kẽo kẹt, buồn buồn.
            Phượng chỉ cuốn sách Duy đang cầm hỏi:
            - Sách gì mà dày mo vậy anh Ba?
            - Ký ức chiến tranh của ông cựu thủ tướng nước Anh  (1)
            - Nói với em mà anh nói theo kiểu nói chuyện với cô gái áo đỏ của anh, làm sao em hiểu. Ký ức chiến tranh là cái gì?
            - Để anh cắt nghĩa cho nghe chớ. Ông nầy là một trong số người cầm đầu  của phe Đồng Minh hồi trận giặc ba mươi chín bốn mươi lăm. Trận giặc qua rồi, ổng viết lại những trận khôn dại về trận giặc đó.
            - Viết chi vậy?
            - Để chừng nào có giặc nữa thì người ta coi những chuyện khôn dại đã qua mà đánh giặc nữa.
            - Sướng quá ha! Bày ra giặc giã cho người ta chết mồ chết tổ rồi viết sách bán chơi. Hồi giặc, con cháu của ông đó có ai chết hôn?
            - Anh không biết, nhưng chắc là không. Mà nếu có thì con ông cháu cha làm quan lớn ít chết lắm.
            - Hèn chi!
            - Phượng ghét giặc lắm sao?
            - Chớ anh ưa à?
            - Nhờ có giặc mà mình thương nhau. Anh mới có dịp cỏng em từ đây xuống bến đò. Em mới có dịp ngủ trên lưng anh rồi thức dậy đói bụng, nhõng nhẽo với anh!
            Phượng mắc cở ửng hồng đôi má day qua cự:
            - Vậy chớ hổng có giặc, anh hổng thương em sao? Hồi trước giặc anh đi học về củng mau bánh cho em hoài vậy.
            Hai người nhìn nhau cười. Im lặng một lúc. Gió thổi mạnh làm tiếng sáo diều ngân lớn hơn.
            - Phượng à!
            - Dạ.
            - Phượng biết hai đứa mình bà con với nhau làm sao không?
            - Biết chớ. Ông Sơ của anh và ông Sơ của em hồi trước là… là hai người dưng.
            Trong lúc Duy nhìn Phượng ngạc nhiên, Phượng tiếp:
            - Hôm kia, anh nói chuyện với ông Tám, em ở trong buồn nghe lén hết trọi.
            - Em biết hỏi chi vậy hôn?
            - Ai biết đâu anh .
            - Hổng biết thiệt hay biết mà hổng nói?
            Phuợng không đáp, vói tay rút một cọng rơm xé ra vụn vằn buông cho bay theo gió.
            - Phượng!
            - Dạ.
            - Phượng nghe anh hỏi hôn?
            - Nghe.

            - Nghe sao hổng nói?
            Phượng nhìn Duy một cái thật nhanh rồi ngó xuống:
            - Biết mà hổng nói.
            Duy nắm bàn tay Phượng lúc đó đưa lên sửa mái tóc, một cử chỉ không định trước, làm cho đỡ thẹn. Phượng để yên cho Duy cầm tay mình, im lặng mà tim đập nhanh lên.
            - Phượng có thuộc nhiều câu hát không?
            - Chút đỉnh thôi.
            - Hát cho anh nghe vài câu đi.
            - Biết hát câu gì bây giờ?
            - Lựa câu nào có trời xanh. Anh thích màu trời xanh.
            - Để em nhớ coi. Ờ… Đầu giồng có trồng cây duối, cuối giồng có trồng cây da, ngả ba có cây ngô đồng, con gái chưa chồng cái lòng hớn hở, con trai chưa vợ ruột thắt trái chanh, ngó lên mây trắng trời xanh, đâu đâu củng vậy ưng anh cho rồi.
            - Hay lắm. Nhưng Phượng có biết tại sao trong câu hát huê tình mà thứ câu hát vui như vậy, người ta ưa nói đến trời xanh không?
            - Trời xanh mới đẹp, mới vui chớ. Câu hát vui hổng lẻ nói trời chuyển mưa? Ờ có câu hát trời chuyển nửa, để em hát cho nghe: Trời chuyển mưa vần vũ, mây kéo phủ lưng trời. Người nghĩa ơi! Đã biết rằng mặt tuy xa mà lòng chẳng đổi dời, nhưng kẻ chưn mây người góc biển, biết ngỏ lời cùng ai?Anh nghe coi, buồn ghê chưa?
            - Nhưng có những người không ưa trời xanh mà lại thích trời chuyển mưa, em nghĩ sao?
            - Ai mà thích kỳ vậy? Ờ thằng cha mắc dịch nào viết cuốn sách của anh đó, nó thích trời chuyển mưa, hổng chừng.
            Lại im lặng vài phút. Phượng nghe ban tay mình bị siết nhè nhẹ trong tay Duy.
            - Phượng à!
            - Dạ.
            Không nghe Duy nói gì, Phương day qua gặp đôi mắt của Duy đắm đuối nhìn vào mắt cô.
            - Phượng có biết mắt Phượng màu gì không?
            Phượng cười:
            - Chắc anh nói màu xanh.
            - Sao Phượng biết vậy?
            - Em biết trong bụng mà nói ra hổng được.
            Nói xong Phượng nhắm mắt lại và biết chắc Duy sẽ hôn lên đôi mắt mình. Bằng đôi mắt nhắm lại ấy, Phượng thấy trước mặt cô một khoảng trời xanh rất đẹp, đẹp như chưa bao giờ cô được nhìn thấy bằng đôi mắt mở rộng.

(1) Mémoires Churchill.
Bản quyền của Trang Thế Hy  

Thèm thơ - Trang Thế Hy

Thèm thơ
Trang Thế Hy

            Vũ thức giấc vào khoảng hai giờ chiều.
            Căn gác vắng teo. Bà chủ nhà và người con trai ở tầng dưới đã về quê từ hai hôm trước. Hôm nay ba mươi Tết,buổi xế trưa đìu hiu của ngày cuối năm gợi thêm sự trống trải cô đơn trong lòng chàng trai xa xứ ,không có một nơi nào để về tìm chút ấm áp, yên vui.
            Xấp bản thảo để trên ngực bay đâu mất, Vũ ngó quanh quất tìm tòi và ngạc nhiên không biết ai đã lấy tấm xarông căng ngang khung cửa sổ không có màn sợ nắng chiều dọi xuống chỗ anh ngủ. Như vậy vừa che được nắng, vừa để cho gió luồn vào làm căn gác hẹp đỡ hầm.
            Nhưng bây giờ một chéo xa-rông ghim vào chấn song bằng cái kẹp giấy đã sút ra. Tấm xa-rông bay phần phật và ánh nắng lùa vào nhảy nhót trên mặt Vũ làm anh cảm thấy khó chịu.
            Tâm trạng bần thần vì ngủ chưa thẳng giấc làm cho Vũ làm biếng nghĩ ngợi, nhưng Vũ vẫn phải tự hỏi người che nắng kia có thể là ai ?. Người thân thuộc ở gần chỉ có Dung, cô em gái mới theo chồng về một tỉnh miền Trung rất xa; Còn tụi bạn trai ở Sài Gòn này, nếu chúng đến, chúng đã làm ầm lên rồi chứ đâu đã để cho Vũ nằm ngủ yên tự nãy giờ. Vậy thì ai? Vũ ngồi dậy nhìn về phía đầu giường. Một cái áo dài bằng vải dúng nền trắng có bông lớn màu hoa cà, máng trùm lên chiếc áo sơ mi của anh trên móc áo đang nhè nhẹ phất phơ theo gió.
            Đúng là áo của Dung. Chiếc áo này chính Vũ đã mua cho em. Lúc mở gói ra xem, thấy loại vải đáng lẽ dùng may áo cho trẻ con hoặc những cô nữ sinh chưa đến tuổi làm dáng, Dung cười ngặt nghẹo:
            - Em mấy tuổi rồi anh quên sao mà mua thứ vải này?
            - Mấy tuổi mấy chớ. Thấy thứ vải dễ thương quá.
            Chừng may thành áo rồi Dung mới thấy thứ vải dễ thương thật. Nó làm cho Dung như trẻ lại năm ba tuổi.
            Đang nhớ em, Vũ mừng quá cất tiếng gọi, nghĩ rằng Dung đang ở nhà dưới:
            - Dung ơi! Dung.
            Vắng hoe, không có tiếng ai thưa. Vũ nhìn sang đi-văng thấy cái xách tay lạ không phải là của Dung dằn lên xấp bản thảo của anh. Đôi dép để dưới gầm Đi-văng cũng là một đôi dép lạ. Đúng lúc ấy, dưới nhà có tiếng mở cửa.
            Vũ lại gọi nữa:
            - Dung đó hả em?
            Vẫn không có tiếng đáp. Một lát sau, Loan leo lên gác, tay cầm một trái dưa hấu nhỏ. Vừa mới nhô lên nửa người ở đầu cầu thang, Loan đã cười với Vũ, và hỏi:
            - Anh thức rồi à? Chắc bị nắng dọi chứ gì? Em hư quá. Che nắng một chút
vậy mà cũng không nên thân. Thôi lỡ dậy rồi, ăn dưa anh Vũ. Dưa ngon lắm. Ướp nước đá chưa lạnh bao nhiêu mà tiệm nó tính thêm mình một đồng nữa đó.
            Nói xong, Loan nghiêng trái dưa đã cắt mặt để Vũ nhìn thấy màu đỏ rực của nó. Mặc dù đang khát nước, Vũ không thấy thèm ăn dưa.
            Bà chủ nhà cho Vũ mượn gác trước kia là một người sống bằng nghề nuôi em út. Bây giờ tuy bà không còn làm nghề đó nữa, nhưng thỉnh thoảng, một vài cô em bị bố ráp ở những quán rượu trá hình chạy vuột đến tá túc với bà vài hôm rồi lại ra đi. Trong số đó, có Loan và sau này, bà chỉ chứa chấp có một mình Loan mà thôi. Hình như Loan là một người cháu bà con xa sao đó. Có khi Loan ở nấn ná hơn tuần lễ, đi chợ mua đồ ăn, làm bếp và làm việc lặt vặt trong nhà như một cô gái hiền lương.
            Tuy Vũ mượn trọn căn gác, nhưng đồ đạc anh chỉ vỏn vẹn có một cái giường và một bàn viết nhỏ, nên bà chủ nhà còn kê thêm một cái đi-văng. Loan nghỉ trưa và ngủ ở đó ban đêm. Lúc thương lượng với Vũ về việc này, bà chủ nhà tỏ ra ái ngại nhưng cũng trình bày tình cảnh khó xử của bà. Đối với cha mẹ Loan ngày trước, gia đình bà có mang một món nợ ân tình, bây giờ bà phải giúp đỡ Loan để đền đáp. Hai mẹ con bà cũng tốt đối với Vũ trong việc đối xử hàng ngày. Rốt cuộc Vũ đành ưng chịu với điều kiện là Loan không tiếp khách và không quấy rầy anh. Như vậy từ hơn một năm nay, cứ độ vài tháng là Loan có trở lại.
            Mỗi kỳ đến ở dù lâu hay mau, Loan đều để ý chăm sóc Vũ trong những nhu cầu lặt vặt: mang quần áo dơ đến tiệm giặt, mua giùm diêm, thuốc lá, pha giùm cà phê, giặt giùm vài cái khăn tay, quét dọn chút đỉnh v.v .. Loan chăm chỉ một cách tận tình, không chán nản trước thái độ đôi khi khô khan đến khiếm nhã của Vũ. Kỳ này Loan đi hơi lâu, từ hồi mùa mưa chưa chấm dứt. Và sự trở lại thình lình của Loan không làm cho Vũ khó chịu như bao nhiêu lần khác. Sự có mặt của cô gái trẻ đẹp - dù là gái sống bằng nghề không trong sạch, - hình như có đem đến một chút gì vui, ấm cho căn gác đìu hiu vào buổi trưa ba mươi Tết, ngày chót của một năm vừa dài vừa trống trải đối với Vũ.
            Tuy vậy, anh vẫn lắc đầu:
            - Cám ơn. Cô ăn đi. Tôi không khát.
            Loan đã quen với thái độ lạnh nhạt đó của Vũ. Cô thản nhiên bước lại ngăn kéo bàn viết lấy con dao dùng để rọc giấy của Vũ, xẻ dưa bày ra dĩa, gọt vỏ một miếng rồi đến ngồi bên cạnh anh, tình tứ mời:
            - Anh không khát nhưng em khát. Không nhiều thì ít, anh cũng ăn một
miếng cho em ăn với. Anh đãi em chứ  không phải em đãi anh đâu. Em lấy tiền trong ngăn kéo của anh mà mua đó. Em có tiền, nhưng tiền của em thì anh gớm lắm, em biết.
            Vừa nói, Loan vừa đưa miếng dưa kề miệng Vũ. Vũ định lắc đầu nữa. Nhưng câu nói xẵng mọi khi hình như được chuẩn bị trước để thốt ra, hôm nay đi đâu mất. "Tiền của em, anh gớm lắm, em biết". Câu nói Loan đã phát ngôn bằng một giọng thật là buồn. Một người vừa nói vừa khóc giữa những tiếng nức nở có lẽ cũng không gợi buồn đến như thế. Vũ cười với Loan  lần đầu tiên và toan đưa tay cầm lấy miếng dưa. Loan giựt lại:
            - Để em đút cho ăn. Cầm ướt tay hết. - Vũ vừa ăn vừa nhìn Loan lòng còn nao nao buồn vì câu nói của Loan khi nãy: Vũ lại nhớ thêm rằng Loan đã nói: "Dầm nước đá chưa lạnh bao nhiêu mà tiệm nó tính thêm mình một đồng nữa". Tiếng "mình" ngọt ngào thân mật như tiếng nói của một người vợ hiền trong một gia đình nghèo. Loan không hiểu Vũ nghĩ gì nhưng tin rằng Vũ dù không vui cũng không đến nỗi phật ý.
            - "Đừng, đừng! Phiền cô lắm cô Loan à! Cô cứ để đó mặc kệ tôi". Sao hôm nay anh không nói như vậy nữa? Chắc có câu gì khác chớ?
            Vũ lại cười. Không phải cười với Loan mà cười vì sự vô lý của mình.
            - Cô đi đâu mà lâu vậy, cô Loan?
            Loan không đáp, hỏi trống:
            - Nhớ hôn mà hỏi vậy?
            - Cần gì phải nhớ mới hỏi vậy?
            - Không nhớ thì không nói.
            - Thôi thì nhớ. Nói đi.
            - "Thôi thì nhớ" đâu phải nhớ. Nhớ hẳn hoi mới nói.
- Ờ, nhớ hẳn hoi. Cô đi đâu lâu vậy?
            Loan dợm nói rồi lại thôi, cô đưa miếng vỏ dưa hấu xanh đang cầm lên miệng cắn từng miếng nhỏ ra chiều nghĩ ngợi. Vũ chợt nhớ rằng mình chưa mời Loan ăn. Anh bước lại bàn cầm một miếng dưa đưa mời Loan. Loan lắc đầu:
            - Ăn mót vỏ như vầy mà ngon. Ờ, hồi nhỏ có khi nào anh ăn mót vỏ dưa hôn?
            - Có chớ.
            - Ngon hôn?
            - Ăn mót thì thứ gì cũng ngon, đâu nhứt thiết gì vỏ dưa. Nhưng cô ăn đi chớ.
            Vừa ăn vừa nói cho tôi nghe cô đi đâu mà lâu về quá vậy?
            Loan vẫn không đáp ngay câu hỏi. Cô nói nhỏ bằng một giọng xa xôi như nói để nghe một mình:
            - Hồi còn ăn mót vỏ dưa, hễ có ai hỏi đi đâu lâu vậy thì câu trả lời thường thường là rất vui. Đi thăm ngoại, đi Sài Gòn chẳng hạn. Rồi thì bao nhiêu là chuyện vừa kể cừa cười. Bây giờ cũng câu hỏi đó mà sao buồn ghê. Sao anh không hỏi: Cô đi làm những chuyện gì cho nó chán chường thêm một chút. Ở đâu, thì có quan trọng gì mà hỏi?
            Tự nhiên Vũ nghe lòng se lại vì thương xót Loan và tự  trách mình tàn ác. Năm ngoái, nhân phải diễn tả một nhân vật làm nghề mãi dâm trong tiểu thuyết, anh nhờ bà chủ nhà thuê một cô đến nói chuyện với anh trong ít tiếng đồng hồ. Khi cô gái đến, anh đưa cô ta một mảnh giấy ghi hai câu hỏi: a) Một chuyện vui nhứt và một chuyện buồn nhứt của đời cô; b) Những ý nghĩ của cô về cuộc đời hiện tại. Vũ giải thích sơ qua ý muốn của anh rồi mời cô ta về suy nghĩ ít hôm, chừng nào có hào hứng nói chuyện thì trở lại. Để khích lệ, Vũ đưa trước cô ta hai trăm bạc. Ba hôm sau, cô ta trở lại lúc Vũ đang nghẹn bút đúng vào chỗ cần diễn tả tâm sự bi thương của một cô gái mãi dâm kể lại cho bạn nghe.Vũ mừng rỡ nhưng, cô gái không có gì để nói cả. Cô ta kéo Vũ lại giường và thái độ vụng về ngượng nghịu của anh làm cô ta ngã lăn ra, rồi co người lại mà cười như điên. Vũ đành mời cô ta ra về sau khi cho thêm một ít tiền nữa. Cô ta hết sức ngạc nhiên và xuống nhà dưới còn cười một lúc nữa với bà chủ mới chịu ra đi. Vũ thất vọng vô cùng. Cô gái kể ra cũng khá xinh và có duyên. Từ đó anh đành gác lại cái đề tài về những mẫu đời sa đọa.
            Bây giờ nghe Loan nói, Vũ mới chợt thấy không phải chỉ có những con người trong trắng mới biết hoài niệm những cái đẹp của tuổi thơ. Chẳng hạn như Loan cũng biết tiếc rẻ những giờ vui đẹp, vô tư của thời kỳ ăn mót vỏ dưa.
            Giọng anh trở nên thành khẩn và âu yếm:
            - Tôi xin lỗi đã vô tình gợi buồn cho Loan. Thôi Loan ăn dưa đi, tôi ăn thêm với.
            Nói xong, Vũ đưa miếng dưa cho Loan rồi bước lại lấy thêm miếng nữa cùng ăn. Loan vừa ăn vừa trả lời câu hỏi bỏ dỡ:
            - Em có về hai lần tại anh không biết đó chớ. Một lần nhằm lúc anh đi vắng. Em định ở chơi thật lâu. Nhưng sau khi đọc lén một bài thơ của anh trong ngăn kéo, em buồn quá, ra đi ngay, dặn dì Ba đừng nói lại.
            - Bài thơ gì đó?
            - Tựa là Áo Trắng. Nói một chàng trai nọ đi ngang một bờ rào thấy ai phơi một chiếc áo cánh bằng lụa trắng, về nhà cứ mơ tưởng rằng người chủ chiếc áo đó là một gái đẹp rồi đâm ra tương tư. Về sau, biết được đó là một cô gái chơi bời. Bài thơ chưa chấm dứt không hiểu kết cục như thế nào. Em đón mua hai ba kỳ tờ tuần báo anh viết không thấy người ta đăng báo bài thơ đó.
            - Rồi tại sao Loan buồn?
            - Vì em nghĩ người con trai trong bài thơ chắc là anh. Em tội nghiệp cho anh quá và buồn tủi cho cuộc đời làm đĩ. Em có rất nhiều áo cánh trắng và có lẽ cũng có một lần nào đó, một chàng trai nhìn em phới áo với tâm tình của người con trai trong thơ anh. Trong mấy năm trời, biết bao nhiêu chuyện đã làm cho em thương thân, tủi phận nhưng chưa lần nào em thương thân phận bằng lần đó.
            Vũ cầm lấy tay Loan. Bàn tay lạnh ngắt. Lạnh vì nước dưa hấu hay vì vì xót xa, buồn tủi? Loan hỏi:
            - Sao vậy anh? Sao bài thơ đó không thấy đăng?
            - Tôi bỏ nửa chừng không làm tiếp.
            - Sao vậy?
            - Làm thơ mệt lắm mà không có tiền. Nói Loan đừng buồn nhé, ở xóm này có một cô gái bỏ nghề  chằm nón để làm gái điếm. Tôi bắt chước cô gái đó. Tôi đang sống bằng nghề dịch sách trinh thám và ái tình ba lăng nhăng. Sách không phải do tôi chọn mà người ta chọn bảo tôi dịch. Những gì tôi viết mà Loan đọc lén đó, tôi viết chơi cho vui, bán không ai mua đâu.
            - Hơi khó hiểu, nhưng em không đòi anh cắt nghĩa đâu. Em muốn biết nếu như anh làm tiếp thì bài thơ kết cuộc như thế nào?
            - Không có "nếu như". Kiếp này thì kể như không có làm thơ nữa, Loan nói tiếp đi. Lần sau, Loan đến nhằm lúc nào?
            - Ờ, lần sau còn buồn hơn. Em đứng ở nửa chừng cầu thang nghe anh nói chuyện với cô Dung, em gái anh. Cô Dung ở nhà chờ anh đi đến nhà một ông chủ nhà xuất bản lấy một món tiền về cho cô sửa lại mái tóc và mua chút đỉnh đồ trang sức. Anh đã đợi hơn một tiếng đồng hồ để rốt cuộc không lấy được đồng nào. Ông chủ nhà xuất bản khen văn anh hay mà chê nhân vật anh không biết làm tình, chỉ biết nói với ngó nhau hoặc nắm tay nhau là tột bực. Viết như vậy không có độc giả. Anh đành ôm bản thảo về. Anh nói sẽ sửa lại theo ý ông chủ nhà xuất bản để có tiền cho Dung. Cô Dung thút thít khóc, chắc không phải khóc vì không có tiền sửa tóc mà khóc vì thương anh. Em không nghe anh nói tiếp. Có lẽ anh không khóc nhưng gương mặt anh lúc đó chắc là làm cho người ta phải khóc. Em nghĩ vậy và quay trở xuống ra đi. Lúc đó trong túi em có hơn hai ngàn bạc nếu em là một cô gái hiền lương nào khác em sẽ bước lên và đem đến một cái vui bất ngờ biết mấy. Nhưng con người của em, tiền của em… nhắc lại buồn ghê! Ra đường, em tạt vào một quán nước, ngồi khóc một mình. Anh thương em gái anh quá. Em thèm khát được như Dung. Giá như em cũng có một người anh như anh, thì đời em chắc không đến nỗi nào.
            Vũ đột ngột buông bàn tay Loan ra. Nếu cầm nữa, anh sẽ siết mạnh bàn tay ấy, một cử chỉ mà anh sợ hãi hậu quả. Loan tiếp:
            - Sau lần đó, em định sẽ không bao giờ trở lại đây nữa. Nhưng cách đây một
tuần, em ngồi trong một quán kem thấy anh đứng đợi xe tại một trạm ô tô buýt. Cùng đợi xe với anh có một cô nữ sinh mặc áo y như áo Dung. Anh nhìn cô gái ấy với một ánh mắt đầy thương mến. Em bỗng có ý sẽ may một cái áo y như vậy rồi đến với anh. Áo may rồi, em mặc thử  thấy mình không đến nỗi vô duyên lắm nhưng nhớ lại bài thơ Áo trắng của anh, em từ bỏ ý định đến đây trong mấy bữa, cho đến trưa nay không hiểu vì sao, em lại hy vọng sẽ đem đến cho anh một chút vui nho nhỏ. Em biết hai mẹ con dì ba đã về quê và anh đang ở một mình trên căn gác vắng hoe này. Chắc là anh nhớ Dung dữ lắm. Đến đây rồi, em mới biết không phải anh chỉ nhớ em gái anh mà thôi.
            - Chứ còn nhớ ai nữabây giờ? Vũ hỏi Loan và nhớ đến câu hỏi của Loan khi nãy: "Nhớ hôn mà hỏi vậy?"
            Loan quay lại chỉ xấp bản thảo đằng đi-văng mà cô đã đọc lén trong khi Vũ ngủ:
            - Anh nhớ đến người yêu của anh nữa, một người không bao giờ đến đây với anh.
            Vũ cười ngượng.
            - Tôi và tiểu thuyết của tôi khác nhau chớ.
            - Vậy mà em nghĩ là không khác, cho nên mới buồn.
            - Thôi cứ cho là không khác đi nhưng có gì mà Loan phải buồn? Tôi nhớ em tôi thật, nhớ người yêu tôi thật, nhưng cũng có thể nhớ một người bạn gái như Loan vậy chớ.
            Loan lắc đầu:
            - Anh đừng bày đặt thêm một con người khác nữa làm em thêm tủi. Có thể
anh nhớ bạn gái và muốn những người bạn đó đến thăm nhưng những người đó không phải như em đâu.
            Thấy Vũ cau mày ái ngại, Loan tiếp:
            - Anh đừng cãi. Trong những lúc chăm sóc cho anh, em hiểu lòng anh thế nào. Anh khao khát được một người con gái chăm sóc đến. Nhưng người con gái ấy là ai. Người yêu anh không bao giờ đến đây nữa. Em gái anh đã đi theo chồng rất xa rồi. Vì vậy, khi được chăm sóc anh không thấy sung sướng mà lại tức tối tại sao người chăm sóc anh không phải là người yêu anh, em gái anh, một cô bạn nào của anh mà lại là em, một cô gái chơi bời. Phần em, thì em tự biết rằng em không thể làm người yêu, làm em gái hay làm bạn của ai nữa hết, từ lâu rồi. Em biết thân em lắm, anh Vũ à.
            Hình như Loan còn muốn nói nữa. Nhưng giọng cô nghẹn lại và nước mắt trào ra.
            Vũ không còn sợ hãi hậu quả của một cử chỉ âu yếm nào như lúc nãy. Anh kéo Loan vào lòng hôn nhẹ lên một bên má đẫm lệ của Loan.
            - Loan ở đây ăn Tết với anh đi. Chiều nay, Loan đi chợ, làm bếp. Thỉnh
thoảng, trong cuộc đời cô độc, anh thèm khát được ăn cơm với người yêu, với em gái anh hoặc một đứa bạn, hoặc trai, hoặc gái. Những giờ khao khát đó giày vò anh một cách rất khác nhau. Loan đến đây một mình mà Loan đem cho anh ba bốn thứ vui ấy trong một lúc. Kìa! Sao Loan có vẻ hoài nghi vậy? Trong đời người những phút mình thành thật với mình kể như thưa thớt lắm, như giờ phút này của anh đây chẳng hạn.
            Vũ cựa mình, quờ quạng tìm mền theo thói quen mới hay mình đang ngủ với Loan. Đã lâu lắm rồi, Vũ mới biết trở lại cái cảm giác nửa đêm thức giấc thấy một người con gái ôm mình mà ngủ. Thứ ấm áp rất thông thường đối với mọi người ấy. Vũ nghe chừng rất mới đối với mình.
            Chắc đã gần sáng. Tiếng pháo nổ thưa thớt, có tiếng thùng khua và tiếng nước đổ vào lu ở tầng dưới nhà bên cạnh.
            Dưới ánh đèn lu, trông Loan hiền hậu như bất cứ một cô gái hiền lương nào, có đôi nét thơ ngây gần như trẻ con là khác. Thí dụ như cánh tay nhỏ bỏ vòng qua ngực Vũ và cái đầu gối phân nửa lên vai Vũ, y như đứa con gái năm tuổi của anh thường làm lúc vợ chồng anh chưa thôi nhau.
            Vũ nhìn Loan thật lâu để xem Loan ngủ thật hay giả vờ ngủ. Loan ngủ thật. Hơi thở đều đều. Bàn tay bỏ qua ngực Vũ thỉnh thoảng nhè nhẹ sờ soạng theo kiểu trẻ con sợ người nó ôm bỏ trốn đi trong giấc ngủ. Vũ hôn mạnh lên má Loan cho cô thức giấc rồi khẽ vuốt tóc cô. Loan mở mắt cười, hỏi Vũ:
            - Ấm hôn?
            - Ấm chớ.
            - Ấm thì làm cho em một bài thơ đi.
            Vũ hôn nữa, không đáp, Loan tiếp:
            - Như vậy có đèo bồng hôn? Một cô gái chơi bời đòi nghe thơ nói về mình!
            Thế nào anh cũng từng làm những bài thơ nói về người yêu của anh, về em gái anh. Một cô gái chơi bời thì có gì nói được thành thơ? Nhưng em không đòi thơ cho em đâu. Cho bất cứ một cô gái chơi bời nào cũng được.
            - Thơ nói gì?
            - Nói rằng một con gái chơi bời không phải hoàn toàn là vô dụng …
            - Rằng cô ta có thể làm một người em gái, một người bạn và nhứt là một người yêu đối với một người đàn ông cô độc trong đêm ba mươi Tết …
            Loan lắc đầu:
            - Có thể anh thành thật. Nhưng em không đòi đến một bài thơ như vậy. Một bài thơ rất thường thôi. Nói rằng một cô gái chơi bời kể như vô dụng không thể đem đến cho ai sự dịu dàng thơ ngây của một cô em gái, sự âu yếm, tình tứ của một người yêu, nhưng ít nhứt cô gái hư hỏng đó cũng làm "ấm" được một người đàn ông nằm chèo queo một mình trên gác trọ.
            Vũ gỡ tay Loan ra và ôm Loan vào lòng:
            - Hay lắm. Ý thơ đó hay lắm. Anh sẽ làm cho Loan bài thơ đó.
            Xóm nhỏ cựa mình thức giấc theo Vũ và Loan. Trong lòng Vũ, một niềm vui mỏng manh cũng đang trỗi dậy. Đã lâu, Vũ mới thèm làm thơ một cách đáng gọi là làm thơ.
            Một năm qua. Hai năm qua.
            Bài thơ hứa hẹn với Loan chưa kết được một vần nào. Cuộc đời cứ tiếp tục bắt buộc Vũ "dịch chuyện trinh thám và chuyện tình ba lăng nhăng đổi gạo" chứ không cho phép anh "làm thơ chơi cho vui". Tháng chạp năm nay, trở về căn gác cũ, Vũ được tin Loan chết vì tai nạn xe hơi trên đường đi Cấp với một khách làng chơi. Vũ buồn mất mấy hôm nhưng rồi bài thơ vẫn không có.
            Một hôm, Dung về thăm anh, thấy trong mớ bản thảo của Vũ một đoạn văn xuôi:
            Loan ơi! Chết đem theo sự  thèm nghe thơ và sống mà thèm nghe thơ chưa biết ai khổ hơn ai. Bài thơ mà em thèm nghe và anh thèm làm cũng chẳng đẹp gì cho lắm. Để thèm nó có lẽ ít buồn hơn là thưởng thức nó với sự đau xót trong lòng. Sẽ có một ngày kia, khi một cô gái ôm một chàng trai trong giấc ngủ yên lành, thì hơi ấm của cô ta tạo ra không gợi đến một tứ thơ cay đắng như em nghĩ. Bài thơ về hơi ấm đó sẽ có người làm và làm hay hơn bây giờ…

Bản quyền của Trang Thế Hy