Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Alphonse Daudet. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Alphonse Daudet. Hiển thị tất cả bài đăng
16/3/12

Chuyện người có bộ óc vàng - Alphonse Daudet

Chuyện người có bộ óc vàng
Alphonse Daudet

            Thưa bà, tôi cảm thấy như có điều ân hận khi được đọc thư bà. Tôi tự trách mình đã để cho những chuyện của mình đượm hơi nhiều màu tang tóc, và tôi hứa hôm nay sẽ kể bà nghe một điều vui, vui đến điên lên được.
            Thực ra, tại sao tôi lại có thể buồn được nhỉ? Tôi sống cách xa sương mù Pari hàng ngàn dặm, trên một ngọn đồi rực rỡ nắng vàng, giữa xứ sở của tiếng trống và rượu nho hương. Quanh nhà tôi, chỉ toàn là nắng và nhạc; tôi có dàn nhạc của chim bạc bụng, những cuộc hợp tấu của chích chòe; buổi sáng chim mỏ nhác cất lời ca: Curơli! Curơli!, buổi trưa đến lượt ve sầu; rồi tiếng tiêu của mục đồng và tiếng cười của các cô gái tóc nâu xinh đẹp vang lên trong vườn nho... Thực vậy, chọn nơi này mà nghiền ngẫm sầu tư thì chẳng đúng được nào; lẽ ra tôi phải gửi đến các phu nhân những áng thơ hồng và những chiếc lẵng chứa đầy truyện diễm tình.
            Nhưng không! Tôi còn ở gần Pari quá. Ngày nào Pari cũng đem lại cho tôi, đến tận hàng thông của tôi những mảnh tình buồn của nó...
            Ngay lúc viết những dòng này đây, tôi mới nhận được tin về cái chết đau thương của Sáclơ Bacbaca tội nghiệp và chiếc cối xay của tôi lại bao phủ một màu tang. Giã từ chim mỏ nhác và ve sầu! Tôi chả còn bụng dạ nào để mà vui... Thưa bà, đó là lẽ vì sao đáng lẽ được nghe kể một chuyện vui như tôi đã hứa với bà, hôm nay bà lại phải nghe một câu chuyện hoang đường sầu não.
***
            Ngày xưa, có một người đàn ông có khối óc bằng vàng, vàng, đúng thế, thưa bà, một khối óc toàn bằng vàng. Ngay khi anh ta mới lọt lòng, các thầy thuốc đều nghĩ thằng bé này khó mà sống được vì đầu nó nặng quá và cái sọ thì lại to quá khổ. Thế nhưng nó vẫn sống và lớn lên dưới ánh mặt trời như một cây ô liu xanh tốt, chỉ hiềm một nỗi cái đầu to tướng của nó cứ kéo nó đi xềnh xệch và thật ái ngại khi thấy nó vừa đi vừa cộc đầu vào những đồ vật trong nhà. Nó hay ngã luôn. Một hôm, nó lăn từ trên thềm cao xuống và khi trán nó đập vào bậc đá hoa thì chỉ thấy nó bị thương nhẹ và có hai ba giọt vàng đông cứng lại trong mớ tóc hung của nó. Nhờ vậy mà cha mẹ nó mới biết được con mình có bộ óc bằng vàng.
            Chuyện được giữ kín; bản thân thằng bé tội nghiệp cũng không nghi ngờ một chút nào. Đôi khi, nó thắc mắc hỏi tại sao không cho nó chạy ra trước cửa nhà chơi với trẻ con ngoài phố.
            - Người ta sẽ đánh cắp mất của con, cái kho vàng quí báu của mẹ ạ- mẹ nó trả lời.
Thế là từ đấy, thằng bé rất lo bị mất cắp, nó chẳng nói, chẳng rằng, quay vào chơi một mình, đi lại nặng nề, ngật ngà ngật ngưỡng từ buồng nọ sang buồng kia...
Mãi tới năm nó mười tám tuổi, bố mẹ mới tiết lộ cho nó biết cái mà trời phú cho nó và chỉ xin nó một ít vàng gọi là để trả công nuôi nấng từ tấm bé đến nay. Thằng bé chẳng biết đắn đo, sẵn sàng ngay tức khắc- nhưng bằng cách nào và làm sao cạy được vàng thì truyền thuyết chẳng nói rõ- nó dứt ra khỏi sọ một miếng vàng nặng trùng trục, một miếng vàng to bằng quả hạt dẻ và hãnh diện ném vào lòng mẹ nó... Thế rồi, lóa mắt vì của cải chứa trong đầu, điên lên vì khát vọng, say sưa vì quyền lực, nó rời khỏi nhà cha mẹ và đi chu du khắp thế giới, phung phí cái kho báu của mình.
            Với cách sống vương giả của anh ta, vung vãi vàng không cần đếm, người ta cho rằng bộ óc vàng ấy là vô tận... Nhưng rồi nó cũng phải cạn và càng ngày người ta càng thấy đôi mắt anh ta mờ đi, má lõm sâu hơn. Cho đến một ngày nọ, vào một buổi sáng, sau một đêm hoan lạc điên loạn, anh chàng khốn nạn ấy thấy còn trơ lại một mình giữa đám chai cốc ngổn ngang bữa tiệc tàn và những ngọn bạch lạp hiu hắt; anh ta kinh hoàng trước cái lỗ hổng to tướng mà anh ta đã khoét vào trong khối vàng của mình; đã đến lúc phải dừng lại thôi.
            Từ đây, một cuộc sống mới bắt đầu. Con người có bộ óc vàng ấy sống xa lánh mọi người, tự tay làm lấy mà ăn; anh ta nghi ngờ và sợ hãi như một thằng keo kiệt, lẩn tránh mọi cám dỗ, cố quên đi những của cải bất hạnh mà anh ta không muốn đụng đến nữa... Khốn thay, có một người bạn đã theo dõi anh ta trong lúc sống cô đơn và đã biết thóp được bí mật của anh ta.
            Một đêm nọ, anh chàng tội nghiệp bỗng giật mình thức giấc vì một cơn đau đầu khủng khiếp; anh ta bàng hoàng đứng lên và nhìn thấy dưới ánh trăng người bạn của mình dấu trong áo khoác một vật gì đó và đang chạy trốn...
            Thế là thêm một ít óc của anh ta bị lấy cắp!...
            Ít lâu sau, người đàn ông có bộ óc bằng vàng sa vào chuyện yêu đương và lần này thì thật hết... Anh ta chết mê chết mệt một người đàn bà nhỏ nhắn tóc hung. Chị ta cũng yêu anh lắm nhưng lại còn mê những đồ nữ trang cầu kỳ, những chiếc lông chim trắng và những giải tua nâu óng ánh phần phật trên đôi giầy có cổ nữa kia.
            Lọt vào tay người đẹp- nửa chim, nửa búp bê- này, những mẫu vàng nhỏ chảy tan ra như thể một trò đùa. Cô nàng đòi đủ thứ, còn anh chàng thì chả bao giờ dám khước từ, và còn sợ làm cô em phiền muộn nên anh ta giấu biệt điều bí mật đáng buồn về tài sản của anh ta.
            - Chúng ta giàu lắm, phải không anh?- cô nàng hỏi.
            - Ừ, đúng thế... – Anh chàng tội nghiệp đáp- chúng ta giàu lắm.
            Và anh ta mỉm cười âu yếm với con chim xanh bé nhỏ vô tình ăn bộ óc của anh ta. Tuy vậy, anh ta cũng cảm thấy sợ hãi, anh ta muốn hà tiện nhưng cô vợ bé bỏng lại ở đâu tâng tâng nhảy vào lòng anh ta và bảo:
            “- Mình ơi mình, mình giàu có lắm mà, hẵng sắm cho em một thứ gì thật quý giá cơ...”
            Anh ta liền đi mua cho cô nàng một thứ thật quý giá.
            Cứ như vậy kéo dài đến hai năm; rồi một buổi sáng, không hiểu sao, bỗng dưng người vợ bé bỏng lăn đùng ra chết như một con chim... Kho vàng đã gần cạn; còn lại được bao nhiêu anh chàng góa bụa dốc hết vào làm đám ma thật linh đình cho người vợ thân yêu. Chuông rung inh ỏi, mấy cỗ xe phủ màn đen, ngựa quàng khăn tua, vải nhung đính hạt bạc, thế mà anh ta chưa lấy thế làm hài lòng. Vàng còn nghĩa lý gì lúc này nữa?... Anh ta cúng vào nhà thờ, cho những kẻ hầu hạ, cho các cô bán hoa bất tử, phân phát khắp nơi mà không cần tính toán... Cho nên từ nghĩa trang trở về, cái bộ óc kỳ diệu chẳng còn được mấy tý, có chăng còn sót lại một vài mảnh vàng dính ở hốc sọ.
            Rồi người ta thấy anh chàng lê gót trên đường phố, mặt mày ngơ ngác, tay buông thõng, đi chệnh choạng như một gã say rượu. Chiều đến, vào giờ những cửa hàng tạp hóa lên đèn sáng trưng, anh ta dừng chân trước một quầy kính lớn bày la liệt vải vóc và đồ trang sức ngời ngời dưới ánh đèn, anh ta đứng đó rất lâu ngắm đôi giày bằng sa tanh màu lam, viền lông tơ thiên nga: “Ta biết đôi giày này sẽ làm ai rất vừa ý”- Anh ta mỉm cười nói một mình và, quên khuấy mất cô vợ bé bỏng của mình chẳng còn nữa, anh ta bước vào hiệu để mua...
            Bà bán hàng đứng tận phía trong bỗng nghe một tiếng thét. Bà vội chạy tới và lùi lại vì sợ hãi. Trước mắt bà ta, một người đàn ông đứng tựa vào quầy hàng, vẻ ngây dại đau đớn nhìn bà ta. Một tay anh cầm đôi giày màu lam viền lông thiên nga, còn tay kia đẫm máu chìa ra, đầu móng tay dính đầy những mẩu vàng.
            Thưa bà, đó là nội dung câu chuyện hoang đường về người đàn ông có bộ óc bằng vàng. Tuy huyền hoặc nhưng câu chuyện hoang đường này lại chân thật từ đầu đến cuối... có những người bất hạnh trên thế gian này buộc phải sống bằng bộ óc của họ và trả những hàng mua nhỏ mọn cho đời sống bằng vàng mười và xương tủy của họ. Họ phải chịu đau đớn hàng ngày và rồi, khi họ đã lả đi vì đau khổ thì...
12/3/12

Thằng bé gián điệp - Alphonse Daudet

Thằng bé gián điệp
Alphonse Daudet
Phan Mật dịch

                Thằng bé tên là Tĩnh.
            Bé Tĩnh sinh trưởng ở Ba - Lê. Hình dáng mảnh khảnh, nước da xanh xao, nó khoảng mười tuổi, có thể mười lăm, với những trẻ ốm yếu như nó, khó mà đoán tuổi. Mẹ nó mất sớm, cha là một cựu binh sĩ Hải quân, bây giờ quản lý một công viên ở thủ đô. Những bé con, những chị vú, những bà mẹ nghèo, những bà lão bán hàng rong, tất cả đám bình dân hèn yếu của Ba - Lê thường đến núp mưa, núp nắng đàng sau những chiếc xe đậu dọc theo những luống hoa, những lề đường trong công viên, đều biết bác Tĩnh và kính nể ông.
            Mọi người đều biết dưới chòm râu mép cứng, chòm râu mép làm cho bầy chó và lũ nhãi ranh khiếp sợ, có ẩn một nụ cười âu yếm, gần như nụ cười của bà mẹ hiền, và muốn thấy nụ cười ấy, người ta chỉ cần hỏi ông lão câu hỏi nầy:
            “Dạo nầy bé Tĩnh của bác có khỏe không?”
            Bác Tĩnh yêu thằng nhỏ của bác lắm. Bác sung sướng mỗi khi tan học, bé tới công viên gặp bác và hai cha con dạo quanh trên những con đường rải sỏi, hai bên lề chen chúc các sắc hoa, chào hỏi những kẻ quen thuộc đang ngồi hóng mát.
            Chiến tranh xẩy đến, tất cả đều thay đổi. Công viên đóng cửa và biến thành kho chứa xăng và bác Tĩnh phải thường xuyên canh gác, suốt ngày bác quanh quẩn bên những luống hoa, những chòm cây vắng vẻ, cô đơn, không hút thuốc, tối đến, cha con mới gặp nhau ở nhà. Bởi vậy, khi bác nói đến bọn lính Đức mới trông thấy chòm râu mép của bác ... Bé Tĩnh thì không hề phàn nàn về cuộc sống mới nầy.
            Chiến tranh ! Giới nghiêm ! Đối với trẻ con thì đây là cơ hội vui thích. Không phải đi học, tha hồ chơi đùa, đường phố giống như chợ phiên. Bé Tĩnh suốt ngày chạy lang thang đây đó. Nó đi theo những đoàn quân tập trận, chọn những đại đội nào có ban nhạc xuất sắc. Nó tỏ ra thông thạo trong sự phê bình nghệ thuật. Như nó có thể nói với bạn là dàn nhạc đại đội 96 kém, còn dàn nhạc đại đội 55 trổi nhất.
            Và nó còn phải sắp hàng ...
            Tay xách giỏ, bé Tĩnh lẫn lộn trong đám đông, nối đuôi nhau thành hàng dài trước những cửa hàng thịt, hàng bánh mì, vào những sáng sớm mùa đông lạnh buốt.
            Hai chân dầm nước, mọi người làm quen với nhau, trò chuyên về cuộc sống hàng ngày, về chính trị, người ta thường hỏi ý kiến nó vì nó là con bác Tĩnh. Nhưng vui thích hơn là những cuộc đánh đáo, một trò chơi do nghĩa quân miền Bắc phổ biến ở đây. Khi bé Tĩnh không xem tập trận hoặc không sắp hàng trước cửa hàng bánh mì thì bạn tin chắc là nó đang xem đánh đáo ở Tháp nước. Dĩ nhiên, nó không chơi vì muốn chơi phải có nhiều tiền..., nó chỉ biết nhìn người ta chơi.
            Có một thằng cao lớn mặc áo xanh quen đặt cuộc với những đồng trăm xu khiến nó thánh phục. Khi gã nầy chạy, người ta nghe những đồng bạc kêu leng keng trong túi áo ...
            Một hôm, thằng lớn tới lượm một đồng bạc rơi và lăn dưới chân bé Tĩnh, nó nói nhỏ với bé Tĩnh:
            - Mầy thèm những đồng bạc nầy lắm phải không ? Nếu mầy muốn, tao sẽ chỉ chỗ cho mầy lấy.
            Cuộc chơi vừa mãn, thằng lớn kéo bé Tĩnh ra một chỗ vắng người, đề nghị đi theo nó bán báo cho bọn lính Đức, mỗi lần đi bán thu được 30 phật lăng.
            Bé Tĩnh nghe nói, bất bình nên ở nhà ba ngày liền không tới chơi với thằng lớn. Ba ngày ghê sợ ! Nó không ăn, không ngủ. Đêm đêm, nó nghe thấy những cuộc đánh đáo vui thú, những đồng trăm xu sáng loáng chạm nhau kêu leng keng. Sự cám dỗ quả là mãnh liệt. Sang ngày thứ tư, không nén lòng được, bé Tĩnh trở lại tháp nước, gặp thằng lớn và thuận đi theo nó ...
            Hai đứa khởi hành vào một buổi sáng tuyết rơi, chiếc xắc vải trên vai và những tờ báo giấu kín trong áo ấm. Khi chúng tới Phơ - lăng thì trời vừa sáng. Thằng lớn nắm tay bé Tĩnh và tiến lại gần anh lính gác, một gã độc thân có cái mũi đỏ và vẻ mặt hiền từ, nó nói với giọng người nghèo đói:
            - Thưa bác, bác cho chúng cháu qua. Cha chúng cháu chết và mẹ thì bệnh nặng. Anh em chúng cháu xin tới cánh đồng bên kia để lượm khoai về ăn.
            Nó vừa nói vừa khóc. Còn bé Tĩnh thì hổ thẹn, gục đầu xuống. Anh lính gác nhìn hai đứa trẻ một lát, liếc mắt trông ra con đường vắng lặng và phủ tuyết trắng.
            - Đi nhanh lên, anh lính gác bảo.
            Bây giờ hai đứa trẻ đã ở trên đường đi Ô-bơ-vilê. Thằng lớn cười hí hởn.
            Như trong giấc mơ, bé Tĩnh thấy những nhà máy đã biến thành những trại lính, những ống khói cao vút lên trời, chọc thủng sương mù, sứt mẻ, trống rỗng, lạnh tanh. Xa xa, có vài lính tuần, những viên sĩ quan đầu, mặt trùm kín, nhìn đàng trước với những ống dòm, những chiếc lều vải ướt đẫm tuyết tan, trước những đống lửa đang tàn lụi.
            Thằng lớn thuộc đường, đi băng qua cánh đồng để tránh lính gác, những bót gác. Tuy vậy, chúng vẫn không tránh được một tiền đồn tuần thám của đoàn nghĩa quân. Những nghĩa quân choàng áo mưa, ngồi chồm hổm dưới một cái hố đầy nước, dọc theo đường sắt Xoát xông. Lần nầy, thằng lớn cố giở lại chuyện lượm khoai của nó, người ta vẫn không cho hai đứa trẻ đi qua.
            Trong lúc nó kể lể thở than thì trong nhà của người gác cổng xe lửa, một trung sĩ già bước ra, mặt nhăn nheo, tóc bạc phơ, trông giống như bác Tĩnh.
            - Mấy cháu đừng khóc nữa, ông trung sĩ bảo hai đứa, người ta sẽ để cho hai cháu tha hồ lượm khoai. Nhưng mà trước hết, hai cháu vào đây sưởi ấm một chút đã ... Tội nghiệp thằng nhỏ lạnh cóng.
            Bé Tĩnh không run vì lạnh, mà vì sợ, vì xấu hổ ... Trong đồn, hai đứa trông thấy những binh sĩ ngồi co ro quanh một đống lửa yếu. Họ ghim những miếng bánh bích quy bị đông lạnh trên mũi lưỡi lê và hơ lửa. ANh em binh sĩ ngồi sát nhau, nhường chỗ cho hai đứa trẻ. Họ còn cho hai đứa uống cà phê. Trong lúc hai đứa uống, một viên sĩ quan tới trước cửa, gọi ông trung sĩ, nói nhỏ rồi bỏ đi nhanh.
            Ông trung sĩ trở vào, mặt hớn hở, nói với anh em lính:
            - Tối nay sẽ có thuốc hút (1). Bên mình đã bắt được mật mã của bọn Đức. Tôi tưởng lần nầy chúng ta sẽ chiếm lại thị trấn Buốc - rê.
            Mọi người vui cười, hoan hô rầm rộ, ca hát, nhảy múa, lau chùi lưỡi lê sáng loáng. Và thừa lúc lộn xộn, hai đứa trẻ biến mất.
            Qua khỏi chiến hào, chúng đặt chân lên một cánh đồng mênh mông. Cuối cánh đồng là một bức tường trắng, dài, lổ chổ những lỗ châu mai. Hai đứa nhắm bức tường tiến tới, cứ mỗi bước thì dừng lại, cúi xuống, giả vờ lượm khoai.
            - Chúng ta trở về thôi. Đừng đi nữa, bé Tĩnh hối thúc mãi.
            Thằng lớn không nghe, cứ tiến tới. Bỗng chúng nghe tiếng lên đạn lắc cắc của một khẩu súng.
            - Nằm xuống, thằng lớn vừa bảo vừa nằm xuống đất.
            Nó huýt gió, Một tiếng huýt gió đáp lại. Chúng vừa bò vừa tiến ... Trước bức tường, sát đất, hiện ra hai chòm râu mép vàng dưới chiếc mũ lấm láp. Thằng lớn nhảy xuống hầm, gần tên lính Đức.
            - Em tôi đây, nó chỉ bé Tĩnh, nói.
            Bé Tĩnh nhỏ quá nên vừa trông thấy, tên lính Đức bật cười và phải xốc nó đưa lên miệng hầm.
            Đàng sau bức tường là những ụ đất cao, những cây đốn ngã nằm, những lỗ đen trong tuyết và trong mỗi lỗ đen cũng chiếc mũ dơ dáy, cũng chòm râu mép vàng mỉm cười khi trông thấy hai đứa trẻ đi qua.
            Trong một góc, có căn nhà của người làm vườn, chung quanh chồng chất những thây cây to để đỡ đạn. Tầng dưới chật ních những binh sĩ đang đánh bài. Ở nhà bếp đồ ăn đang nấu trên ngọn lửa đỏ rực, mùi thịt nướng, mùi bơ, mùi khoa chiên bay thơm phức. Cuộc sống êm ấm ở đây thật khác với cảnh cắm trại ngoài trời của nghĩa quân ! Tầng trên dành cho sĩ quan.
            Họ uống rượu sâm banh, chơi dương cầm. Hai đứa trẻ được đón tiếp niềm nở... Chúng trao nhật báo cho bọn Đức và được uống rượu. Bọn sĩ quan đều có vẻ kiêu ngạo và dữ tợn. Nhưng trong câu chuyện, thằng lớn xài những tiếng lóng của bọn du đảng, lưu manh làm cho chúng vui thích. Chúng nhại những tiếng tục tỉu thằng lớn nói ra, thích thú lăn ra cười.
            Bé Tĩnh cũng muốn nói để chứng minh nó không phải là một thằng ngốc, nhưng có một cái gì ngăn cản nó. Trước nó có một sĩ quan Đức ngồi riêng, tuổi cao hơn, nghiêm nghị hơn, đang đọc hay giả vờ đọc, vì hai mắt ông nầy không rời bé Tĩnh. Trong cái nhìn của viên sĩ quan cao niên có niềm âu yếm xen lẫn sự quở trách, hình như ở nhà, ông ta cũng có một đức con đồng lứa tuổi với bé Tĩnh và ông tự bảo:
            “Thà chết còn hơn trông thấy con mình làm một việc như vậy ...”
            Từ đây, bé Tĩnh cảm thấy như có một bàn tay đặt lên trên quản tim nó, không cho tim đập.
            Để trấn áp mối khắc khoải, bồn chồn, bé Tĩnh bắt chước uống rượu. Hơi men chếnh choáng, nó trông thấy mọi vật quay tít chung quanh. Nó nghe lờ mờ, giữa những tiếng cười nham nhở, bạn nó nhạo báng lính Pháp, lối tập dượt quân sự, nhại lại một cuộc diễn binh ở Mare, một vụ báo động ban đêm trên chiến lũy. Rồi thằng lớn hạ giọng, bọn sĩ quan lại gần nó lắng nghe và nét mặt bọn chúng trở nên nghiêm nghị. Thằng khốn nạn đang báo cho quân Đức biết đêm nay nghĩa quân sẽ tấn công ...
            Bé Tĩnh nghe vậy, tự nhiên hết say, đứng lên, giận dữ, bảo:
            - Im đi, đừng nói nữa. Tôi không muốn đâu. Về đi thôi !
            Nhưng thằng kia cứ cười và tiếp tục nói. Nó nói chưa dứt lời thì bọn sĩ quan đều đứng dậy. Một người chỉ cửa cho hai đứa trẻ và bảo:
            - Đi ra, nhanh lên!
            Bọn sĩ quan nói chuyện với nhau rất nhanh, bằng tiếng Đức. Thằng lớn đi ra, vẻ mặt vênh váo, cố làm cho những đồng bạc kêu leng keng. Bé Tĩnh đi theo, cúi gầm mặt xuống. Khi nó đi qua trước viên sĩ quan Đức đã có cái nhìn làm cho nó áy náy, nó nghe thốt ra những tiếng buồn buồn : “Làm dậy hôn tốc ... hôn tốc “ (Làm vậy không tốt, không tốt).
            Hai hàng nước mắt chảy ràn rụa trên má nó.
            Ra đến cánh đồng, hai đứa trẻ bắt đầu chạy. Xấc của chúng đầy khoai do bọn lính Đức cho. Nhờ đó, hai đứa đi qua trót lọt chiến hào của nghĩa quân. Quân Pháp đang chuẩn bị cho cuộc đột kích ban đêm. Có những toán quân mới chuyển tới, im lặng, chen chúc đàng sau những bức tường cao. Ông trung sĩ già cũng có mặt ở đây, ông đang bố trí binh lính dưới quyền chỉ huy của ông, coi bộ ông vui vẻ lắm. Khi hai đứa trẻ đi qua, ông nhận ra và tặng cho chúng một nụ cười hiền dịu.
            Ôi ! nụ cười làm cho bé Tĩnh đau xót làm sao ! Có lúc nó định la lên:
            “Đừng đi tới đó ... chúng tôi đã phản bội các ông”.
            Nhưng thằng kia đã dọa nó : “ Nếu mày nói, chúng ta sẽ bị bắn chết”, và vì sợ nên nó đành ngậm câm...
            Tới Cua nơ, hai đứa trẻ vào trong một căn nhà bỏ trống để chia tiền. Sự thực bắt buộc tôi nói là sự phân chia được công bằng và vì tiếng những đồng bạc quý kêu leng keng trong túi áo, nghĩ đến những cuộc đánh đáo hấp dẫn sau nầy, bé Tĩnh không còn thấy tội ác của nó đáng ghê tởn quá nữa.
            Nhưng khi thằng lớn từ giã nó, khi bé Tĩnh thấy nó còn một mình thì những túi áo của nó bắt đầu nặng trĩu, và bàn tay đè lên tim nó siết mạnh hơn bao giờ hết. Balê không như trước. Những kẻ qua đường nhìn nó với vẻ nghiêm khắc, hình như họ biết nó vừa từ đâu về. Hai tiếng gián điệp, nó nghe trong tiếng những bánh xe lăn trên đường, trong hồi trống quân nhạc gióng lên dọc theo con rạch. Và cuối cùng, nó về đến nhà, nó lấy làm sung sướng thấy cha nó chưa về, nó mau mắn lên phòng ngủ, cất giấu dưới gối những đồng bạc đang làm cho lương tâm nó ray rứt. Chưa có lúc nào bác Tĩnh vui vẻ, bằng lòng bằng tối hôm ấy khi bác về nhà. Có những tin vui từ các mặt trận đưa về. Đang ăn, lão cựu chiến binh nhìn khẩu súng treo trên tường, vui cười nói với con:
            - Này con, ước gì con lớn, con đi đánh giặc Đức như anh em nghĩa quân.
            Đến tám giờ, nghe tiếng đại bác rền vang.
            - Quân ta giao chiến với quân Đức ở Buộc Rê, bác Tĩnh nói, bác rõ hết các đồn lũy trong vùng. Mặt bé Tĩnh tái xanh, nó nói dối trong người quá mệt, nó bỏ đi nằm, nhưng không ngủ. Đại bác vẫn nổ. Nó tưởng tượng đoàn nghĩa quân xuất trận trong đêm, để tấn công bất ngờ quân Đức, bị lọt trong ổ phục kích của địch. Nó nhớ tới ông trung sĩ già đã vui cười với nó hiện đang ngã gục trên tuyết và còn biết bao binh sĩ cùng bỏ mạng với ông. Cái giá của tất cả máu xương ấy được cất giấu dưới gối nó, nó là con của bác Tĩnh, một cựu chiến binh .... Nó uất ức, nghẹn ngào, khóc không ra tiếng. Trong gian phòng bên cạnh, nó nghe ba nó đi lại, mở cửa sổ. Ở dưới, trên quảng trường, tiếng kèn tập hợp vang lên, một đại đội lưu động đang điểm danh để xuất trận. Nhất định đây là một trận đánh lớn. Thằng bé khốn khổ khóc òa.
            - Sao vậy con ? Bác Tĩnh vào phòng nó và hỏi.
            Thằng bé không chịu được nữa, nhẩy xuống giường, tới quỳ chân ba nó. Trong lúc vội vã, nó đánh rơi những đồng bạc xuống đất.
            - Cái gì vậy ? Con ăn cắp hả ? ông già run lẩy bẩy hỏi.
            Bé Tĩnh liền kể lại một hơi, nó đã đi tới doanh trại quân Đức như thế nào và nó đã làm gì ở đó. Nó càng nói, nó càng thấy lòng nó nhẹ nhỏm. Thường tình hễ biết thú tội thì tội nghe nhẹ đi ... Bác Tĩnh lắng nghe con nói, vẻ mặt dữ dằn. Khi con đã nói hết, ông lấy tay ôm mặt, khóc nức nở.
            - Ba, ba ! thằng con gọi.
            Ông lão không đáp, đẩy nó ra và cúi lượm những đồng bạc.
            - Có chừng nầy phải không? ông hỏi .
            Bé Tĩnh ra dấu là chỉ có chừng ấy. Ông lão lấy khẩu súng, túi đạn xuống và bỏ bạc vào túi, nói:
            - Tốt lắm, ba sẽ đem trả cho chúng.
            Và không nói thêm một tiếng, cũng không ngoảnh mặt lại, ông ung dung xuống lầu, gia nhập đoàn nghĩa quân xuất hành trong đêm tối. Từ đó, người ta không thấy bác Tĩnh trở về.
(1) Tiếng lóng ý nói sẽ có tấn công, giao chiến.

Những bà tiên của nước Pháp - Alphonse Daudet

Những bà tiên của nước Pháp
(Truyện hoang đường)
Alphonse Daudet
Đoàn Văn Khanh dịch

            - Bị cáo, hãy đứng lên! viên chủ tọa phiên tòa nói.
            Có một sự chuyển động nơi chiếc ghế dài xấu xí dành để các thứ dẫn hỏa, và một vật gì đó vừa không ra hình dáng gì cả, vừa run rẩy tiến đến tựa vào vành móng ngựa. Có thể nói đó là cả một bó nùi giẻ, những mảng vải rách, những mảnh vụn, những sợi dây chỉ, những cánh hoa tàn úa, những chiếc lông chim cũ kỹ, và bên dưới những thứ đó là một khuôn mặt đáng thương héo hắt, sạm màu, nhăn nhúm, nứt nẻ, mà vẻ tinh ranh của hai con mắt nhỏ và đen linh động ở giữa những nếp nhăn trông giống như một con thằn lằn ở trong kẽ nứt của một bức tường cũ.
            - Tên bà là gì? Người ta hỏi bà ta.
            - Mélusine.
            - Bà nói gì?...
            Bà ta lặp lại một cách trịnh trọng: "Melusine."
            Viên chủ tọa, một đại tá vệ binh, nhếch miệng cười dưới bộ ria mép cứng của mình, nhưng ông ta không hề nhíu mày và tiếp tục hỏi:
            - Bao nhiêu tuổi?
            - Tôi không biết nữa.
            - Nghề nghiệp gì?
            - Tôi là tiên!...
            Câu trả lời không những làm cho khán giả, ủy ban, mà luôn cả ông ủy viên chính phủ, tất cả mọi người cười rộ lên; nhưng điều đó không làm cho bà ta bối rối chút nào, và qua giọng nói nho nhỏ, rõ ràng, và run run, dần dần cao lên trong căn phòng, và bay lượn như một tiếng nói của những giấc mơ, bà già tiếp tục:
            "Ôi! những nàng tiên của nước Pháp, họ ở đâu cả rồi! Tất cả đều đã chết, thưa quý ngài. Tôi là kẻ cuối cùng, chỉ còn một mình tôi thôi... Đúng thế, đây là một sự thiệt hại to lớn, bởi vì nước Pháp đẹp đẽ hơn biết bao khi vẫn còn có sự hiện diện của các bà tiên. Chúng tôi là nguồn thơ, niềm tin, sự chân thành, là tuổi trẻ của đất nước.
            Tôi không biết tại sao, nhưng tất cả những nơi chốn mà chúng tôi lai vãng, những công viên rậm rạp, những tảng đá của các bồn phun nước, những ngọn tháp của các tòa lâu đài cổ, những đám sương mù trên các ao hồ, những đầm lầy của cánh đồng hoang rộng lớn đều có một cái gì đó rất kỳ diệu và bao la do sự hiện diện của chúng tôi. Người ta thấy chúng tôi thấp thoáng hiện ra đây đó ở khắp mọi nơi, lướt thướt tà váy dài của chúng tôi dưới ánh trăng hoặc lướt nhanh qua trên đầu ngọn cỏ của những cánh đồng bằng ánh sáng huyền ảo của các câu truyện truyền kỳ. Những người nông dân yêu thương chúng tôi, kính trọng chúng tôi.
            "Trong sự tưởng tượng của những tâm hồn ngây thơ, trán của chúng tôi kết vòng với ngọc trai, những chiếc đũa thần của chúng tôi, những cái xe sợi của chúng tôi luôn pha trộn một chút lo sợ với sự ngưỡng mộ. Tuy vậy nguồn gốc của chúng tôi luôn luôn rõ ràng.
            Những chiếc cày nằm yên tại chỗ ở những con đường mà chúng tôi canh giữ, và như chúng tôi đã làm cho người ta tôn trọng những gì là cổ kính, chúng tôi, những kẻ sống lâu đời nhất trên trần gian này, mà từ đầu đến cuối nước Pháp người ta đã để cho rừng tự mọc lên, đá tự sụp đổ.
            "Nhưng thời ấy đã qua đi. Những con đường sắt đã đến. người ta đào những đường hầm, lấp bằng các hồ ao, và đốn đi không biết bao nhiêu cây cối, đến nỗi chẳng mấy chốc chúng tôi không còn biết nơi nào cho mình dung thân. Dần dần những người nông dân không còn tin chúng tôi nữa. Ban đêm, khi chúng tôi gõ vào những cánh cửa chớp của nhà Robin thì hắn bảo: "Đó là gió”, và lại ngủ thiếp đi. Những phụ nữ đến giặt giũ trong ao hồ của chúng tôi. Từ đó thế là hết đối với chúng tôi.
            Như đã biết, chúng tôi chỉ sống trong niềm tin của người dân, cho nên khi niềm tin ấy mất đi, chúng tôi cũng mất tất cả. Quyền năng của chiếc đũa thần của chúng tôi bị tiêu tan, và từng là những bà chúa quyền uy như chúng tôi trước đây, chúng tôi bỗng thấy mình là những bà già nhăn nheo, độc ác như những bà tiên bị người ta bỏ quên. Và cùng với điều đó là chúng tôi phải kiếm ăn, và những đôi bàn tay không còn biết phải làm gì. Đã có những lúc người ta bắt gặp chúng tôi trong rừng kéo những nhánh củi khô, hoặc lượm mót đôi chút lúa bên vệ đường. Nhưng những người canh rừng đã đối xử khe khắt với chúng tôi, những nông dân đã ném đá vào chúng tôi. Thế là chúng tôi đành đi tìm công việc làm ở các thành phố lớn, giống như những người nghèo không còn tìm thấy cách gì nữa để kiếm sống ở quê nhà.
            Có những kẻ đã xin vào các nhà máy chỉ sợi. Những người khác đi bán táo vào mùa đông ở đầu góc cầu, hoặc các xâu chuỗi hạt ở cổng các nhà thờ. Chúng tôi đẩy những chiếc xe con chở cam, chúng tôi mời mọc khách qua đường mua những bó hoa giá chỉ một đồng xu mà không ai thèm, và những đứa trẻ chế diễu cái cằm lẩy bẩy của chúng tôi, và các cảnh sát thành phố xua đuổi chúng tôi chạy, và những chiếc xe buýt tông chúng tôi ngã nhào. Sau đó là bệnh tật, sự thiếu thốn, một tấm khăn vải của nhà tế bần phủ trên đầu ... Và đó là cái cách mà nước Pháp đã để cho các bà tiên của nó chết. Nước Pháp đã bị trừng phạt xứng đáng!
            "Vâng, vâng, các ngài cứ cười đi, thưa quý ngài. Trong khi chờ đợi, chúng ta đã thấy là một đất nước không có các bà tiên thì như thế nào rồi. Chúng tôi đã nhìn thấy tất cả những nông dân no đủ và cười cợt mở rương hòm cho quân Phổ trốn và chỉ đường cho chúng chạy, thế đấy! Robin không còn tin vào phép mầu, nhưng hắn ta cũng không tin tổ quốc hơn ... Ôi! nếu chúng tôi mà có mặt ở đó, chúng tôi đã làm khác, tất cả quân Đức vào nước Pháp có lẽ đã không một tên nào còn sống để đi ra. Những đóm lửa ma trơi của chúng tôi có lẽ đã dẫn chúng vào những vũng lầy. Ở tất cả các nguồn suối tinh khiết mang tên của chúng tôi đây, chúng tôi có lẽ đã trộn vào những thức uống ma thuật làm cho chúng trở thành khùng điên, và trong những cuộc hội họp của chúng tôi dưới ánh trăng, với một lời phù phép, chúng tôi có lẽ đã làm cho những con đường, những dòng sông rối mù lên với những lối đi vòng vo, những bụi rậm, những cạm bẫy của cánh rừng, và chúng sẽ luôn luôn ngồi co rúm ở đó, mà đôi mắt mèo ti hí của Moltkei có lẽ cũng không bao giờ có thể nhận ra trở lại.
            Với chúng tôi, những người nông dân có lẽ đã xông lên. Những đóa hoa lớn của những ao hồ của chúng tôi có lẽ đã làm thành hương liệu đắp lên những vết thương, những sợi chỉ của các cô gái trong trắng có lẽ đã làm thành vải băng bó, và trên các chiến trường, người chiến sĩ đang hấp hối có lẽ đã thấy được nàng tiên của làng mình nghiêng người cúi xuống trên đôi mắt nửa khép của anh ta để chỉ cho anh ta thấy một góc rừng, một lối rẽ của con đường, một cái gì đó nhắc nhở cho anh ta về xứ sở. Chính như thế đó mà người ta làm nên cuộc chiến dân tộc, cuộc thánh chiến. Nhưng, than ôi! ở những đất nước mà người ta không còn tin tưởng nữa, ở những đất nước không còn những bà tiên nữa thì không thể nào có được cuộc chiến như vậy."
            Tới đây, giọng nói nhỏ lanh lảnh dừng lại một lúc, và viên chủ tọa đã tiếp lời:
            - Tất cả những điều này không nói lên cho chúng tôi biết những gì bà đã làm với các thứ dẫn hỏa mà chúng tôi đã tìm thấy khi những người lính chận bắt bà lại.
            - Tôi đốt cháy Paris, thưa ngài, bà già trả lời một cách thật bình thản. Tôi thiêu hủy thành phố Paris bởi vì tôi ghét nó, bởi vì nó đã cười chê tất cả mọi thứ, bởi vì chính nó đã giết chết chúng tôi. Chính Paris đã gửi những nhà thông thái đến để phân tích những nguồn suối nước xinh đẹp và kỳ diệu của chúng tôi rồi nói thẳng ra trong đó có chất sắt và chất lưu huỳnh. Paris đã chế nhạo chúng tôi trên các sân khấu kịch nghệ của nó. Những phép thuật của chúng tôi đã trở thành những trò xảo thuật, những phép lạ của chúng tôi là những trò đùa, và người ta đã thấy biết bao khuôn mặt dị hợm đi lượn qua trong những chiếc váy dài hồng của chúng tôi, những chiếc xe ngựa có cánh của chúng tôi, dưới ánh trăng bằng ánh sáng của đèn chiếu, khiến cho người ta không thể nào nghĩ về chúng tôi mà không bật cười ...
            Đã có một thời có những đứa trẻ biết chúng tôi bằng tên của chúng tôi, yêu mến chúng tôi, hơi sợ sệt chúng tôi một chút; nhưng thay vì những cuốn sách đẹp bằng vàng và đầy tranh ảnh mà chúng có thể học hỏi về lịch sử của chúng tôi, Paris đã bỏ vào tay chúng những bộ sách lớn về khoa học ngang tầm hiểu biết của những đứa trẻ, mà sự buồn nản xông lên như đám bụi màu xám và xóa đi trong những đôi mắt nhỏ bé những cung điện huyền ảo và những chiếc gương soi kỳ diệu của chúng tôi ... Than ôi! vâng, tôi rất hài lòng khi thấy nó bốc cháy, cái thành phố Paris của các ngài ... Chính tôi là người đã nhét đầy các chất dẫn hỏa vào các thùng, và chính tay tôi sẽ đem chúng đặt ở những nơi thích hợp. “Nào, hỡi con cái ta, hãy thiêu rụi tất cả, hãy đốt đi, đốt hết!..."
            - Chắc chắn bà già này là một mụ điên, viên chủ tọa nói. Hãy dẫn bà ta đi.

Những cụ già - Alphonse Daudet

Những cụ già
Alphonse Daudet
Đoàn Văn Khanh dịch
            - Có thư hả, bác Azan?
            - Vâng, thưa ông... thư từ Paris.
            Bác phát thư già Azan chất phác này rất hãnh diện thư ấy đến từ Paris... Tôi thì không. Có một cái gì đó bảo cho tôi biết là lá thư từ phố Jean-Jacques của Paris rơi xuống bàn của tôi một cách đột ngột vào lúc sáng sớm như thế này, sắp sửa làm cho tôi phí mất trọn ngày của tôi. Tôi không đoán lầm đâu, nhưng cứ xem thử cái đã:
            Bạn phải giúp tôi một việc mới được. Xin bạn đóng cửa cái cối xay gió của bạn lại một hôm và đi ngay đến Eyguièrea... Eyguières là một thị trấn lớn cách chỗ bạn ở chừng ba hay bốn dặm, - bằng một cuốc đi dạo thôi. Khi bạn đến nơi, bạn hãy hỏi thăm tòa nhà Cô nhi viện. Ngôi nhà đầu tiên sau toà nhà là một ngôi nhà trệt có cửa sổ lá sách màu xám với một khu vườn nhỏ phía sau. Bạn cứ vào mà không cần gõ cửa, - cửa luôn luôn mở, - và, trong khi đi vào, bạn hãy nói thật lớn lên: «Xin chào các cụ! Cháu là bạn của Maurice... » Lúc ấy, bạn sẽ thấy hai cụ già, ờ! nhưng mà già, già ôi là già, già đến nhăn nheo, từ trong cái ghế bành mà hai cụ đang ngồi dang tay ra đón bạn, và bạn hãy ôm hôn hai cụ giùm tôi bằng tất cả tấm lòng như thể hai cụ là người thân của bạn. Rồi bạn hãy trò chuyện với hai cụ; họ sẽ nói chuyện với bạn về tôi, chỉ toàn chuyện về tôi; các cụ sẽ kể cho bạn nghe hàng ngàn chuyện láu lỉnh mà bạn nghe thôi chớ có cười... Bạn sẽ không cười nhé, chắc chứ?... Đó là ông bà nội của tôi, hai người mà tôi mang ơn suốt đời và họ đã không gặp tôi từ mười năm nay... Mười năm rồi, dài đấy chứ ! Nhưng biết sao bây giờ! tôi thì, Paris níu chân tôi: còn hai cụ thì lại quá lớn tuổi...  Hai cụ già đến nỗi nếu hai cụ đến thăm tôi, hai cụ có lẽ sụm  dọc đường... May mắn thay, bạn đang sống ở vùng dưới đó, anh bạn thợ xay thân yêu của tôi; và, khi hai cụ ôm hôn bạn, hai cụ già đáng thương cũng sẽ tưởng như đang ôm hôn chính tôi phần nào... Tôi thường hay kể cho hai cụ nghe về tụi mình và tình bạn của chúng mình mà...  
            Thật là khốn nạn cho cái tình bạn! Đúng vào buổi sáng hôm ấy trời lại thật đẹp, nhưng không đáng để đi đường tí nào: quá nhiều gió bấc và nắng, một ngày tiêu biểu của xứ Provence. Khi lá thư khốn nạn ấy đến, tôi đã lựa chọn sẵn một chỗ ẩn mình yên ổn giữa hai mỏm đá, và tôi mơ tưởng sẽ nghỉ ngơi ở đó trọn ngày, giống như một con thằn lằn, để uống ánh sáng, để nghe tiếng thông reo… Rốt cuộc lại, biết làm sao bây giờ? Tôi vừa đóng cửa cái cối xay gió vừa càu nhàu, tôi giấu chiếc chìa khóa ở dưới kẽ tường. Rồi cây gậy trong tay, cái ống điếu, và thế là tôi lên đường.    
            Tôi đến Eyguière sau gần hai tiếng đồng hồ. Ngôi làng vắng vẻ, mọi người làm việc ngoài đồng. Trên những cây du của cái sân trắng xóa bụi, những con ve sầu kêu râm ran. như giữa cánh rừng. Tuy vậy vẫn có một con lừa đang sưởi nắng trên quảng trường của tòa xã trưởng, một đàn bồ câu bay trên bồn phun nước của ngôi nhà thờ, nhưng không một bóng người để chỉ đường cho tôi đến viện mồ côi. May thay một bà tiên già thình lình xuất hiện trước mắt tôi, và đang ngồi xổm xe sợi ở trong xó cửa nhà mình. Tôi liền nói với bà ta cái điều tôi muốn tìm; và dường như bà tiên này cũng rất quyền năng nên bà ta vừa giơ con xe sợi lên chỉ, lập tức cái Cô nhi viện dựng lên trước mắt tôi như là bởi phép tiên... Đó là một tòa nhà âm u và đen tối, rất hãnh diện phô trương trên cái cổng vòm cung một cây thánh giá cũ bằng sa thạch đỏ với mấy chữ la tinh xung quanh. Bên cạnh tòa nhà ấy tôi nhận thấy có một ngôi nhà nhỏ hơn. Những cánh cửa sổ lá sách màu xám, mảnh vườn phía sau... Tôi nhận ra ngay lập tức, và tôi bước vào không gõ cửa.
            Tôi sẽ thấy lại mãi suốt đời cái hành lang dài mát mẻ và yên tĩnh, tường sơn màu hồng, và xuyên qua bức mành có màu sáng là mảnh vườn nhỏ lung linh ở cuối sau, và nhất là những vạt hoa và những đóa hoa héo úa. Tôi cảm giác hình như là tôi đến nhà của mấy vị   pháp quan thời Sedaine... Ở đầu hành lang về phía trái, qua một cánh cửa mở he hé, người ta nghe có tiếng tích tắc của một cái đồng hồ tủ đứng lớn và tiếng một đứa trẻ, nhưng là trẻ học trò, đang đọc sách theo cái kiểu ngừng lại ở từng vần chữ: Bấy.. giờ... thánh... I... ré... née... la... lên... tôi... là... hạt... giống... của... Thiên ...Chúa... tôi... phải... bi... nhai... ngấu... nghiến... bởi... răng... của ... những... con... thú...  Tôi nhè nhẹ tiến gần đến cánh cửa này và nhìn vào...        
            Trong sư yên tịnh và tranh tối tranh sáng của căn phòng nhỏ, một cụ già phúc hậu có đôi gò má hồng, da dẻ nhăn nheo đến tận đầu ngón tay, đang ngủ trong chiếc ghế bành, miệng há ra, tay đặt trên đầu gối. Ở dưới chân ông cụ, một con bé trong y phục màu xanh, - áo chùng lớn và mũ trùm nhỏ, y phục của trẻ mồ côi, - đọc truyện Hạnh thánh Irénée trong một quyển sách lớn hơn cả con bé...
            Bài đọc mầu nhiệm này đã tác động lên tất cả nhà. Cụ già ngủ trong cái ghế bành, những con ruồi trên trần nhà, những con chim yến ở trong chuồng tận dưới kia trên chiếc cửa sổ. Chiếc đồng hồ lớn buông đều tích tắc, tích tắc. Trong toàn căn phòng chỉ có mỗi giải ánh sáng lớn rơi thẳng và trắng sáng giữa các cửa chớp đóng là linh động với những tia lấp lánh và những sự luân chuyển li ti...  Giữa cái khung cảnh êm ả chung của mọi vật, đứa bé tiếp tục đọc với một vẻ nghiêm trọng: tức... thì... hai...con... sư... tử... nhào... tới... trên... nó... và... cắn... xé... nó... Ngay lúc đó thì tôi bước vào... Những con sư tử của thánh Irénée có nhào vô phòng lúc đó cũng không gây ra sự sợ hãi bằng tôi. Thật là một màn giật gân thực sự! Đứa bé la lên một tiếng, quyển sách lớn rơi xuống, những con chim yến, con ruồi cùng thức giấc, chiếc đồng hồ gõ giờ, cụ già choàng tỉnh dậy, tất cả hớt hải, và ngay cả tôi, hơi một chút bối rối, cũng khựng lại trên ngưỡng cửa trong khi la thật lớn:
            - Xin chào các cụ! cháu là bạn của Maurice.
            Ôi! phải chi bạn nhìn thấy cụ già đáng thương lúc ấy, phải chi bạn nhìn thấy được cụ già đi đến chỗ tôi giang tay ôm lấy tôi, siết tay tôi, rồi vừa chạy lăng xăng trong phòng vừa kêu lên:
            - Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi!...
            Tất cả các nếp nhăn của ông cụ như tươi trẻ ra. Cụ đỏ mặt. Cụ lắp bắp:
            - Ồ! quý hóa quá... ồ! quý hóa quá...  
            Rồi ông cụ vừa đi về phía cuối phòng vừa gọi:
            - Mamette à!
            Một cánh cửa chợt mở ra, và có tiếng chạy lắt nhắt như chuột trong hành lang... đó là Mamette. Không còn gì xinh hơn bà cụ già nhỏ người này với cái mũ trùm có vành, chiếc áo dòng nữ tu và chiếc khăn tay thêu mà cụ cầm nơi tay để chào mừng tôi, theo kiểu cách xưa... Điều mủi lòng! cả hai cụ đều giống nhau. Với một cái áo dài và cái vành mũ màu vàng là cụ ông có lẽ cũng tự gọi mình là Mamette được luôn. Duy chỉ có điều Mamette thực có lẽ đã khóc quá nhiều trong đời, và cụ bà còn nhăn nheo nhiều hơn cụ ông. Cũng giống như cụ ông, cụ bà cũng có bên cạnh mình một con bé của viện mồ côi, đứa bé hầu trong bộ áo chùng màu xanh, không bao giờ rời bà cụ. Và khi nhin thấy các cụ già được chăm sóc bởi những trẻ mồ côi này là cái điều không còn gì cảm động hơn mà người ta có thể hình dung ra.      
            Vừa mới bước vào, Mamette bắt đầu tiếp tôi bằng cái kiểu rất lịch thiệp, nhưng chỉ một tiếng nói của ông cụ đã đủ phá tan cái cung cách lịch thiệp của bà cụ:
            - Đó là bạn của Maurice…
            Ngay lập tức bà cụ run rẩy, khóc lóc, đánh rơi chiếc khăn tay, mặt ửng lên, hoàn toàn đỏ, còn đỏ hơn cả ông cụ... Đúng là các cụ già! trong huyết quản không còn bao nhiêu máu, nhưng chỉ cần một chút xúc động là máu đã dồn lên mặt...   
            - Nhanh lên, nhanh lên, mang ghế lại... bà cụ bảo đứa bé hầu của bà.
            - Mở các cửa sổ ra..., ông cụ la lên với đứa trẻ hầu của mình.
            Và rồi mỗi người nắm lấy một tay tôi và vừa chạy lúp xúp vừa dẫn tôi tới bên cửa sổ đã mở toang để nhìn tôi cho rõ hơn. Họ kéo mấy chiếc ghế bành lại, còn tôi ngồi giữa hai cụ trên một cái ghế xếp, mấy đứa nhỏ áo xanh đứng đàng sau chúng tôi, và cuộc hỏi han bắt đầu:  
            - Nó có khoẻ không? Nó làm thứ gì? Tại sao nó không đến? Nó có hài lòng với cuộc sống không?... Và rồi hết chuyện nọ xọ chuyện kia, cứ như thế mà kéo dài hàng giờ.
            Phần tôi thì cố gắng trả lời hết sức mình mọi câu hỏi của các cụ, nói cho hai cụ mọi chi tiết về bạn tôi mà tôi biết, bịa trắng trợn những gì tôi không biết, và nhất là không hề dám thú nhận là tôi chưa bao giờ để ý là cửa sổ phòng bạn tôi có đóng kỹ không hoặc giấy dán tường phòng bạn tôi màu gì.
            - Giấy dán tường của bạn ấy à!... Nó màu xanh, thưa cụ, màu xanh sáng, với các dây hoa trang trí...
            - Thật chứ? bà cụ nói một cách an lòng; và bà cụ quay về ông chồng mình nói thêm: Đúng là một thằng cháu ngoan!  
            - Ừ! ừ, đúng là một thằng cháu ngoan, ông cụ lặp lại với vẻ hân hoan.
            Và suốt thời gian tôi nói chuyện, giữa hai cụ hay có những cái lắc đầu với nhau, những cái mỉm cười nho nhỏ, những cái nháy mắt, cái vẻ chăm chú nghe, hoặc nữa, ông cụ xích lại gần tôi để nói:
            - Hãy nói lớn hơn... Bà ta hơi lãng tai.
            Và về phần bà cụ thì:
            - Nói lớn hơn chút nữa, già xin cháu !... Ông ấy nghe không rõ lắm đâu...
            Bấy giờ tôi bèn cất giọng lớn lên; và cả hai mỉm cười cám ơn tôi; và trong cái mỉm cười héo hắt đang nghiêng về phía tôi đó, hai cụ đang tìm kiếm tận đáy mắt tôi hình ảnh thằng cháu Maurice của họ, còn tôi thì rất cảm động khi nhìn thấy lại cái hình ảnh như mơ hồ, như xa xăm, nhạt nhòa, gần như không cảm nhận được này, như thể tôi nhìn thấy bạn tôi mỉm cười với tôi, từ nơi xa xôi, trong một màn sương mù.  
            Thình lình, ông cụ choàng dậy khỏi ghế:
            - Nhưng mà Mamette à, tôi nghĩ... có lẽ nó chưa ăn sáng!
            Và cụ bà Mamette hốt hoảng, đưa tay lên trời:
            - Chưa ăn sáng sao!... Lạy Chúa tôi!   
            Tôi tưởng là họ còn đang nói về Maurice, và tôi sắp sửa trả lời là anh chàng ấy không bao giờ đợi tới giữa trưa mới ăn sáng. Nhưng không, chính là họ đang nói về tôi; và phải nhìn xem mới thấy hai cụ khoa tay múa chân cỡ nào khi tôi thú nhận là tôi chưa dùng bữa.
            - Dọn ăn nhanh lên, mấy đứa nhỏ! Đặt bàn giữa phòng ấy, lấy tấm khăn bàn dùng cho ngày chủ nhật, đem những chiếc dĩa hoa ra! Và chúng ta nữa, xin tất cả đừng cười nhiều quá như thế! và chúng ta hãy nhanh lên...
            Tôi nghĩ là họ vội vã thật. Chỉ trong khoảng thời gian vừa đánh vỡ mất ba chiếc dĩa thì bữa ăn cũng đã bày biện xong.
            - Một bữa ăn sáng ngon lành! Bà cụ Mamette nói với tôi trong khi đưa tôi lại bàn ăn; cháu dùng một mình nhé, chỉ mình cháu thôi... Chúng tôi ấy à, chúng tôi đã ăn từ hồi sáng rồi.
            Tội nghiệp mấy cụ già! vào giờ nào người ta ăn, các cụ đều đã ăn buổi sáng rồi. Buổi điểm tâm ngon của bà cụ Mamette, đó là hai lóng tay sữa, những quả chà là và một cái bánh ba két, vài thứ gì đó như bánh nhúng. ngần ấy thứ đủ nuôi dưỡng bà cụ và mấy con chim yến của cụ ít ra cũng một tuần... Và phải nhìn nhận là chỉ một mình tôi thôi, tôi đã ăn hết sạch những thực phẩm này!...  Cũng như có một vẻ phẫn nộ thế nào ấy xung quanh cái bàn ăn! Hình như mấy đứa bé áo xanh thì thầm trong khi hích cùi chỏ cho nhau, và tuốt dưới kia, trong tận chiếc chuồng của chúng, hình như mấy con chim yến cũng có vẻ như bảo nhau: «Thôi rồi! cái ông đó ăn hết nguyên cả cái bánh ba két!»
            Thực thế, tôi đã ăn hết sạch, và gần như tôi không nhận thấy điều đó, vì còn mãi bận tâm nhìn xem xung quanh tôi trong căn phòng sáng sủa và êm ả này, nơi phảng phất một mùi hương của những cái cổ kính... Trên hết, có hai cái giường nhỏ mà tôi không thể rời mắt mình ra được. Hai chiếc giường này mà sáng nay trong cảnh sáng mờ mờ tôi ngỡ như là những chiếc nôi, khi chúng hãy còn được che phủ bằng những tấm màn có viền lớn. Tiếng đồng hồ gõ ba giờ. Đây là giờ các cụ già thức dậy:    
            - Bà ngủ à, Mamette ?
            - Không, ông ạ.
            - Maurice là một thằng bé ngoan đấy chứ nhỉ?
            - Ừ! vâng, đó là một đứa bé ngoan.
            Và tôi đã tưởng tượng ra cả một câu chuyện như thế, chỉ vì đã nhìn thấy hai cái giường nhỏ của người già đặt cái này bên cạnh cái kia.
            Trong lúc ấy, một tấn kịch kinh khủng đang diễn ra ở đằng cuối căn phòng, trước cái tủ đựng đồ. Đó là phải làm sao vói tới trên cao kia, trên ngăn chót, để lấy cái hũ trái đào ngâm rượu nào đó đã đợi chờ Maurice từ mười năm nay và người ta muốn mở hàng nó cho tôi.
            Mặc dù đã có những lời năn nỉ của bà cụ Mamette, ông cụ vẫn khư khư tự mình đi lấy hũ trái đào; và, leo lên đứng trên chiếc ghế, ông cụ cố vươn lên trên cao trong sự lo sợ của bà cụ… Bạn thử nhìn xem cái cảnh thế này đây, ông cụ già thì run rẩy và cố rướn mình lên, mấy đứa bé áo xanh thì đeo nơi ghế ông cụ, còn bà cụ Mamette ở phía sau ông cụ thì thở hổn hển, hai tay đưa ra, và trên tất cả những thứ ấy là một mùi thơm cam nhẹ nhàng  tỏa ra từ trong cái tủ mở và những chồng khăn vải màu đỏ hung.. Thật là đáng yêu.
            Cuối cùng, sau nhiều lần cố gắng, ông cụ cũng đã lôi ra được từ trong tủ cái lọ nổi danh, và cùng với cái lọ là một một cái ly cũ bằng bạc đã móp méo, cái ly của Maurice khi hắn hãy còn bé. Họ lấy đào đầy ắp đến miệng ly cho tôi; Maurice hảo món đó lắm, cái món trái đào đó! Và trong khi lấy cho tôi ăn, ông cụ nói vào tai tôi với một vẻ thèm thuồng:    
            - Cháu à, cháu thật là may mắn lắm đó, cháu được ăn nó!... Chính tay bà nhà tôi đã làm đó... Cháu sắp được ăn một món ngon thật là ngon.
            Hỡi ôi! bà cụ nhà của cụ ta đã làm nó, nhưng bà cụ lại quên bỏ đường. Biết làm sao bây giờ? Người ta trở nên đãng trí khi về già. Cụ Mamette ạ, cái món trái đào thật là kinh khủng, cái món đào của cụ đó, cụ Mamette đáng thương của tôi... Nhưng điều ấy không ngăn cản tôi ăn cho đến hết, không hề nhăn mặt.
            Xong bữa ăn, tôi đứng dậy để cáo từ hai cụ chủ nhà. Các cụ còn muốn giữ tôi ở lại một chút nữa để nói về thằng cháu ngoan của hai cụ, nhưng chiều đã xuống, cối xay gió thì xa, phải đi thôi.
            Cụ ông đứng dậy cùng một lượt với tôi.
            - Mamette à, mang áo khoác lại cho tôi!... Tôi muốn đưa tiễn cậu ta tới quảng trường.
            Chắc chắn là tự thâm tâm, bà cụ Mamette cũng thấy là trời đã mát một chút để đưa tiễn tôi ra tận quảng trường; nhưng bà cụ không để lộ điều đó ra. Duy có điều trong khi bà cụ giúp ông cụ xỏ tay vào áo, một cái áo đẹp màu thuốc lá Tây ban nha với nút bằng xà cừ, tôi nghe bà cụ thân yêu nói với ông ta một cách dịu dàng: 
            - Ông sẽ không về muộn đấy chứ, có phải vậy không ?
            Và ông cụ đáp với một vẻ hơi hóm hỉnh:
            - Hề! Hề!... tôi không biết nữa... có lẽ...          
            Tận đàng kia, họ nhìn nhau cười, và mấy đứa bé áo xanh cười khi thấy họ cười, và, trong góc của mình, những con chim yến cũng cười theo cách của chúng... Tôi nghĩ là trong chúng tôi, cái mùi thơm của trái đào đã làm cho tất cả ngà ngà say.    
            ... Chiều đã xuống khi chúng tôi, ông cụ và tôi, ra khỏi nhà,. Con bé áo xanh đi theo chúng tôi xa xa để dẫn ông cụ về, nhưng ông cụ không nhìn thấy, và ông cụ rất hãnh diện bước đi bên tay tôi như một người đàn ông. Mamette từ ngưỡng cửa nhà mình hân hoan nhìn thấy điều ấy, và trong khi nhìn chúng tôi, bà cụ đã có những cái khẽ lắc đầu như muốn nói: «Lúc nào cũng thế, ông lão tội nghiệp của tôi!... ông ta còn đi được mà.» 

Món rượu thuốc của ngài Gaucher - Alphonse Daudet

Món rượu thuốc của ngài Gaucher
Alphonse Daudet
Đoàn Văn Khanh dịch

            - Hãy nhắp thử món này đi, ông láng giềng của tôi; rồi ông sẽ thấy nó ngon cỡ nào.
            Và, từng giọt một, với sự cẩn trọng tỉ mỉ của một người buôn ngọc đếm các hạt ngọc, vị linh mục chánh xứ Graveson rót cho tôi độ hai lóng tay một thứ rượu màu xanh lục rực rỡ, âm ấm, sáng lóng lánh, tuyệt ngon... Tôi cảm thấy ruột gan như phừng lên.   
            - Đó là món rượu thuốc của cha Gaucher, niềm vui và sức khoẻ của xứ Provence chúng tôi, vị cha xứ hiền lành bảo tôi với một vẻ hoan hỉ; người ta chế tạo nó tại tu viện của các cha dòng Prémontrés, chỉ cách cái cối xay gió của ông chừng hai dặm… Có đúng là thứ rượu này đáng giá hơn tất cả các loại rượu do các nhà dòng sản xuất trên thế giới không?... Và phải chi ông biết được lai lịch của món rượu thuốc này thì lại càng thú vị hơn nữa! Thôi thì cứ nghe đây...
            Thế rồi, trong căn phòng ăn của ngôi nhà xứ rất hiền hòa và rất yên tịnh với những bức tranh nhỏ của Chặng đường Thánh giá và những tấm màn cửa sáng sủa được hồ cứng như những chiếc áo lễ, vị tu sĩ bắt đầu kể cho tôi nghe một cách hoàn toàn hồn nhiên, không hề có ngụ ý ranh mãnh, một mẩu chuyện nhỏ hơi có vẻ khó tin và thiếu tôn kính, theo kiểu mấy câu chuyện của Érasme hoặc của Assoucy:  
            - Cách nay hai mươi năm, dòng Prémontrés, hay nói đúng hơn các cha dòng áo trắng, như người dân xứ Provence thường gọi, bị lâm vào cảnh túng quẫn. Nếu như ông thấy được ngôi nhà của họ lúc bấy giờ, ông cũng phải đau lòng.
            Bức tường lớn, ngọn tháp Pacôme bị sụp đổ thành từng đống. Khắp xung quanh tu viện tràn ngập cỏ dại, những dãy cột hành lang nứt nẻ, những tượng thánh bằng đá đổ nhào trong các khung bệ thờ. Không còn tấm kính màu nào của các cửa kính còn đứng nguyên, không một cái cửa nào được sơn phết. Trong nhà chơi, trong nhà nguyện, ngọn gió sông Rhône thổi như trong cánh đồng Camargue, làm tắt những ngọn nến, làm bể chì những khung cửa kính, làm đổ các bình nước thánh. Nhưng điều đáng buồn nhất là cái lầu chuông của tu viện, cứ yên lặng như một cái chuồng bồ câu bỏ trống, và các cha dòng, vì thiếu tiền để mua một cái chuông, đã bắt buộc phải rung chuông lễ sáng với những cái sênh bằng gỗ cây hạnh!...
            Tội nghiệp cho mấy cha dòng áo trắng! Tôi như còn thấy lại họ trong đám rước kiệu ngày lễ Đức Chúa Trời, người tái mét, gầy gò, nuôi sống bằng những thứ rau dưa, diễn hành một cách buồn thảm trong những chiếc áo choàng vá víu, và sau họ là ngài tu viện trưởng, đầu cúi xuống khi đi, rất xấu hổ phơi bày trước ánh sáng mặt trời cây trượng vàng loang lổ và cái miện len trắng bị mối mọt gặm. Các bà của mấy hội đoàn đã phải nhỏ nước mắt thương hại khi đi trong hàng, và mấy ông khoẻ mạnh cầm phướn thì cười khẩy nho nhỏ với nhau trong khi chỉ cho nhau xem những tu sĩ nghèo:
            - Những con sáo đá trở nên ốm đói khi đi thành đàn.
            Sự thực thì ngay cả những cha dòng áo trắng bất hạnh cũng đã đi đến chỗ tự hỏi phải chăng đã đến lúc mỗi người phải tìm cách tự bay nhảy ngoài đời và tự kiếm sống lấy phần mình.
            Nhưng một hôm, trong khi vấn đề nghiêm trọng này đang được thảo luận trong cuộc họp của cộng đoàn thì người ta báo cho vị tu viện trưởng có thầy Gaucher muốn xin cộng đoàn lắng nghe ý kiến của thầy... Để ông hiểu rõ hơn về thầy Gaucher này thì phải nói đây chỉ là một mục tử của tu viện; nghĩa là hàng ngày chỉ biết lùa hai con bò cái gầy còm đi phía trước, lang thang tìm cỏ gặm ở những kẽ đá lát đường hết hành lang này qua hành lang khác trong nhà dòng. Vốn từ nhỏ cho đến năm lên 12 tuổi được nuôi nấng bởi một bà già điên ở xứ Baux mà người ta gọi là dì Bégon, sau đó được các cha dòng tiếp nhận, kẻ mục tử bạc phước này chưa bao giờ được học hành ngoài việc chăn mấy con bò và học đọc kinh Lạy Cha bằng tiếng La tinh mà bấy giờ hãy còn đọc bằng thổ ngữ xứ Provence, bởi vì thầy có một đầu óc chậm lụt và trí khôn ngờ nghệch như một anh chàng ngốc. Nói cho cùng thì thầy vẫn là một con chiên ngoan đạo, mặc dù hơi ảo tưởng, thoải mái khi bị đánh bằng cái thắt lưng roi hãm mình, và tự hành xác với một niềm tin vững mạnh!...   
            Khi người ta thấy thầy ngớ ngẩn và cục mịch, chân trước chân sau bước vào phòng họp cúi chào cộng đoàn, ngài tu viện trưởng, các vị phụ tá, ngài thủ quỹ, tất cả mọi người cùng bật cười. Đây là điều vẫn thường xảy ra bất cứ nơi nào có cái khuôn mặt chất phác, tóc hoa râm với bộ râu xồm và đôi mắt hơi tàng tàng xuất hiện; và thầy cũng không hề lấy đó làm điều khó chịu cho mình.
            - Thưa quý cha, thầy Gaucher nói bằng một giọng khép nép trong khi xoắn đi xoắn lại xâu chuỗi bằng hột ô liu, người ta rất có lý khi nói là chính những cái thùng rỗng mới khua to. Xin các ngài hiểu cho, nhờ cố gắng đào sâu cái đầu đáng thương vốn rỗng tuếch, con nghĩ là con đã tìm được cách để kéo chúng ta ra khỏi sự cùng cực.
            Cách đó là như thế này đây. Quý ngài biết rõ dì Bégon, người đàn bà dũng cảm đã nuôi nấng con hồi con còn nhỏ. (Cầu xin Chúa cứu vớt linh hồn bà ấy, bà già ranh mãnh đó! bà ta hay hát những bài ca nhảm nhí sau khi uống rượu.) Con xin thưa rằng, thưa quý cha đáng kính, rằng là dì Bégon lúc còn sống có biết nhiều thứ cây cỏ trên núi còn hơn cả một con sáo già đảo Corse. Thậm chí, vào cuối đời mình, dì ấy đã chế biến được một loại rượu thuốc không có gì sánh bằng nhờ biết pha trộn năm hay sáu loại dược thảo mà chúng ta sẽ cùng đi thu thập trong núi Alpilles. Chuyện đó cũng đã nhiều năm qua rồi; nhưng con nghĩ với sự giúp đỡ của thánh Augustin và sự cho phép của ngài tu viện trưởng của chúng ta, con có thể - trong khi cố lục lọi trở lại - sẽ tìm được cách chế tạo thứ rượu thuốc thần kỳ đó. Đến lúc ấy, chúng ta chỉ còn có việc vô chai, và bán với giá hơi đắt một chút, điều đó sẽ giúp cho cộng đoàn làm giàu một cách êm thắm, cũng giống như các thầy bên nhà dòng Trappe và dòng Grande...  
            Thầy Gaucher không có thời giờ để nói hết. Ngài tu viện trưởng đứng dậy nhảy đến ôm cổ thầy. Các vị phụ tá nắm lấy tay thầy. Ngài thủ qũy còn xúc động hơn những người khác, hôn luôn cái viền cánh tay áo trùm te tua của thầy một cách kính cẩn...  Sau đó mỗi người trở về ghế ngồi của mình để nghị luận, và tất cả đã quyết định luôn trong buổi họp là sẽ giao ngay mấy con bò cho thầy Thrasybule trông coi để cho thầy Gaucher có thể dành hết thì giờ vào công việc hoàn thành món rượu thuốc.
            Bằng cách nào ông thầy dòng hiền lành này đạt kết quả tìm lại được cái công thức pha chế của dì Bégon? bằng cái giá của những nỗ lực nào? Truyện không nhắc đến. Chỉ biết một điều chắc chắn, ấy là chỉ không đầy sáu tháng, món rượu thuốc của các cha dòng áo trắng đã trở thành rất phổ biến. Trong suốt vùng Comtat, trong khắp các xứ thuộc Arles, không một trang trại nào, một kho lẫm nào mà lại không có trong hầm chứa của mình giữa những chai rượu vang cất và những vại dầu ô liu, một lọ nhỏ bằng đất nung màu nâu đóng dấu khằn xứ Provence, với một ông thầy tu xuất thần trên cái nhãn hiệu màu bạc. Nhờ vào sự thịnh hành của món rượu thuốc của thầy Gaucher, ngôi nhà của các tu sĩ dòng Prémontrés giàu lên một cách nhanh chóng.. Người ta xây dựng lại ngọn tháp Pacôme. Ngài tu viện trưởng có một cái giáo miện mới, nhà thờ có những cửa kính màu mỹ thuật, và vào một buổi sáng lễ Phục sinh, giữa cái lầu chuông trang trí bằng những giải ren mịn màng, vang vang lên cái âm thanh của cả một bộ chuông đầy đủ các cỡ lớn nhỏ.   
            Về phần thầy Gaucher, ông thầy thất học đáng thương mà cách hành xử vụng về từng chọc cười cộng đoàn trong buổi họp thì không còn vấn đề gì để nói nữa trong tu viện. Từ nay trở đi người ta chỉ biết có ngài Gaucher, người có đầu óc và sự hiểu biết rộng rãi, sống hoàn toàn tách biệt không còn bận tâm tới những công việc phụng sự vốn dĩ  rất nhiều và rất chi li của tu viện, và tự giam mình suốt ngày trong lò nấu rượu, trong khi ba chục tu sĩ lùng sục trên núi để hái những thứ hương thảo cho ngài. Cái lò nấu rượu, nơi không một ai, kể cả vị Bề trên chủ quản đều không có quyền bước vào, là một căn nhà nguyện bỏ hoang ở tận cuối khu vườn của các cha. Sự mộc mạc của các cha dòng hiền lành đã biến chỗ đó thành một nơi huyền bí và kinh khủng; và nếu như tình cờ một chú tu sinh trẻ nào đó bạo gan và tò mò bám vào các dây nho bò lủng lẳng leo lên tới khuôn kính hoa thị trên cửa chính nhà nguyện thì cũng phải sợ hãi, vội vã tụt xuống cho nhanh vì thấy cha Gaucher với bộ râu thầy pháp, cúi người trên những cái lò lửa, cái tửu độ kế trong tay; rồi thì khắp xung quanh là những cái chỏm bằng sành màu hồng, những nồi chưng khổng lồ, những ống xoắn bằng thủy tinh, cả một đống ngổn ngang kỳ quái sáng rực lên một cách ma quái trong ánh sáng đỏ của những tấm kính màu.    
            Vào lúc ngày tàn, khi chuông báo hiệu giờ thánh lễ chiều rung lên, cánh cửa chốn huyền bí này mở ra một cách kín đáo, và vị cha khả kính đi lên nhà thờ để tham dự buổi lễ chiều. Phải nhìn xem mới biết cha được tiếp đón như thế nào khi đi ngang qua tu viện! Các thầy dàn thành hàng khi cha đi qua, người ta bảo nhau:    
            - Suỵt !... ngài có điều bí mật !...
            Ngài thủ qũy thì đầu cúi thấp đi theo và nói chuyện với cha... Giữa những sự tâng bốc này, cha vừa bước đi vừa chặm mồ hôi trán, cái nón ba góc rộng vành lật ngược về phía sau như một cái hào quang, nhìn ra xung quanh mình với một vẻ hài lòng cái sân lớn được trồng những cây cam, những mái nhà màu xanh trên đó có những cái chong chóng gió mới, và trong tu viện sáng bừng lên một màu trắng - giữa những dàn cột hành lang đẹp đẽ và đầy bông hoa - các tu sĩ mặc áo mới sắp hàng đôi bước đi với nét mặt an vui.
            - Chính là nhờ ta mà họ có được tất cả những thứ ấy! vị cha khả kính tự nhủ thầm; và cứ mỗi lần cái ý tưởng này đến lại làm cha phồng mũi lên niềm kiêu hãnh.
            Con người đáng thương đã bị trừng phạt thích đáng. Ông sẽ thấy...
            Ông hãy thử tưởng tượng có một buổi chiều nọ trong giờ thánh lễ, cha đến nhà thờ trong một vẻ  khích động khác thường: mặt mày thì đỏ kè, hơi thở hổn hển, chiếc áo dòng xốc xếch, và cử chỉ thì lúng túng đến nỗi trong khi chấm tay vào bình nước thánh, cha đã nhúng ướt luôn cả hai tay áo của mình đến tận cùi chỏ. Thoạt tiên người ta tưởng rằng cha bị xúc động vì đến trễ; nhưng khi  thấy cha cúi mình cung kính trước cây đàn đại phong cầm và cái tòa giảng thay vì bàn thờ chính, lướt ngang qua nhà thờ như một cơn gió, đi lang thang trong cung thánh trong vòng năm phút để tìm ngăn ghế ngồi của mình, rồi sau khi đã ngồi xong thì hết nghiêng mình qua phải lại qua trái và mỉm cười với một vẻ ngây ngô, khắp các dãy trong lòng nhà thờ nổi lên một sự thì thầm ngạc nhiên và người ta cứ xầm xì trong khi đọc hết kinh này qua kinh khác:    
            - Chuyện gì đã xảy ra cho cha Gaucher của chúng ta vậy?... Chuyện gì xảy ra cho cha Gaucher của chúng ta vậy?
            Đã hai lần cha bề trên sốt ruột, phải nện cây giáo trượng trên nền đá lát để ra lệnh yên lặng... Tận phía ca đoàn dưới kia, những bài thánh ca vẫn liên tục, nhưng giọng hát thì thiếu mất niềm hăng say...
            Thình lình, giữa lúc xướng kinh  Ave verum, thì kìa cha Gaucher ngã lăn ra trong ngăn ghế của mình và hét vang lên bằng một giọng oang oang:
            Trong thành phố Paris có những ông cha dòng áo trắng
            Pa ta tanh, pa ta tăng, ta ra banh, ta ra băng...
            Thật là một sự kinh hoàng cho mọi người. Ai nấy đều đứng dậy. Người ta la lên:
            - Hãy mang ông ta đi... ông ta bị quỷ ám rồi!...
            Các cha phụ tá làm dấu thánh giá. Cây giáo trượng của ngài bề trên nện lia lịa... Nhưng cha Gaucher không nhìn thấy gì cả, không nghe gì cả, và hai tu sĩ lực lưỡng bắt buộc phải lôi cha ra khỏi cung thánh bằng một cái cửa nhỏ, trong khi cha vùng vẫy như một kẻ bị quỷ nhập và tiếp tục la thật lớn mấy câu Pa ta tanh và ta ra băng... của mình.
            Qua hôm sau, vào sáng sớm, kẻ vô phước đến quỳ gối trước toà giải tội của ngài bề trên và đọc kinh ăn năn tội bằng cả một suối nước mắt.
            - Thưa ngài, chính cái rượu thuốc đã bắt con, cha nói trong khi tự đấm ngực. Và khi thấy cha buồn bực như thế, ăn năn như thế, ngài bề trên nhân lành cũng thấy mình xúc động.
            - Nào! nào! cha Gaucher, hãy bình tĩnh lại, tất cả những cái ấy rồi cũng sẽ tan đi như sương khô ráo dưới ánh nắng mặt trời...   
            Và nói cho cùng ra thì cái gương xấu đó cũng không đến nỗi to lớn như con nghĩ. Chỉ có cái bài hát là hơi có vẻ ... hừm ! hừm !... Sau hết hy vọng là mấy chú tu sinh nhỏ chưa nghe được... Bây giờ thì, để xem nào, hãy nói cho ta biết bằng cách nào sự việc đó lại xảy ra cho con... Cái đó do trong khi thử rượu thuốc, có phải vậy không? Có lẽ con đã hơi nặng tay... Đúng , đúng, ta hiểu... Cái đó cũng giống như thầy Schwartz , người phát minh ra thuốc nổ: con là nạn nhân của sự phát minh của con... Và hãy nói cho ta biết, con dũng cảm của ta, có quả thực cần thiết là chính con phải tự mình nếm thử cái thứ rượu thuốc khủng khiếp đó?    
            - Vâng, thật là không may, thưa ngài...  cái ống nghiệm cho con biết nồng độ rượu, nhưng về cái độ hoàn hảo, cái vị dịu ngọt thì con chỉ tin vào cái lưỡi của con thôi...
            - Thật vậy sao? được rồi… Nhưng hãy lắng nghe kỹ thêm một chút điều ta nói… Khi con nếm món rượu thuốc như thế vì lý do cần thiết, cái đó có làm cho con cảm thấy dễ chịu không? Con có cảm thấy khoái lạc trong đó không?...
            - Than ôi! vâng, thưa ngài, ông cha khốn khổ đỏ cả mặt trả lời... Đã có hai chiều con gặp được cái hương vị, cái mùi thơm của rượu!... Phải nói đúng là qủy dữ đã chơi khăm con vố này... Con cũng đã dốc lòng từ nay chỉ dùng ống thử nghiệm thôi. Bất kể rượu có đủ hương vị hay không, bất kể nó có trong như ngọc hay không...
            - Để yên xem nào, ngài bề trên ngắt lời một cách nhanh nhẩu. Đừng có để xảy ra cái việc khách hàng không hài lòng... Bây giờ tất cả những gì con phải làm để cho con được che chở trước, đó là con phải cảnh giác... Để xem nào, con cần phải có cái gì để nhận xét?... Mười lăm hay hai mươi giọt, có phải vậy không?... cứ cho là hai mươi giọt đi... Qủy sứ sẽ không bắt nổi con khi chỉ có hai mươi giọt thôi. Đàng khác, để ngăn ngừa mọi tai nạn, ta sẽ miễn cho con từ nay khỏi phải vào nhà thờ. Con sẽ đọc kinh lễ chiều ngay tại lò nấu rượu... Và bây giờ, hãy ra về bình an, cha khả kính của ta, và nhất là... hãy đếm kỹ số giọt.        
            Than ôi, vị cha khả kính đáng thương dù có đếm kỹ từng giọt... qủy sứ vẫn bắt ông ta, và không bao giờ buông tha ông ta ra nữa.
            Chính cái lò nấu rượu là nơi có những buổi kinh nguyện kỳ dị.
            Ban ngày, mọi sự vẫn hãy còn bình thường. Ông cha vẫn bình tĩnh: sửa soạn lò, các nồi nấu, lựa chọn cẩn thận các thứ dược thảo, tất cả những dược thảo của Provence, có thứ mịn mảnh, có thứ xám xịt, có thứ có khía, có thứ khô nồng với mùi hương và ánh nắng mặt trời... Nhưng vào buổi chiều, khi các dược thảo đã được sắc xong và rượu thuốc âm ấm trong các chậu bằng đồng đỏ, cuộc khổ nạn của con người đáng thương bắt đầu.   
            - ... Mười bảy... mười tám... mười chín... hai mươi !...
            Những giọt rượu rơi từ cái ống hút vào trong cái ly màu hồng ngọc. Hai mươi giọt đó, cha ực một hơi, dường như không thỏa mãn. Chỉ có cái giọt thứ hai mươi mốt mới làm cho cha thèm thuồng. Than ôi! cái giọt thứ hai mươi mốt đó!... Bấy giờ, để thoát khỏi sự cám dỗ, cha bèn đi đến tận cuối phòng nấu rượu qùy gối và đắm mình trong việc đọc kinh Lạy Cha. Nhưng từ cái rượu hãy còn âm ấm bốc lên một làn hơi đượm mùi hương thơm cứ bay đến lảng vảng xung quanh cha và dù muốn dù không cha cũng đã bị nó dẫn trở lại với mấy cái chậu.... Rượu một màu xanh lục óng ánh thật đẹp... Nghiêng mình trên đó, lỗ mũi nở ra, cha khuấy nhè nhẹ với cái ống hút, và trong những cái vệt nhỏ sáng lóng lánh mà những làn sóng của chất ngọc bích nhỏ xuống, cha hình như thấy đôi mắt của dì Bégon cười với cha và long lanh trong khi nhìn cha.
            - Nào! còn một giọt nữa!
            Và từ giọt này sang giọt khác, kẻ bạc phước đã kết thúc bằng một ly đầy tràn tới miệng, trong khi tự nói thật nhỏ với một sự hối hận đầy thú vị:
            - Ôi! tôi tự đày đọa mình... tôi tự đày đọa mình...
            Điều kinh khủng hơn nữa, đó là tận cùng của thứ rượu thuốc qủy quái này, cha đã nhớ lại được,  không biết do một bàn tay phù phép nào, tất cả những bài hát nhảm nhí của dì Bégon: Đó là ba mụ đàn bà nhỏ nhiều chuyện, bàn tính nhau làm bữa tiệc đưa tiễn... hoặc : Bergerette của ông chủ André, đã bỏ đi một mạch vào rừng....  và luôn luôn cái điệp khúc nổi danh của các cha dòng áo trắng: Pa ta tanh và ta ra băng...
            Hãy nghĩ xem ngày hôm sau cha xấu hổ đến mức nào, khi các cha cùng phòng nói với cha một cách ranh mãnh :
            - Này! Này! Cha Gaucher, ngài có mấy con ve kêu trong đầu tối qua trong khi ngủ.
            Thế là bấy giờ thôi thì nào là nước mắt, sự thất vọng, sự ăn chay, và sự đánh đòn tự hành xác. Nhưng không gì có thể chống lại con qủy của rượu thuốc; và cứ mỗi buổi chiều, vào cùng một giờ, sự ám ảnh lại bắt đầu.
            Trong thời gian đó, phiếu đặt hàng cứ như mưa bay đến nhà dòng, như thể một ơn lành. Nó đến từ Nimes, từ Aix, từ Avignon, từ Marseille... Ngày này qua ngày khác tu viện hơi có vẻ trở thành một cơ sở chế tạo. Có những tu sinh gói hàng, những tu sinh dán nhãn hiệu, một số khác lo viết sổ sách, số khác nữa lo vận chuyển, việc phụng sự Thiên Chúa thì chỗ này lơ là, chỗ kia thiếu mất vài tiếng chuông rung; nhưng những con người đáng thương của xứ này không mất mát gì cả, tôi đoan chắc với ông như vậy...
            Và rồi, một sáng chủ nhật đẹp trời, trong khi ngài thủ qũy đọc kết toán tài chánh cuối năm trước cuộc họp cộng đoàn và các vị phụ tá nhân lành lắng nghe với đôi mắt sáng và nụ cười trên môi thì kìa cha Gaucher nhào vào giữa phòng họp và la lên:
            - Thôi đủ rồi... con không dính dáng vào chuyện này nữa đâu... Hãy trả lại mấy con bò cho con.
            - Có chuyện gì vậy hả, cha Gaucher? ngài tu viện trưởng hỏi vì nghi ngờ lại có chuyện gì đó nữa xảy ra cho cha rồi.
            - Có chuyện gì à, thưa ngài? Có chuyện là con đang sửa soạn cho con một cuộc sống đời đời trong lửa hỏa ngục và hứng chịu những cái chỉa ba của qủy dữ... Đã có chuyện là con uống rượu như một kẻ khốn nạn...
            - Nhưng ta đã dặn con là hãy đếm số giọt mà.
            - Than ôi! vâng, đếm số giọt của con! Chính là phải đếm bằng ly bây giờ... Vâng, thưa quý cha đáng kính, con đã đến cỡ này rồi. Ba ly cối mỗi buổi chiều... Quý ngài hiểu là điều này không thể nào kéo dài nữa... Lại nữa, hãy sai người nào khác mà quý ngài muốn lo việc chế rượu thuốc.... Lửa trời sẽ thiêu đốt con nếu con còn lăn mình vào đây!   
            Giờ thì cộng đoàn không còn cười nữa.
            - Nhưng mà, khổ thay, con sẽ làm chúng ta bại sản! cha thủ quỹ la lớn trong khi vung quyển sách to tướng lên.
            - Thế ngài muốn cho con bị án phạt đời đời sao?
            Lúc này, ngài bề trên đứng dậy.

            - Các cha đáng kính, ngài nói trong khi duỗi bàn tay trắng có đeo chiếc nhẫn hàng giáo phẩm  sáng chói, có một cách để dàn xếp ổn thỏa tất cả... Đó là vào buổi chiều, có phải vậy không, con thân yêu của ta, là quỷ dữ mới cám dỗ con?...
            - Vâng, thưa ngài tu viện trưởng, thường là vào tất cả mọi buổi chiều... Cũng như, bây giờ đây, khi con nhìn thấy bóng đêm, con xin ngài thứ lỗi, con toát cả mồ hôi , giống như con lừa của Capitou khi nhìn thấy người ta mang cái yên thồ tới.      
            - Khoan đã nào, hãy trấn tĩnh lại... Kể từ nay, tất cả mọi buổi chiều, trong giờ thánh lễ, chúng ta sẽ vì con mà đọc bài kinh cầu nguyện của thánh Augustin, bài kinh khi đọc lên sẽ được ơn toàn xá... Với điều đó, dù cho có chuyện gì xảy ra nữa, con vẫn được che chở... Đó là sự xóa tội trong khi phạm tội.
            - Ồ! Vậy thì may quá! con xin cám ơn ngài tu viện trưởng!      
            Và, không đòi hỏi gì hơn, cha Gaucher trở về với mấy cái nồi nấu rượu của mình, cũng nhẹ nhàng như một con chim sơn ca.
            Hiệu lực kể từ ngay lúc ấy, tất cả mọi buổi chiều, vào cuối giờ kinh chiều, vị chủ tế không bao giờ quên đọc thêm:
            - Chúng ta hãy cầu nguyện cho cha Gaucher đáng thương của chúng ta, kẻ đã hy sinh linh hồn của mình vì lợi ích của cộng đoàn... Oremus, Domine...    
            Và trong khi trên những cái áo choàng trùm màu trắng qùy gối trong lòng nhà thờ, bài kinh lan truyền đi trong cái rùng mình như một ngọn gió buốt thổi trên tuyết, thì dưới kia, tận đầu cùng của tu viện, sau những tấm kính màu le lói của lò nấu rượu, người ta nghe tiếng cha Gaucher hát oang oang:   
Trong thành phố Paris có một ông cha dòng áo trắng,
Pa ta tanh, pa ta tăng, ta ra banh, ta ra băng;
Trong thành phố Paris có một ông cha dòng áo trắng,
Làm cho các thầy tu nhảy múa lăng nhăng 
Trin, trin, trin, trong một khu vườn:
Làm cho các thầy tu nhảy múa...  
            ... Đến đây vị linh mục chánh xứ ngừng lại đầy kinh hãi:
            - Lạy Chúa lòng lành xin thương xót! mong là các con chiên của tôi không nghe được câu chuyện tôi vừa kể!