Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn mới. Hiển thị tất cả bài đăng
5/7/12

Ông già không số - Nguyến Thu Trân

Ông già không số
Nguyễn Thu Trân

Hấp lực của tiền tài danh vọng thường khiến đời người ít nhất một lần bị phản bội đến mờ mắt, đớn đau, dại khờ…  Điều này lại càng bi kịch hơn khi trong chiến tranh, sự định danh anh hùng- tiểu nhân chỉ tày gang tấc…

Vòng đi trong công viên dài ra cho đời người thêm tuổi thọ. Còn tui mong nó dài dài hơn để được nói chuyện với cô nhiều nhiều. Cô có phải là công an hôn vậy. Ông già hăng hái vừa nói vừa cố bước thật dài để kịp bước chân Duyên qua sáu vòng công viên mỗi sáng. Vị chi đúng một giờ đồng hồ, trước khi Duyên về nhà tắm rửa chuẩn bị đến cơ quan, trước khi ông già dắt con bồ nhí hai mươi chín tuổi qua bên kia đường ăn phở.
- “Ghệ” mới nữa hả ông Tư?
Người đàn ông dáng to lù lù như con gấu, mặc áo ba lỗ trắng quần soóc trắng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại từ phía sau đi vượt qua Duyên và ông già hỏi nắc nởm. Ông già trề môi, miệng móm sọm:
- Hổng dám đâu nha, người ta đàng hoàng, công an đó!
Duyên cười cười:
- Thôi, bác đừng có dò ra- đa con nữa, con có phải công an đâu mà cứ giới thiệu hoài, chán ông già ghê, đi tập thể dục mà làm như đi dự hội nghị Diên Hồng!
- Đọ đọ, công an là chỗ đó, không công an sao biết nói hội nghị Diên Hồng? Tui để ý kỹ rồi mới nói. Cô khác mấy người đi bộ trong công viên này nhiều lắm. Không bao giờ mặc áo ba lỗ với quần xà lỏn như mấy cái bà U năm mươi chịu chơi kia nha. Đi đủ sáu vòng rồi về nhà một mạch, không tụ tập cà phê cà pháo phở phiếc yêu iếc gì nha. Mà có một điều tui khoái cô nhứt là gì biết hôn?
- Gì, bác?
- Chiến khu Đ. Trời đất, cái thời tui ở chiến khu Đ gặp cọp như gặp mèo chắc ba má cô cũng còn như cái hột mít trong bụng bà nội bà ngoại cô chớ nói gì cô. Cái thời đó gian khổ mà ta nói, nó lạ lùng, lạ lùng lắm. Chuyện lạ này mấy người trẻ bây giờ ai chịu nghe, chỉ mình cô thích nghe thôi à. Sao cô thích nghe chuyện tui bắn giết nhau trong rừng vậy, công an thu thập tài liệu để theo dõi tui phải hôn?
- Xời, tuổi bác bây giờ phải vui thú điền viên cùng con cháu, gần tám mươi rồi, ai theo dõi chi!
- Vậy ý cô chê tui già đó phải hôn?
- Không chê mà là nể, nể ông già trận mạc trong kháng chiến vậy mà vẫn còn sức để sáng sáng ra công viên đi bộ cùng con cháu.
- Vậy là nể hen, nè, nghe chuyện cọp hôn?
- Cọp gì bác?
- Nè, là đờn bà con gái đừng hỏi không không kiểu đó nghen, gặp mấy thằng cà chớn nó nói lái lại là cô có nước độn thổ luôn à. Tui nói cọp ở đây là cọp thiệt, cọp rừng chiến khu Đ bạt ngàn hồi năm một ngàn chín trăm lâu lắm.
- Dạ, bác kể đi, con nghe.
Ông già quay đầu dòm dòm:
- Nghe thì đi chầm chậm thôi, tui kể hụt hơi, lăn ra xỉu, cô chịu trách nhiệm à...
... Tư Biển ngày ấy cao to, đẹp trai nhất rừng, khoẻ nhất chi đội mười. Thời kháng chiến chống Pháp, rừng chiến khu Đ miền đông đất đỏ bạt ngàn thênh thênh. Ngoài cây cối, rừng còn có thêm ba “đặc sản”: bộ đội, con gái thượng (người Châu Mạ & STiêng) và cọp. Ngoại trừ cọp là nỗi kinh hoàng với ám ảnh cọp ba móng ghiền ăn thịt người, còn lại là bộ đội và con gái thượng dung giăng dung dẻ qua nhiều chuyện cười ra nước mắt. Có vậy bộ đội mới được “rì lắc” mà hăng hái hoàn thành nhiệm vụ. Theo Tư Biển, “giai thoại” sống động và sống... sượng nhất thuộc về ông. Ông ngủ với con gái thượng chỉ một lần mà gây bao chuyện phiền toái.
Số là trong một đêm mưa thúi trời thúi đất, nước ngập đến đít võng giăng tòn ten dưới sàn nhà cô gái thượng, vậy là anh em bò lên cầu thang xin phép gia chủ được ngủ nhờ. Ông già thượng đồng ý cái rụp. Bốn góc nhà sàn bốn chỗ. Chỗ là đống thóc lù lù. Chỗ là nơi ngủ của vợ chồng ông già. Chỗ của năm chị em cô gái thượng. Chỗ còn lại cho năm anh bộ đội. Sau một hồi chuyện vãn, bếp lửa tàn, lúc mọi người rúc vô chiếu ngủ tiếp thì Tư Biển mót đái. Đái xong, lò dò từ dưới cầu thang đi lên, anh chàng cứ nhắm cái chiếu nào có thò ra mấy cái chân trần thì chui vô (nghĩ là bộ đội mặc quần xà lỏn). Khi trời chưa sáng tỏ thì mọi người đã nghe la oai oái: “Á, cái thằng bộ đội chui vô mình con gái!”. Lúc này Tư Biển mới mở mắt, há hốc mồm. Ơi trời, bộ đội chủ quan, quên cái vụ con gái thượng quấn xà rông, ngủ một hồi lăn qua lăn lại, váy tụt hết ra ngoài. Ngay sáng hôm đó, cuộc họp “đền chồng” được triển khai giữa vợ chồng ông già thượng và ban chỉ huy chi đội mười. Vậy là Tư Biển phải làm chồng cô con gái lớn ông già thượng. Làm chồng nhưng chưa “làm” gì cả, phải đợi một ngày đẹp trời cúng giàng bảy mâm.
Ngày đẹp trời đến, Tư Biển được phân công đi bắt thú rừng về làm thức ăn cúng giàng. Anh chàng đi lang thang trong rừng hết nửa buổi trời mà chưa bắt được con thú nào. Bận quay về, thời may đi ngang qua cụm cây dầu, cây nào cây nấy to đến mức ba người ôm không xuể thì thấy có chú rắn vàng sọc đen nằm im thin thít dưới mấy gốc cây. Tư Biển bước rón rén, vận hết thần công lực quất gậy vào con rắn. Ừm... một tiếng gầm vang núi rừng, úi cha mẹ ơi, cọp! Một lão cọp vàng sọc đen đang nấp sau gốc dầu rình mồi. Cái mà Tư Biển tưởng rắn chính là đuôi lão. Bị đánh bất ngờ, lão hết hồn cong đuôi chạy mất. Tư Biển té cái ạch xuống thảm lá cây rừng mục nát, anh chàng xỉu sau khi sợ đái ra quần. Khi tỉnh lại, anh đã thấy mình nằm trong một ngôi nhà thượng khác với hai ông già thượng đang cắm cúi làm thịt một con chồn. Tư Biển bị lạc đơn vị. Ròng rã sáu tháng trời anh chàng mới tìm lại được chi đội mười. Đơn vị đã chuyển sang một khu rừng khác, thế là Tư Biển cũng lạc mất vợ. Không nghe ai nhắc gì về chuyện cô gái thượng đã bắt Tư Biển làm chồng nên anh chàng cũng im luôn...
Ông già kể chuyện quá chừng có duyên, già rồi, mắt khép ti hí mà cũng liếc tới liếc lui vẻ đa tình. Người bị nghi là công an cười tủm tỉm:
- Vậy chớ bác không tiếc người vợ chưa kịp cưới à?
Miệng già móm cười duyên dáng:
- Tiếc gì cô ơi, vậy chớ mà có cúng giàng xong thì chắc tụi tui cũng đã nên vợ nên chồng, chuyện duyên số mà, ai biết được. Mà thôi, trong cái rủi cũng có cái may, cô chưa thấy con vợ hụt tui đâu, gái rừng mười tám tuổi đẹp man rợ. Tóc dài đen mượt, cặp vú vồng lên cứng ngắc, phía sau là cái mông cong cong lúc lắc. Nhưng ớn nhứt là cái chuyện nó nằm tênh hênh giữa nhà cho bò cạp rừng bò khắp người, ghê chết mẹ!
- Bác gái bây giờ có đẹp bằng cô gái thượng đó không?
- Đẹp gì, mập tù lù như cái lu, bị tiểu đường, cái gì cũng cử...
Chợt nhớ điều gì, ông già lật đật đưa tay xem đồng hồ:
- Chết, tới giờ rồi, thôi cô đi một mình nha, để tui qua quán phở, nó ngồi chờ ở bển, qua trễ nó cự nự dữ lắm.
- Nó nào bác?
- Trời, cô quên rồi sao, con “ghệ” nhí của tui.
- Có “ghệ” chi cho cực vậy bác...
- Cũng tại cái bà thùng phi nhà tui cử đủ thứ hai chục năm nay. Đờn ông mà, còn sống còn sung.
***
Nắng đầu ngày tươi roi rói phủ tràn thảm cỏ xanh mượt trong công viên. Tư Biển lại lẽo đẽo đi bên Duyên, thỉnh thoảng liếc sang:
- Bữa nay cô bệnh hay sao mà buồn vậy?
- Buồn chi, bác?
- Vậy sao không cười không nói tiếng nào, còn mặt thì nghiêm như công an?
- Sáng mới gặp nhau, chưa có chuyện gì để nói nên buồn vậy thôi mà. Bữa nay có ai chờ bác bên kia quán phở không?
Như thói quen, ông già đưa tay xem đồng hồ:
- Sao không, nhưng còn lâu lắm nó mới tới.
Tư Biển bước bước dài, đánh đùng xa tự tin, khoẻ khoắn:
- Đi vậy cho kịp cô, không thôi bị chê già.
- Nè, bác…
- Gì?
- Đi bộ chung với bác cả năm trời, cho con hỏi chút này nha…
- Xời, hỏi gì cứ hỏi, ngại ngần chi!
- Lúc nào con cũng thấy bác băng băng cái gì bên bắp tay trái giống mấy ông “cờ đỏ” dẹp đường ngày xưa vậy?
- Đọ đọ thấy chưa, công an mới biết “cờ đỏ” mà hỏi vậy chớ, tui nói không sai mà cứ cãi!
- Nhưng bác băng cái gì vậy?
Ông già đưa một ngón tay lên môi:
- Chuyện này thì không được rồi, xin lỗi nghen! Ừ, đầu hôm xóm tui có chuyện hay lắm, muốn nghe hôn, tui kể?
Thằng ăn trộm tới số thiệt tình mới mò vô xóm Tư Biển. Xóm có phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc “ngon” nhất phường, năm nào cũng được nhận cờ thưởng luân lưu. Thằng trộm lò dò mới mở được khoá chiếc xe máy nhà ông tổ trưởng dân phố thì bị phát hiện. Cả xóm xúm nhau vây bắt, túng thế, nó nhảy xuống con kênh nước đen chạy dọc theo xóm. Dòng kênh nước cạn nhách, đen thùi giấu thằng trộm thiệt tài tình. Mới thấy nó nhảy xuống đó mà mất tiêu, một dấu sủi tăm cũng không có. Đứng lóng ngóng trong dòng người bên bờ kênh tiếc ngẩn ngơ thằng ăn trộm, Tư Biển phản đối ý ai đó nghi nó chết đuối. Nước tới đầu gối mà đuối gì. Để tao. Tư Biển chạy lại gần cầu Tự Do cách đám đông không xa rồi chui xuống gầm. Chẳng mấy chốc ông nắm đầu thằng trộm lôi lên trong tiếng vỗ tay hoan hô của mọi người.
- Cũng chẳng hay ho gì, nhờ sao cô biết hôn?
- Không cần biết nhờ gì, chỉ một mình tay không bắt trộm là con thấy bác xứng đáng được phong anh hùng.
- Xời, anh hùng là tui anh hùng lâu rồi, nhưng mà cái này là anh hùng chết tự mỹ nhân cô công an ơi… Nhưng thôi, tui quay lại chuyện này… mà cô có thích nghe nữa hôn vậy?
- Dạ thích chớ, bác!
- Ừa, tự nguyện vậy thì tui kể. Cô biết hôn, người già sống nhờ kỷ niệm như tui bây giờ chắc hổng còn ai, mỗi khi nhắc mấy chuyện có dính líu tới kháng chiến, bà vợ tui với mấy đứa con lắc đầu bỏ đi, họ biểu nói chi nói hoài chuyện xa lơ xa lắc… Nhưng mà có xưa mới có nay phải hôn cô? Chuyện này dính tới ông Trảng à nghen.
- Trảng nào, bác?
- Anh hùng Nguyễn Văn Trảng đó biết hôn, ổng gài mìn tính giựt sập cầu Tự Do giết thằng tướng Mỹ…
- Ủa, bác biết ông Trảng à?
- Ông Trảng anh hùng sử sách còn ghi ai mà hổng biết. Quan trọng là tổ công tác của tui nằm cùng địa bàn tổ công tác của ổng lúc ổng đình đám cái vụ gài mìn cầu Tự Do đó.
- Ủa, mà chuyện bắt thằng trộm dưới gầm cầu với chuyện ông Trảng anh hùng có gì liên quan, bác?
- Có chớ. Không biết lý do gì mà dưới gầm cầu Tự Do có một mô đắp bằng xi măng khuất tầm mắt mọi người, nước lớn nước ròng gì, đứng trên đó đều bình an vô sự. Nhờ cái vụ này nên ông Trảng làm công tác điều nghiên rất tốt trước khi đặt mìn, chỉ tiếc là bị lộ quá vô duyên.
- Vô duyên?
- Vô duyên chớ gì nữa. Chôn dây điện kích mìn mà hà tiện, dây cụt ngủn hà, làm sao chôn sâu được. Nước ròng, dây chôn lớt phớt dưới mặt cát bên triền con kênh hiện ra ngoằn ngoèo, vậy là lạy ông tui ở bụi này. Mà chắc cũng hổng phải hà tiện đâu, ổng tính hổng tới, quên chuyện nước lớn nước ròng. Ngày đó cầu Tự Do bắc qua con kênh rộng thênh thênh, nước trong xanh bốn mùa, ngày nước lớn tàu bè chở hàng lên đến hàng tấn qua lại thoả sức, chớ đâu cạn nhách cạn nhơ hôi hám suốt ngày như thằn lằn đái bây giờ. Đó, nói vậy để cô biết tui cũng chẳng hay ho gì, may nhớ có cái mô xi măng mà chui xuống tóm thằng trộm đang đứng run lẩy bẩy.
- Cũng may nữa là nhờ chuyện thằng trộm mà được biết Tư Biển từng là đồng đội của một anh hùng.
- Anh hùng hả? Ừ, tính ra thì ổng cũng anh hùng thiệt, một người chí khí, không tham sống sợ chết. Nếu ổng tính toán chi li được mọi tình huống, chắc không bị phát hiện sớm vậy, thiệt tiếc!
***
Có một ngày, ông già không lẽo đẽo đi theo Duyên nữa mà ngồi ủ rũ ở góc công viên. Chị đến ngồi cạnh ông bên ghế đá:
- Sao buồn vậy bác?
Ông già co một chân lên ghế, tay kéo kéo vành tai người già đang dài ra như tai Phật:
- Mất mẹ nó liền một lúc ba tháng lương hưu.
- Bao nhiêu bác?
- Gần mười tám triệu bạc chớ ít à.
- Trời, lương hưu bác nhiều dữ vậy đó hả?
- Mấy chục năm đi theo kháng chiến, tui có thiếu “bê” gì đâu à, bê trọc bê trụi gì có hết. Còn huân chương huy chương thì chắc phải đeo dài xuống đến đầu gối. Vậy thử hỏi sao lương không nhiều được.
Nói xong ông già chép miệng, đưa cùi chõ tay săm soi mấy vết trầy sướt. Duyên nghiêng người nhìn nhìn theo ông:
- Bác bị sao vậy?
- Hôm qua còn say thuốc mê, bị té trong nhà tắm.
- Ai đánh thuốc mê bác?
- Con “ghệ” trời đánh!
Ông già được toàn quyền xử lý lương hưu theo nhu cầu cá nhân. Đám con thành đạt, khá giả nên chuyện chu cấp, nuôi dưỡng cha mẹ già không có gì phải bàn cãi. Vợ chồng già không hợp nên dù ở chung với anh con cả nhưng mỗi người vẫn cứ một phòng cho chắc ăn. Một mình ông một phòng suốt bao nhiêu năm. Con cái có thể chi tiền cho ông thoải mái nhưng họ không có thời gian cho cha. Ngay đến chuyện đi bệnh viện mỗi lần ông bệnh nặng, họ cũng thuê người. Thế là ông bè bạn với hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi trong phường. Phức tạp hơn là bao mối quan hệ loạn xà ngầu trong công viên mỗi sáng mỗi chiều mỗi tối.
Tư Biển bảo, ngoài chuyện dắt “ghệ” đi ăn và mua sắm chút ít để làm đẹp lòng người đẹp, phần lớn tiền hưu còn lại ông làm việc nghĩa. Đại khái như tặng học bổng cho mấy đứa nhỏ con nhà nghèo ham học, cho bà già neo đơn cuối xóm mỗi tháng đủ tiền mua mười lăm ký gạo, góp tiền làm quỹ ủng hộ bạn cựu chiến binh nghèo mua thuốc uống tuổi già...
Con “ghệ” hai mươi chín tuổi của ông không sắc nước hương trời nhưng được cái, nó có vẻ còn là con gái. Ông chắc thế bởi nó có vẻ “nhát” đàn ông. Tất cả đều là “có vẻ”. Nhưng ông cũng vui và đôi khi thấy yêu quý nó thật lòng. Dù sao cũng còn hơn con “ghệ” trước. Ả đó tuổi “băm” rồi, nhưng hễ ông đụng vô một chút là đòi tiền đi phá thai. Lúc hai triệu đồng, khi một triệu. Thậm chí chưa kịp lãnh lương hưu, đưa một trăm ngàn, năm chục ngàn đồng cũng lấy. Đến một ngày, Tư Biển quyết định đi xét nghiệm khả năng sinh con ở tuổi cổ lai hy của mình. Bác sĩ bảo, đám tinh binh của ông đã bị vô hiệu hoá mười đời tám kiếp từ sau những trận mưa bom bão đạn ở các cánh rừng miền Đông Nam bộ. Hèn gì hai lần sinh con sau, vợ ông đã ngất lên ngất xuống mấy lần trước những đứa trẻ không đủ hình hài và chết non.
Con “ghệ” hai mươi chín tuổi của Tư Biển chỉ có một yêu cầu đơn giản: mỗi lần ả cho ông sờ ngực và ấp mặt vào “núi đôi” thì ông phải “lì xì” một trăm ngàn đồng và dắt ả đi ăn phở. Còn ăn phở bình thường, không sờ mó chi hết thì miễn tiền, chỉ cần nghe những lời ngọt ngào “anh anh em em” từ làn môi tươi hồng của ả là ông đủ thọ thêm mười tuổi. Ả bảo đời ả chưa biết đàn ông là gì. Nhưng cảm động trước tình yêu thiên thần và chân chính của ông, ả sẵn sàng cho ông khám phá luôn phần từ rốn xuống đến mười đầu ngón chân với điều kiện ông phải mua cho ả chiếc xe đạp. Tưởng gì, xe đạp, OK chuyện nhỏ. Canh lúc ông vừa lên phường lãnh lương hưu ba tháng một lần, ả rủ ông đi hú hí. Thuê phòng khách sạn, mới hôn nàng một cái, vừa uống xong ly nước, chuẩn bị bước vào mê cung là chàng đã thấy buồn ngủ lạ kỳ. Tỉnh dậy, chàng thấy mình nằm trong bệnh viện, ba tháng lương hưu không cánh mà bay cái vù, bên cạnh là bà vợ mập tù lù với gương mặt lạnh băng.
***
Ông già nghỉ không đi bộ một tuần. Duyên thấy sốt ruột. Không phải vì không có người đi bên cạnh kể cho nghe đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Mà chị đang rất muốn ông già xuất hiện để kể ông nghe câu chuyện về người anh hùng không số. Đó là cách gọi nhân vật chính trong một phóng sự vừa được đăng báo. Trong hành trình tìm lại các nhân vật trên con đường vận chuyển vũ khí huyền thoại trong chiến tranh từ Bắc vào Nam và ngược lại, người anh hùng không số là nhân vật huyền ảo nhưng có thật. Chính anh là người đi bộ dọc theo bờ biển từ miền Trung vào đến tận mũi Cà Mau để thiết lập hải trình ban đầu cho những chuyến tàu. Anh đã xung phong làm thuyền trưởng chuyến tàu thử nghiệm đầu tiên từ Nam ra Bắc với bốn người lính quả cảm, xác định ra đi không hoàn thành nhiệm vụ không về. Năm người lính đã đốt cháy bắp tay, khắc ghi hai chữ Sát thát trước khi tàu xuất hành. Bận mang vũ khí trở về chiến trường miền Nam, tàu của họ bị nổ tung vì trúng thuỷ lôi địch. Dù không hoàn thành nhiệm vụ nhưng sự hy sinh của những người lính quả cảm đã để lại kinh nghiệm chống thuỷ lôi địch cho những chuyến tàu sau này.
Cụ NHT gần trăm tuổi nhưng vẫn phương phi tỉnh táo, một trong những vị chỉ huy kế hoạch tàu không số thử nghiệm, người duy nhất ở mặt trận phía Nam điều hành những hoạt động liên quan đến con tàu đã cho biết, không hẳn là tất cả các chiến sĩ trên tàu đã hy sinh như mọi người biết lâu nay, dường như có một người sống sót, người chiến sĩ ấy không biết còn hay mất sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, bộn bề. Người chiến sĩ ấy bây giờ ở đâu? Đấy là đoạn kết của bài phóng sự.
Duyên gần như luôn nghĩ đến Tư Biển sau khi đọc phóng sự này. Chị tin mình có giác quan thứ sáu để làm một điều gì đó. Không biết điều gì, nhưng lòng chị cứ nao nao. Chị nghĩ Tư Biển là một người lính lạ lùng và biết nhiều huyền sử của chiến tranh. Biết đâu ông già cũng biết một chút về những người lính quả cảm trên con tàu không số đầu tiên ấy. Nghĩ vậy nên dù rất bận rộn, Duyên vẫn thu xếp ra công viên đi bộ, hy vọng được gặp ông già. Thật tình, quen biết nhau như thế, nhưng chưa bao giờ chị xin số di động hay biết nhà ông ở cụ thể nơi đâu.
- Xin lỗi, chị là Duyên, người hay đi bộ cùng ba tôi mỗi ngày?
Duyên bước chậm lại, nhìn người đàn ông có đôi mắt một mí đa tình giống Tư Biển:
- Đúng rồi, anh hỏi tôi có chuyện gì?
Sắc mặt người đàn ông thoáng đỏ, có lẽ vì xúc động:
- Ba tôi bị đột quỵ cả tuần rồi, lúc tỉnh lúc mê chị ạ, bỗng dưng sáng nay cụ tỉnh lạ lùng và muốn… muốn được gặp chị, chị là công an phải không?
- Không, tôi không là công an. Bây giờ tôi có thể gặp bác Tư ở đâu?
- Mời chị đi cùng tôi đến bệnh viện.
… Người ông già bé choắt đi trong bạo bệnh, Duyên nhớ dáng ông lăng xăng bước cho bằng bạn đồng hành bởi sợ bị chê già không còn sức, kềm lòng lắm chị mới không bật khóc.
- Bác Tư, con, Duyên nè, bạn đi bộ của bác nè, nhớ hôn?
Mắt lấp lánh ánh vui, ông già đưa tay ra dấu mời Duyên ngồi trên chiếc ghế nhựa cạnh giường bệnh:
- Ôm… ôm ay, cô ó ó đi ộ hôn?
Ông già ngọng nghịu mất rồi, người con trai phải làm nhiệm vụ “phiên dịch” giúp Duyên. Chị nắm bàn tay ông lạnh giá, sợ điều chẳng lành. Sau vài câu thăm hỏi và kể lể chuyện nọ kia giữa đôi bên, con trai ông già mở cặp... Duyên ngỡ ngàng nhìn tờ báo anh ta đưa cho chị:
- Đây là tờ báo có đăng bài phóng sự viết về con tàu không số mấy chục năm qua, nhiều điều lạ lùng và ngẫu nhiên lắm, tôi đọc cho ba nghe rồi, chị đọc đi.
- Vâng vâng, anh nói đúng, tôi cũng đọc rồi, bài báo rất hay và xúc động.
- Không phải chỉ có hay và xúc động, anh chiến sĩ quả cảm còn sống là ba tôi đấy- nhân vật người anh hùng không số. Cụ đã trôi dập dềnh trên biển suốt năm ngày năm đêm với tấm ván thuyền bị thuỷ lôi đánh vỡ, sau đó may nhờ ngư dân địa phương cứu sống. Cụ đã kể tôi nghe hết từ tối hôm qua. Tôi sẽ kể lại thật tường tận cho chị rõ. Cụ bảo, trên đời này chỉ còn mình chị thích nghe cụ kể chuyện chiến tranh thôi phải không?
Lồng ngực Duyên nặng trịch, trái tim muốn vỡ toang, điều chị linh cảm quả không sai. Không đợi Tư Biển nói thêm lời nào, chị chồm người kéo tấm băng đỏ trên bắp tay trái ông già, hai chữ Sát thát hiện ra đỏ ửng giữa quầng da trắng nhợt nhạt do bị quấn kín lâu ngày. Ông già cười móm mém, môi run run, hai dòng nước mắt trào ra…
Đến tối thì Tư Biển bị cấm khẩu, rồi hôn mê. Sau đó ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.
Lúc đưa ông già ra nghĩa trang, Duyên không muốn quay về vội. Cắm thêm trên mộ nén nhang, chị nhìn lên bầu trời cao xanh vời vợi, nơi có đàn én chấp chới bay qua…
            Rồi cát bụi cũng trở về cát bụi.
Mọi thứ quay lại điểm khởi đầu.
Đố kỵ, tiền tài, danh vọng hư vô...
... Chuyến tàu không số thử nghiệm của ông già và đồng đội là một hành trình bi tráng của những người trẻ trong chiến tranh. Ở mặt trận phía Nam, ngoại trừ vị chỉ huy già được nêu trong báo, không ai biết Tư Biển đã tham gia điều nghiên và điều hành con tàu không số đầu tiên. Nhưng ngày ấy, vị chỉ huy đã lạnh lùng từ chối, không xác nhận Tư Biển tham gia hành trình tàu không số và còn sống sót trở về. Sự ích kỷ, độc ác vì sợ người khác hơn mình, sợ người khác trở thành anh hùng hoặc sợ điều gì gì đó nữa của vị chỉ huy mà không ai được biết đã khiến đời Tư Biển lao đao. Ông già chấp nhận bỏ qua giai đoạn vào sinh ra tử ở những mặt trận ác liệt nhất để làm lại từ đầu. Ông đã phải làm tường trình bắt buộc khi tìm về đơn vị cũ, báo lý do bỏ ngũ một thời gian dài là do… nuôi vợ đẻ. Nhờ cái “mác” dòng họ tham gia hoạt động yêu nước từ đời ông cố ông sơ, nhờ sự bảo lãnh của người cha- cũng là một cán bộ chỉ huy có uy tín trong lực lượng vũ trang cách mạng lúc bấy giờ, Tư Biển mới được chỉ huy đơn vị cũ chấp nhận. Nhưng ông bị giáng hai cấp bậc vì vô kỷ luật; vì chưa thông quan điểm, lập trường giai cấp; còn xem tình nhà nặng hơn nợ nước. Băng mình qua sóng dữ, ông già thề giấu kín hai chữ Sát thát để quên đi một lần bị phản bội đến mờ mắt, đớn đau, dại khờ. Băng mình qua chiến tranh ác liệt, kể cả việc không còn được tin dùng, ông già bị đổi đơn vị liên tục, ký ức về sự bị phản bội đớn đau lâu ngày cũng dần phôi pha trước anh linh hàng ngàn hàng vạn đồng đội đã ngã xuống, trong đó có cha ông. Máu và nước mắt của Tư Biển trong mỗi chiến công sau đó được ghi nhận làm bằng cho việc ông được trở về đời thường sau chiến tranh trong vai người lính già kiên trung có nhiều đóng góp cho cách mạng.
Hết chiến tranh, có điều kiện lần lại những đầu mối xác nhận về con tàu không số xưa, ông già cũng không buồn làm bất cứ động thái nào để được ngợi ca như một anh hùng. Ông bảo quên đi, bảo chán, chán người chán đời, được sống như chính mình đã là quá tốt. Chỉ có điều ân hận là, thời đó được giao việc tuyệt mật nên chuyện ai nấy biết; thành ra bao nhiêu năm qua rồi mà ông vẫn không biết tên thật, đơn vị và quê nhà của bốn đồng đội đã hy sinh. Chỉ nhớ thằng mập lùn, thằng hát hay, thằng sợ khói thuốc hơn sợ khói súng, thằng nói tiếng nẫu khó nghe hơn tiếng Campuchia.
Không bao lâu sau, Duyên đọc được một tin buồn trên báo, cụ NHT- vị chỉ huy kế hoạch tàu không số thử nghiệm năm xưa đã qua đời ở tuổi chín mươi chín vì bị ung thư tim. Có lẽ thế, trước khi chết ai cũng muốn nói lời thật để sớm được lên thiên đàng.
30/6/12

Thần nữ đi chân không - Trần Thùy Mai

Thần nữ đi chân không
Trần Thùy Mai

            Đêm đã khuya. Nhà vua ngồi trước án thư, nghe quan Thượng thư Trịnh Hoài Đức đệ trình biểu chương từ các tỉnh tâu về. "Tâu Hoàng Thượng, phủ Thừa Thiên đã xây xong đền thờ bà cụ chèo đò; Đã khắc văn bia trong đền, kể chuyện Đức Kim Thượng tẩu quốc qua đây được bà cụ đưa sang sông. Vừa khi đó quân Tây Sơn truy đuổi, cũng bắt chở sang, bà cố ý trùng trình chậm lại, quân Tây Sơn tức giận chém chết...
            - Trẫm nhớ, nhớ rõ lắm...
            Nhà vua gật đầu, trong đôi mắt uy nghi hiện rõ những ngày gian khó năm xưa. Nếu không có lòng nhân từ của bà cụ thì giờ đây chắc gì còn có con người đang ngự trên ngai vàng sập ngự này. Mà lúc đó bà cụ có biết ngài là ai, sẽ làm gì đâu. Chỉ thấy trước mắt một con người đang cần che chở...
            - Tâu Bệ hạ, các tỉnh khác cũng đã có biểu dâng sự tích xin phong. Ở Phú Quốc, có chuyện cá sấu quy phục Bệ hạ, trâu nước chở Bệ hạ qua sông, ở Quảng Nam có con sói và con rái cá cứu Bệ hạ thoát nạn, lại có thần nữ trong núi hiện ra dâng cơm cho ngài...
            Nhà vua lắng nghe, không bỏ sót một chi tiết nào. Tất cả đều là chuyện của ngài. Đa số là do ngài kể, sơ sài thôi, sau đó Trịnh Thượng Thư nhuận sắc lại, cho sao lục gửi các quan ở tỉnh. Có nhiều chuyện được quan Thượng thêm thắt hay đến nỗi ngài không nhận ra chuyện của mình nữa.
            "Tâu Bệ hạ, ở những nơi có sự tích, xin triều đình cho quan địa phương xây đền thờ, tỏ rõ triều đình không quên công nghĩa...”
            Nhà vua ngần ngừ. Quan Thượng Trịnh là người văn nho nổi tiếng. Vì vậy ngài không thể không tự khiêm một chút. Trịnh tô vẽ như thế, biết đâu trong lòng chẳng có chút cười thầm. Phê chuẩn ngay, không chừng trong bụng hắn lại cho ta là gã hoàng đế háo danh, tệ hơn nữa, hắn sẽ nghĩ cái danh này ta có là nhờ ngòi bút trong tay hắn? Vì vậy, ngài nhìn như soi vào mắt quan Thượng Thư:
            - Làm đền rải rác từ Phú Xuân vào đến Phú Quốc như vậy, tất phải hao sức dân. Việc xây kinh thành vừa qua cũng làm tốn công quỹ nhiều rồi, các khoản khác, ta e chưa nên vội.
            Trịnh Hoài Đức rạp mình:
            - Tâu Bệ hạ, cung điện phải uy nghi lớn đẹp, nhưng đền miếu thì không cần phải kỳ vĩ lắm, cốt là việc thờ tự tinh sạch chí thành! Hơn nữa, một ngôi đền dựng lên, việc thờ cúng không phải chỉ đôi năm mà còn diên trì đến một trăm hai trăm năm, có khi cả ngàn năm! Dân chúng rồi đây sẽ mỗi năm cúng tế, truyền tụng về sự tích, sẽ biết bệ hạ có chân mệnh đế vương, được thần giúp, người giúp, cỏ cây muông thú cũng giúp; Dù có yết bảng, rao truyền, chép vào sử, cũng không lời lẽ nào mạnh bằng ký ức của những ngôi đền!
            Trịnh Hoài Đức ngẩng lên, mắt sáng ngời, như muốn nói: "Thần vì nước, nhà, vì uy đức lâu dài của Bệ hạ, chứ có phải là kẻ xu nịnh tầm thường đâu!” Như hiểu ánh mắt ấy, vẻ mặt Nhà vua dịu lại, ngài cầm bút rồng chấm son, phê chuẩn vào bên sớ tấu. Phê xong, ngài nhìn quan Thượng Thư,vẻ mặt hòa dịu, lòng thầm nghĩ "Ta cũng vì nước nhà, vì lợi ích vương triều về sau, chứ có phải thích nghe quần thần xoen xoét ngợi ca những câu chuyện " tẩu quốc" đó đâu!".
            "Chuyện đó có thiệt không má ?" Bé Ngoạn hỏi. "Chuyện chi con?" "Chuyện con chó rừng với con rái cá giúp nhà vua khỏi bị giặc bắt, chuyện thần nữ dâng cơm khi vua qua núi". "Ai nói với con ?" "Quan đòi dân làng mình đi gánh vôi, gánh gạch làm đền, đi về ai cũng kể vậy má à ." Nàng Tấm không dừng tay trên khung cửi, tủm tỉm cười. "Con có tin không?"

            Cả con chó rừng lẫn con rái cá đều được phong chức tước, dù là đã chết. Miếu thờ ở đầu ghềnh, chữ vàng chói lọi. Dân trong vùng trung du này đâu mấy ai biết chữ, chỉ nghe quan trên đọc: "Lang lại nhị đại tướng quân chi từ". Khi xây đền, dân đinh đều phải tề tựu làm thợ, bé Ngoạn mang quà bánh đến bán nên biết. Ngày ấy, đức vua lánh nạn qua đây, gặp khi giặc đuổi kíp quá, phải ẩn mình trong bụi cỏ rậm bên bờ khe. Chó săn của giặc bắt hơi người, xúm lại, giặc hằm hằm kéo nhau xông tới... Vừa lúc đó có con rái cá từ trong bụi nhảy ra, chạy một mạch vào rừng rậm, bầy chó săn chuyển hướng, ào ào chạy theo. Nhà vua thoát nạn, kiệt sức nằm đói lả bên suối. Vừa lúc đó có thần nữ hiện ra dâng cơm, nói rằng vì ngài có chân mệnh đế vương, vì vậy sai rái cá cứu ngài, lại sai chó rừng đưa đường. Ngài ẩn lại trong khe núi thêm ba ngày đêm chờ quân truy lùng rút hết, rồi nhờ con chó rừng dẫn lối, tìm đường lần được vào Nam...
            Bé Ngoạn kể xong cũng vừa lúc Nàng Tấm nấu chín nồi cơm khoai, đặt trên chõng tre. Chút mắm cà, mấy ngọn rau lang luộc bày trên cái mâm nan đã cũ. "Con chó rừng ấy là chó thần, má hỉ ? Nó lanh lợi thông minh biết đưa đường cho vua. Không có lười nhác nghễnh ngãng như con Vàng nhà ni." Như biết người ta đang nhắc tới mình, con chó già nằm trên ngạch cửa quay lui, đôi mắt đầy ghèn hấp háy nhìn. Nàng Tấm phủi chân lên chõng ngồi, bới cơm khoai vào mấy cái bát mẻ, bảo:
            - Đừng nói mà nó tủi. Chính nó đưa đường cho vua chứ còn ai!
            Bé Ngoạn phá ra cười . Chó thần đang được đúc tượng ngoài đền, được người ta rạp mình cúng bái. Con chó này tha thẩn ở bậu cửa, lông rụng gần hết, cả ngày chỉ dỏng tai chờ chủ ném cho nắm cơm...
            Hai má con cứ cãi nhau chuyện con chó. "Con không tin, đợi gặp vua cứ hỏi thì biết !" Nàng Tấm bảo. Nghĩ tới gặp vua, Bé Ngoạn sướng mê người. Nhưng má chỉ nói cho vui, ngay đến quan phủ cũng còn chưa chắc thấy mặt vua nữa là.
            Chỉ hôm sau cả làng đều biết chuyện Nàng Tấm bảo con chó già là Lang tướng quân trong đền thờ!
            "Má mày điên rồi!" Ai cũng nói vậy, khiến Bé Ngoạn không chịu nổi, khóc tấm tức chạy về mách mẹ. Nàng Tấm tức mình: "Đã thế, má con mình dẫn con chó ra kinh thăm nhà vua thật, để cho họ hết nói".
            "Lấy chi mà đi hở má, đường ra kinh xa lắm!"
            Nàng Tấm cười: “Má vừa đi vừa hát rong, múa võ. Bây giờ thời bình, người ta làm ăn khá, nhiều người ngoài chợ có tiền, mình không lo đói đâu con à".
            Bé Ngoạn sướng quá, lại chạy đi rao khắp nơi trong xóm. Ngày mai lại, mẹ con Nàng Tấm lên đường. Cả làng đều cười, bởi Nàng Tấm, con gái nhà họ Tống lâu nay đã được xem là đứa con gái dở hơi, chẳng giống ai.
            Sau chiến tranh, thành Phú Xuân vừa đắp lại xong, cung điện vẫn còn đơn sơ lắm. Phố chợ điêu tàn nay cũng chỉ mới bắt đầu vượng lại. Nhưng cái sinh khí bừng bừng của buổi đầu đế chế như tiềm tàng trong từng chuyến xe, từng phiên chợ, khiến cả kinh thành lúc nào cũng đầy sức sống.
            Quan tướng theo Nhà vua dựng nghiệp đa số là người trong Nam, nay họ ra kinh làm quan trong triều, kinh thành đầy những gia nhân quyến thuộc của họ, giọng Nam bộ vang lên khắp các nẻo đường. Người cả nước làm ăn buôn bán dồn về, thợ khéo các vùng cũng tụ hội. Trong không khí ấy, chuyện một người đàn bà lam lũ dẫn một đứa bé và một con chó gầy đi giữa kinh thành cũng không làm ai ngạc nhiên hay chú tâm cho lắm. Và khi người đàn bà ấy đến thẳng Ngọ Môn, đưa ra một cái túi gấm, đòi vào thăm vua, mà không bị lính canh xua đuổi, lại còn cho người phi báo đến tận ngài ngự, là chuyện chỉ có thể xẩy ra vào buổi đầu đế chế mà thôi.

            Báo là báo thế thôi, chứ tốp lính Dực Chấn giữ cổng kinh thành hôm ấy cũng chẳng tin vua lại cho vời... Vì vậy, khi thấy quân đem kiệu ra rước, cả toán trợn tròn mắt nhìn nhau. Rồi chỉ trong vòng nửa buổi, khắp hoàng cung ai cũng thì thầm rỉ tai cái tin nóng hổi: Người đàn bà ấy là cố nhân của Đức Kim Thượng, ngài đã nhận cả mẹ lẫn con, nay mai sẽ phong mẹ làm phi, con làm công chúa!
            "Còn con chó già thì..."
            Thái giám Mai Hỷ dè dặt hỏi vua. Nàng Tấm nhanh nhẩu:
            - Chó của ta đã là Lang tướng quân, còn phải phong gì nữa.
            Nhà vua hơi lừ mắt, bụng nghĩ: Sao nàng dám cướp lời trẫm, phi tần đâu ai dám thế. Nghĩ vậy nhưng ngài không nói ra, bởi cũng biết tính nàng chất phác, thôi để từ từ sẽ uốn nắn sau.
            Trong khi đó Thượng thư Trịnh Hoài Đức đang chờ trong nội tẩm. Từ khi hòa bình trở lại, Trịnh Thượng Thư đã trở thành bề tôi tâm phúc, việc gì nhà vua cũng hỏi ông, khiến nhiều võ tướng có công đầu trong thời chiến nhiều khi phải chạnh lòng, nghĩ rằng đã đến cái thời binh giáp bị xếp xó, văn thần được trọng vọng.
            Hôm nay khí sắc Trịnh không vui, xem chừng có điều lấn cấn trong tâm tư. "Tâu Bệ hạ, đền đã xây xong. Khắp trong dân gian đã truyền tụng câu chuyện thiêng liêng. Bây giờ lại xuất hiện người thật, chó thật. Rồi thì thiên hạ sẽ nghĩ sao về những miếu đền khác?"
            Nhà vua chưa vội nói ngay. Ngài vẫn giữ cái nết điềm tĩnh thời còn bôn tẩu, vốn làm cho ngài rất được lòng kẻ dưới. Khi nào có xung đột ý kiến, ngài vẫn kiếm chuyện nói đùa cho qua:
            - Người ta vẫn nói dù anh hùng cái thế cũng khó qua cửa ải mỹ nhân.Trẫm cũng là mày râu, chuyện hoa lá bên đường cũng thường thôi mà.
            Ngài là vua, sao có thể là người bình thường được.Trịnh Thượng thư nghĩ thầm, giọng ông nguội lạnh:
            - Thần nghe thái giám Mai Hỷ bảo đang chọn ngày làm lễ nạp phi long trọng. Theo ý thần, việc này chỉ nên làm gọn, xem như chuyện nhỏ trong hậu cung, càng ít người biết càng tốt.
            Nhà vua gật đầu - Gật là gật vậy, nhưng ý ngài lại khác hẳn:
            - Trịnh khanh, trẫm lại có ý thế này...
            Nhà vua hạ giọng: “Năm ngoái, do đình thần sơ suất trong việc ghi công mà thành ra trẫm đã phải mang tiếng vì chuyện quên công của Văn Báo...”
            Trịnh giật mình, rạp người: “Tâu vâng, đó là lỗi của thần.” Văn Báo, người hầu không biết chữ, không chức tước, vào thời Nhà vua còn lẩn lút ở miền Nam đã dùng thân mình che cho vua, lãnh mười mấy nhát dao, khắp thân mình đầy sẹo. Sau khi đại định, vua thưởng công cho các tướng theo phò từ thời nguy khó, thế nào lại quên mất Văn Báo. Cũng dễ hiểu vì mười mấy năm qua, bao nhiêu việc xảy ra, nhiều người theo vua thưở ấy đã thăng tiến đến những chức vụ lớn, trong khi Văn Báo do dốt nát nên chỉ là một người hầu luống tuổi ở lại trong Nam. Trịnh Thượng thư quên, nhà vua làm sao mà nhớ, đến khi Hoàng hậu nhắc, nhà vua cho gọi thì Văn Báo chạnh lòng, lấy cớ lưu luyến mẹ già, nhất định không chịu ra lãnh ơn sủng của triều đình. “Thật là Trẫm ân hận không kể hết. Bây giờ nhân chuyện đền ơnTống thị, vừa là đạo vợ chồng, vừa là việc công nghĩa, cũng tốt đẹp lắm chứ, sao không làm rỡ ràng cho thiên hạ biết ?”
            Là người rất tâm lý, Ngài nói đúng theo cách nghĩ của Trịnh Thượng Thư. Chứ thật ra trong lòng ngài không đến nỗi vụ lợi như thế, lòng ngài vẫn nhớ cái tình nồng nàn của Nàng Tấm cái đêm qua truông ấy.
            Trong một góc viện Đoan Trang, mẹ con nàng Tấm hí hửng vui mừng. Thái giám đã truyền, tối nay sau chuyến đi thăm xưởng đúc súng ở phường Đúc về, Nhà vua sẽ ngự nơi đây.

            Thị nữ mời Nàng Tấm chải đầu, xức dầu, mang áo lụa và hài thêu. Bé Ngoạn nhìn mẹ trong bộ quần áo kiểu cách, cô bé bụm miệng cười nghiêng ngả. Nàng Tấm nhìn mình trong gương rồi cũng bật cười. Nàng tháo hết các thứ y phục lỉnh kỉnh ra, mặc lại bộ bà ba đen.
            - Bẩm bà, đây là quy định trong cung, xin bà đừng sơ suất mà phật ý thánh thượng.
            Thái giám Mai Hỷ nói, mặt mày nặng chình chịch. Ông là một thái giám già từ thời Chúa Nguyễn Phúc Thuần còn sót lại. Hồi còn chiến tranh, vua và cung quyến sống gần dân nên lời ăn tiếng nói, cách xử sự cũng rất đơn giản, những kiểu cách quý tộc giản lược gần hết. Bây giờ, hoàng hậu phải tìm cho được thái giám của tiền triều, giao cho việc khôi phục lại lễ nghi phép tắc ngày xưa.
            Nhưng nàng Tấm chẳng quan tâm gì chuyện đó. Lễ nghi phép tắc gì, nàng đâu cần biết, với nàng chỉ có người đàn ông mà nàng đã cứu sống bên bờ suối, đã giấu trong căn chòi canh bẫy nơi bìa rừng. Khi ông ta nói về ngày “đại định “ nàng đã phá ra cười, khi ông đưa cái túi gấm làm vật ghi nhớ nàng cũng thờ ơ nhét vào dưới chiếu. Đến lúc ông cùng con chó khuất bóng trong rừng rồi, nàng mới òa khóc nức nở, để rồi hơn mười năm sau cứ khư khư giữ mãi cái túi, không phải vì nó làm bằng gấm thất thể hảo hạng mà vì hơi người của ông dường như vẫn còn mãi trên đó không phai.
            Trời tối. Từ điện Càn Thành, một ngọn đèn lồng màu vàng xuất hiện, rồi tiếp theo là hai dãy lồng đèn bánh ú song song đang từ từ di chuyển càng lúc càng đến gần. Nàng Tấm cố nhìn, trong bóng đêm, hiện ra chiếc kiệu ngự sau hai hàng thị nữ cầm đèn soi đường. Nhà vua đã đến!
            Đêm ấy thật là vui. Nàng Tấm và Bé Ngoạn vui đùa ríu rít quên hẳn mình đang ở trong cung điện. Nhà vua cười sảng khoái, tưởng mình đang ở trong cánh rừng ngày xưa. "Này, một ngày nào đó ta sẽ cùng nàng về thăm dòng suối chảy qua làng Hòa, sao lại không nhỉ?"
            Khi Bé Ngoạn đã ngủ gật và được thị tỳ bồng đi nơi khác, những ngọn nến dần tắt. Rất nhiều cành lá được cắm trong phòng, nàng Tấm đã cho cắm nhiều lá xanh để đỡ nhớ rừng. Nhà vua nhìn quanh, cảm thấy như đang nằm trong túp lều bên dòng suối Ồ Ồ ngày trước. Nàng Tấm ở bên ngài, thân thể nàng khỏe mạnh, vóc vạc thô ráp, mùi mồ hôi nồng mặn. Đúng là Nàng Tấm của đêm ấy, nhưng sao hôm nay ngài thấy khang khác. Tay ngài chạm vào lớp vải áo thô. “Áo la nhu của cung phi mặc khi hầu ngự, chúng nó không cấp cho ái khanh sao ?” Nàng Tấm vòng tay ôm chặt mình rồng:”Dạ có, nhưng em mặc không quen.”
            Nhà vua bật cười. Ngài nhớ ra lúc nãy khi vừa đến, thấy nàng đi chân không ra đón. Chân vua chạm vào chân nàng, thấy rõ những cục chai lớn. Bỗng nhiên nàng Tấm ngượng ngùng, rụt chân lại:
            - Em sợ nhất phải đi hài ... Cứ bước đi là chúng rơi ra.
            Vua cười rất to, rồi kéo nàng vào lòng . Bỗng ngài hơi khựng lại. Mười năm trước, trên cái chiếu xô xảm, mà sao da thịt nàng nõn nà như lụa. Bây giờ nằm trên đệm lông chim, thân thể nàng lại không có được cái mát dịu như xưa, là sao nhỉ? Nhà vua chặc lưỡi, mười năm đã qua, nàng khác trước mà mình nay cũng khác trước rồi. Nhưng mấy chữ ân nghĩa thì không thể nào thay đổi.
            Nghĩ thế nhà vua lại ôm chặt nàng vuốt ve, trìu mến vô hạn.
            Những hôm sau Nàng Tấm và Bé Ngoạn vẫn có ý chờ, nhưng chẳng thấy vua quay lại. Ánh đèn lồng mỗi đêm vẫn xuất phát từ điện Cần Chánh rồi đi vào khu vực nội cung, nhưng dừng lại ở nơi khác, không đến chỗ mẹ con nàng. Thái giám Mai Hỷ bảo:
            - Cung phi nhiều lắm, ơn vua phải đều khắp . May lắm thì một tháng sau ngài mới quay lại.
            Nói rồi ông quay đi, lạnh lùng. Ông vẫn còn giữ nhiều thói quen thời tiền triều, trong đó có thói quen nhận tiền trầu nước từ các cung phi, có khi đến vài chục lạng . Khắp nội cung không ai là không biết, trừ Nàng Tấm.
            Nàng Tấm buồn, Bé Ngoạn cũng buồn. "Má ạ, con Vàng đi đâu cũng bị người ta xua đuổi. Người ta bảo nó già, hôi lắm, chắc không để lâu trong cung được." Nàng Tấm bảo: "Cha con đã dặn thị nữ phải phục dịch nó chu đáo mà. Rồi khi nào gặp cha con, má sẽ nhắc".
            Nhưng hai tháng sau vẫn không thấy nhà vua đến.
            Bộ Lễ đã dâng lên nhà vua ngày lành tháng tốt để làm lễ nạp phi. Lễ sẽ được tổ chức long trọng, rình rang hơn hẳn các lễ nạp phi từ trước. Ngày nào Thái giám Mai Hỷ cũng đến, bắt Nàng Tấm đứng lên, quỳ xuống...
            Suốt ba tháng, Nàng Tấm phải tập đi, tập đứng, tập nói, tập quỳ. Nhà vua vẫn không hề đến .Thị nữ an ủi Nàng Tấm: Thánh thượng trăm công ngàn việc...
            Đêm đêm, hai mẹ con ngồi dựa cửa, nhìn hai dãy đèn lồng di chuyển trong sân hoàng cung.
            Ngày lễ đến. Tiếng trống, tiếng chiêng vang lên từ phía điện Phụng Tiên. Kiệu đỏ dừng trước thềm cung, chờ đón Nàng Tấm đến đền. Nhưng trong cung, cảnh náo loạn đang diễn ra: đoàn thị nữ tìm cuống lên mà chẳng thấy Nàng Tấm đâu cả.
            Nàng Tấm, Bé Ngoạn và con Vàng, cả ba đang trên đường tìm về làng cũ. Một tháng sau về tới quê nhà, họ đi qua miếu thờ Lang lại nhị đại tướng quân, rồi qua đền thờ Khuông Phò Thần nữ. Cuối cùng thì đến gian nhà cỏ chênh vênh bên bờ suối, nơi xuất phát tất cả những chuyện thần kỳ đang được nhang khói ngoài kia.
            Dân trong thôn nghe nói nàng Tấm về, kéo nhau đến hỏi, chuyện kinh thành ra sao ? Nhưng nàng chẳng nói một lời nào, lẳng lặng cầm cây cuốc, bước ra ngoài nương.
            Mấy hôm sau bé Ngoạn khóc mếu bảo mẹ:
            - Má ơi, con nít trong làng xúm nhau nói má con mình nói dóc, đi lang bạt ở đâu đâu rồi về bịa đặt ra chuyện vào cung.
            Nàng Tấm ôm con vào lòng, an ủi:
            - Thì cứ xem như mình chưa hề vào cung, con à.
            Người trong thôn bảo nhau con bé Ngoạn đi giang hồ theo mẹ lâu nay, bây giờ lại sinh cái chứng khùng, lâu lâu hái hoa cài đầy đầu, tự xưng là công chúa. Những lần theo mẹ lên nương, bé Ngoạn ngồi bới khoai dưới nắng, miệng lầm bầm:
            - Tụi nó cứ trêu chọc con, rồi có ngày cha con đến đây tìm, con sẽ cho nó biết.
            Nàng Tấm vung cuốc, cuốc xuống luống đất xốp đầy cát.
            - Nhà vua chắc không nhớ đường vào đây đâu, con à!
            Đúng như vậy, không ai đi tìm họ cả. Tuy vậy sau này trong sử sách cũng còn ghi một dòng trong phần viết về con cái của nhà vua: "Công chúa thứ sáu, mẹ là thứ nhân họ Tống".

24/6/12

Biển khóc - Nguyễn Thị Kim Hòa

Biển khóc
Nguyễn Thị Kim Hòa

I
            Hắn gặp cô khi ngày đã gần tàn. Những giọt nắng cuối cùng còn luyến tiếc đậu trên mái tóc mềm xõa nghiêng theo gió của hàng dương. Biển mênh mang gió và miên man sóng. Từng con sóng nối tiếp nhau trong một điệp khúc rì rào mê mải của đại dương xanh. Cô đi ngược về phía hắn trong màu đỏ rưng rức buồn của quả cầu lửa khổng lồ mang tên Mặt trời đang dần chìm vào lòng biển. Hắn chưa từng thấy một cái gì hay chính xác hơn là một người nào đẹp và buồn như thế. Màu buồn đẫm trên cái áo trắng cô mặc, đọng thành từng vệt loang lổ trên gương mặt xanh tái tựa hồ không sức sống, nhói lên cả trong đáy đôi mắt đen, óng suốt lúc cô nhìn vào hắn. Một cảm giác gì đó rất lạ níu chặt chân hắn trên bãi cát. Mắt dõi theo cái dáng mỏng manh của cô gái, cho đến khi nó chỉ còn là một vệt trắng mờ nhạt trong màu đêm tím thẫm dần buông…
II
            Cô hay có giấc mơ về những gương mặt. Những gương mặt lồi lõm từng mảng thịt bên bết đỏ lờ gớm ghiếc. Chúng hoặc vật vờ trôi nổi xung quanh, hoặc cứ bám riết lấy một điểm tựa nào đó trong không gian mờ mịt tối, trân trối nhìn vào cô bằng những ánh mắt chằng chịt, vằn vện oán hờn. Cô vùng vẫy tuyệt vọng trong vòng vây của những gương mặt. Cô gọi tên San, khản đặc và đau đớn. Không một tiếng trả lời. Không một âm thanh dù nhỏ nhất. Cô lịm dần trong cơn sợ hãi đến cùng cực. Những gương mặt càng áp sát cô. Khi những thớ thịt sần sùi lên và bắt đầu bong tróc ra từng mảng một trên từng gương mặt, cô thấy một cơn đau dữ dội bùng lên trong lồng ngực. Trái tim cô đang nứt toác. Nó cũng sẽ bong ra, sẽ rời ra từng mảng. Nó sẽ rời bỏ cô. Như bao người đã rời bỏ cô. Cô thét lên trong cơn đau quặn thắt cả gan ruột. Tiếng thét như một mũi dao nhọn chọc thủng màn tối đen đặc xung quanh cô. Cô đã thấy ánh sáng. Chỉ một vòng sáng le lói ở phía trước thôi. Nhưng cô đã thấy nó. Thấy cả San. San đang ở trong quầng sáng ấy. Cô lao về phía anh trong tiếng gọi tưởng chừng đến đứt hơi… Anh sẽ nghe thấy. Anh sẽ nhận ra cô. Anh sẽ biết rằng cô đang ở đây. Trong bóng tối. Nhưng… Ai? Cái gì? … Ai hay cái gì đó đang giữ chặt cô lại thế này? Cô vùng vẫy. Cô gào thét… Và mở choàng mắt. Ánh sáng tràn ngập. Bức tường trắng toát. Những bóng người trắng toát. Một tiếng nót lạnh toát chạm vào tiềm thức cô: “Lại quậy rồi… Tối nào cũng lên cơn thế này ai ngủ nổi.” Cô bừng tỉnh. Nhận ra cả hai tay và chân mình đều bị giữ chặt vào giường. Bà Cáu Kỉnh giơ ra trước mặt cô một ống tiêm cạn sạch thuốc, giọng ngấm ngẳng: “Tỉnh chưa? Kêu đau là tỉnh rồi chứ gì?” Thì ra tiếng nói kết thúc giấc mơ khủng khiếp vừa rồi là của bà sao. Cô chưa bao giờ thích bà . Bà hay rút sạch những ống tiêm đầy ong óc một thứ nước vàng vọt vào người cô. Cô không thích thứ nước ấy dù biết rõ nó giúp cô có giấc mơ không có những gương mặt.
III
            Gần ba ngày rồi hắn không thấy cô gái ấy ra biển. Cô ta đã chán lang thang trên biển rồi chăng. Hắn không ngăn được mình cứ đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ mở rộng hướng về phía những con sóng đêm ngày ca hát. Cũng không thể nào cắt nghĩa được tại sao trong lòng cứ như có một cái gì đó chơi vơi, hụt hẫng và tiếc nuối. Chiều tàn. Hắn ra ngồi lặng trên bờ cát cũng chẳng biết mình chờ đợi điều gì. Lẽ nào cô gái ấy không đơn giản chỉ là một cơn gió thoảng qua không vết dấu. Hắn đang làm gì thế này không biết. Vơ vẩn vì một đứa con gái xa lạ chưa nói chuyện được một lần ư? Đây không phải là hắn của thường ngày. Có thể là do nơi vùng biển yên ả này. Chính cái màu xanh vô tận của sự sống đang bày ra trước mắt kia đã làm hắn thấy mình thật nhỏ nhoi, thật đơn độc. Biển đã làm mềm đi cái đầu với nhiều toan tính, bon chen. Biển gọi về những cảm xúc trong trẻo, ngọt ngào mà hắn ngỡ chỉ tồn tại trong miền quá khứ nào đó xa ngút ngát. Hắn không muốn  trở lại là hắn trong chuỗi ngày xưa cũ đó. Cả nghĩ và nhiều cảm xúc không giúp hắn tồn tại được trong thực tế vốn trần trụi và đầy khắc nghiệt.
            Hắn tìm được căn nhà mình cần không khó khăn gì. Ở xóm chài nghèo cằn cỗi với lèo tèo mấy chục nóc nhà này người ta có lạ gì nhau. Thằng bé dẫn đường gầy gò, da đen nhẻm nhanh nhảu đẩy cánh cửa ngõ khép hờ, tạo ra âm thanh kẽo kẹt như một tiếng thở dài, miệng liến thoáng: “Chú do ngồi đây đi! Tui chạy ra ghề đá kêu bả dề. Bả dới thằng Đen đi gở sò ở ngoải rồi!...”
            Hắn đưa mắt nhìn ngôi nhà đắp bùn. Gió đang đập thình thình vào mấy miếng tôn mốc thếch cũ xì. Mấy cái bếp lò bằng gạch nung nằm chỏng chơ ngó nghiêng nhìn hắn. Kế đó là vài ba cái rổ nhựa sứt sẹo đựng đầy nhóc loại động vật biển mà hắn nghe nói chỉ sống bám trên ghè đá. Những con sò. Úp chặt hai tấm áo cứng khoèo, xám xịt màu đá lại với nhau, chúng luôn câm lặng dù đang sống hay đã chết. Hắn đồng cảm với những con sò. Đã sống bám vào đá thì tốt nhất nên ngụy trang cho mình như đá, câm lặng như đá. Dù trong câm lặng, thịt da sò và cả linh hồn sò có thể ngày đêm đỏ hằn lên, đau đớn.Tiếng khua động trước nhà lôi hắn ra khỏi ý nghĩ về những con sò đá. Đối diện hắn là hai con người, hai mẹ con, mà chỉ ít phút nữa thôi hắn sẽ gieo vào lòng họ nỗi đau có thể là đến suốt đời…     
IV
            Cô choàng tỉnh lúc bà già giường bên bắt đầu hờ lên tiếng khóc ai oán, ngưng đọng cả buổi chiều. Cô không muốn bị tiếng khóc làm đông cứng lại. Cô cần phải ra biển. Biển sẽ giúp cô rửa sạch giấc mơ về những gương mặt mà không cần thứ nước vàng. Cô lặng lẽ trôi ra khỏi ngôi nhà lớn tuyền một màu sơn trắng. Không một ánh mắt nào dõi theo cô. Chị Mắt To ngủ gục trên bàn. Mấy bóng áo trắng vẫn còn mãi mê trong những câu chuyện liên tu bất tận của họ. Vài người điên ngồi thơ thẩn trước sân. Thật tẻ nhạt và buồn chán. Họ suốt ngày chỉ biết loanh quanh giữa những bức tường trắng và những mảng ký ức không đầu không cuối. Họ có nghe thấy tiếng biển đang gọi cô không nhỉ? Chắc là họ cũng như mẹ cô. Chẳng bao giờ nghe được thanh âm của biển. Mẹ chẳng đã nhìn cô bằng ánh mắt đỏ hoe và nói với bà Cáu Kỉnh rằng không biết con nhỏ còn điên đến bao giờ đó thôi. Giọng mẹ nhỏ nhưng cô nghe rõ lắm vì nó mảnh và sắc. Cũng sắc như khi mẹ nói về San. San khố rách áo ôm, San không cha không mẹ. San sống trong một ngôi nhà rách nát. San đêm ngày lênh đênh với cái thuyền thúng trên biển.
            San hay hỏi cô tại sao lại yêu anh. Yêu một kẻ trắng tay.
            Vì mẹ không cho em yêu anh! Cô ngả đầu lên đôi vai anh chắc nịch, cười khúc khích…
V
            Người đàn bà vùng chạy ra biển, mái tóc dài xõa tung rã rượi trên khuôn mặt đẫm nước mắt. Những giọt nước mặn chát nơi đầu lưỡi, cay nghẹn ở cổ họng và dồn ứ lại làm thắt lên một cơn đau dữ dội trong tim. Chị gục xuống trên bờ cát, tiếng khóc não nề cắt đêm ra từng mảnh vụng rươm rướm máu. Một đợt gió lồng lên đau đớn. Gió thốc vào lòng chị cái đơn độc, lẻ loi đến rã rời. Gió cười cợt những những khắc khoải, đợi chờ, hy vọng trong chị qua ròng rã tháng ngày. Chờ đợi đợi chờ mà làm gì. Người ta đâu muốn quay về. Người ta thà bỏ xứ mà đi, thà chôn thân nơi đất khách cũng đâu muốn trở về. Người ta nào có nhớ nhung, có nghĩ gì đến chút tình nghĩa cũ. Nên mấy năm đi biền biệt mà người ta không một phong thư, không một cuộc điện thoại. Người ta tàn nhẫn đến độ rồi cứ thế mà lặng lẽ đi khỏi cuộc đời này. Không một lời lời nhắn nhủ lại cho con, không một tiếng yêu thương cho người đã mòn mỏi chờ đợi người ta bằng ấy năm trời… Không một lần trở về dù chỉ là trong những giấc mơ.
            Người đàn bà lần ra mặt nước. Biển đêm trăng sáng. Đẹp lộng lẫy như một tấm gương xanh lấp lánh ánh vàng. Chị vốc từng bụm nước to dấp lên mặt, lên mí mắt để làm vơi đi cảm giác nóng rát, nhói buốt trên từng thớ thịt. Đôi bàn tay chị run run lần mò trên từng mảng da nhúm nhó. Bao năm rồi chị không cảm thấy những mảng da ấy còn sống kể từ cái ngày oan nghiệt đó. Nó đã chết đi cùng cái duyên con gái mà ai cũng khen là mặn mà của chị. Nhiều lúc chợt nghĩ hay là ông trời tréo ngoe bắt chị phải đánh đổi điều đó để có được anh. Dù sự đánh đổi này quá tàn nhẫn, quá độc ác. Nó khiến chị có rất nhiều kẻ thù. Chúng là những tấm gương, là cửa kính sáng choang trong mấy cửa hàng lưu niệm gần bãi tắm, là mặt nước lặng trong cái lu đựng nước sau nhà. Chúng không như biển. Chúng cứ thích cho chị nhìn thấy gương mặt gớm ghiếc của chính mình.
            Anh không như chị. Anh không ghê sợ vết hằn độc ác đó của số phận trên gương mặt chị. Nhưng chị không chịu được vẻ trầm ngâm ngồi đốt thuốc của anh mỗi lần giao cá cho mấy chỗ bên bãi tắm trở về. Cả những cái trằn người trăn trở trên giường lúc nửa đêm khi ngỡ chị đã ngủ say. Anh không quên được cô ta. Anh day dứt. Hình như anh còn ân hận nữa. Chị cắn chặt môi cố nén tiếng khóc còn chút nữa là bật ra thành thanh âm tức tưởi. Anh làm sao biết được nước mắt chị rơi nhiều đến mức nào lúc nhìn anh đau đớn trông theo một hình bóng thẩn thờ đi bên biển khi chiều tàn. Anh cũng không biết có lúc nỗi uất giận làm nghẹt ứ những mạch máu dẫn về tim chị, để không phải chỉ một ngày chị có ý định sẽ tặng cho cô ta thứ nước chết chóc không màu mà chính cô ta đã giành cho chị. Anh làm sao biết được chị khao khát làm tan biến đi cảm giác có tội luôn đè nặng trong anh. Chị chưa bao giờ muốn làm một chủ nợ của cuộc đời anh. Nhưng tại sao lúc nào anh cũng tự nhận cho mình vai trò của người mang nợ.
            Đêm đã về khuya, những con sóng vẫn thao thức ngoài khơi xa triền miên buông tiếng thở dài cùng nỗi đau trong lòng chị. Người đàn bà để gió hong khô giùm những giọt nước mắt lẫn nước biển trên mi, chậm chạp đi ngược lên bãi cát đã đến lúc phải trở về nhà. Đứa con trai lên sáu chắc còn thắc thỏm ngóng mẹ bên khung cửa sổ. Không rúc vào lòng mẹ nó không thể nào ngủ cho yên giấc. Còn người khách lạ ấy… Anh ta cũng nên quay về.  Thật chẳng hay ho gì khi để người khác nhìn thấy có người đàn ông lạ trong nhà chị lúc khuya khoắt thế này. Chị là người đã có chồng kia mà. Dù người chồng ấy không muốn trở về hay mãi mãi không trở về được nữa.
VI
            Hôm nay cô đã thấy San. Anh ở trên con sóng xa nhất vẫy tay cười với cô. Nụ cười sao vẫn hiền như thế. Ánh mắt sao vẫn ấm áp thế. Không còn lạnh lùng như khi anh nói sẽ cưới người con gái ấy. Cũng không bàng hoàng, đau khổ như lúc nhìn cô ta lăn lộn gào khóc trên nền cát. Anh gọi cô. Là anh chứ không phải biển gọi cô. Những lời yêu thương thì thầm tha thiết.
Đây mới đúng là anh thật sự phải không anh? Người đàn ông ghét bỏ em, xua đuổi em. Người đàn ông tàn nhẫn nói rằng em thật độc ác, rằng chỉ yêu một mình người con gái ấy dù cô ta có mang hình hài nào đi nữa. Người đàn ông đó không phải là anh, đúng không San?
            San khẽ gật đầu. Cô như nổ tung ra trong hạnh phúc. Cuối cùng thì San đã trở về bên cô rồi. Về thực sự rồi. Cô sẽ lại được ngả đầu lên vai anh dưới bóng hàng bạch đàn lá dài xanh óng. Cô sẽ kể anh nghe chuyện mẹ đã quăng cả giỏ quần áo tống khứ cô ra đường chỉ vì cô hét lên với mẹ rằng cô không thể hết yêu San. Nhưng cô sẽ không kể chuyện cả đám đàn ông say rượu xúm vào cô trong cái đêm đầu tiên ra khỏi nhà ấy. Cô sẽ cho San biết là cô đã nhớ, luôn nhớ và rất nhớ anh. Nhưng cô giữ lại cho mình nỗi cay đắng, nghẹn ngào lúc thấy anh cùng đứa con gái đó trong ngôi nhà mái lá lộng gió biển. Cô giữ lại cả hình ảnh một cái chai nhựa, sóng sánh thứ nước có thể làm đứa con gái kia đau khổ hết một đời của nó, nó sẽ vì thế mà rời xa San. Mãi mãi…
            Nhưng sao tiếng thét nó cứ ngày đêm lởn vởn trong đầu em thế này San ơi! Em đã thấy những mảng da trôi tuột xuống trên khuôn mặt nó. Em thấy trong đôi mắt hoảng loạn của nó nỗi tuyệt vọng sâu hun hút. Em tưởng mình sẽ hả hê, sẽ vui sướng. Nhưng đau, đau lắm San ạ! Nó càng rên rỉ, càng lăn lóc em càng đau đớn. Tựa chừng có hàng ngàn, hàng vạn con sâu quái ác rứt xé trái tim em, ruột gan em… Chính chúng nó thúc giục em, ép buộc em phải chạy đi gọi anh, để anh đến bên đứa con gái mà chỉ ít phút trước em còn muốn nó khổ đau hơn là chết. Anh sẽ hiểu em mà đúng không San…
            San lại gật đầu kìa.
            Em sẽ đến với anh, đợi nhé!
            Lại gật đầu.
            Với một vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc, cô lao xuống mặt nước xanh cồn cào sóng…
VII
            Ba bóng người bước đi trên cát khi tấm màn màu nhung tím đang từ từ buông xuống nền trời vốn biêng biếc xanh. Gió vươn cánh tay dài lồng vào mái tóc hàng dương để chúng đong đưa theo vũ khúc quen thuộc của buổi chiều tàn.
            Người đàn bà lê từng bước chân nặng trịch nỗi đau.
            Thằng bé con nắm chặt tay mẹ, đôi mắt trong veo hướng về phía mấy ngọn đèn từ những thuyền câu ngoài khơi đang dần được thắp lên lung linh như những ngôi sao vừa sa xuống nước. Thằng bé hay mê mải trong những ánh đèn này. Nó ao ước ngày nào đó sẽ tự tay thắp lên một vì sao như thế trên biển. Nếu được thắp nó lên cùng với cha thì càng thích. Mẹ gọi cha nó là một người đánh cá rất cừ. Nó muốn được như cha… Dù nếu ai đó có hỏi rằng cha nó nhìn như thế nào, nó sẽ ngẩn ngơ giây lát rồi trả lời là không biết.
            Hắn đi trước như mọi người dẫn đường vẫn thường làm. Chỉ khác với họ con đường hắn đưa mẹ con người đàn bà này đến lại là con đường mất mát và đau khổ.
            Người đàn bà bất chợt đứng sững lại. Đôi mắt chị trân trối nhìn về phía biển. Hắn nghe giọng chị lạc đi trong hoảng hốt: “Cô… cô ta tự tử rồi. Cứu… cứu… cô ta đi. Cứu cô ta dùm tôi với!”. Hắn như một cái lò xo bật ra biển. Một cô gái đang chìm dần giữa những con sóng lớn, mái tóc dài vương thành một vệt đen thẫm trong làn nước xanh lạnh ngắt. Hắn túm lấy cô trước khoảnh khắc cô biến mất hoàn toàn vào lòng biển và kịp nhận ra gương mặt quen thuộc trong giấc mơ của hắn…
            Cô gái vùng vẫy tuyệt vọng như một con cá gắng thoát mình ra khỏi mắt lưới. Không hiểu cô lấy đâu ra sức mạnh mà cưỡng lại hắn thật dữ dội. Cứ sắp vào được bờ cô lại trì người, ghì kéo theo cả hắn cùng ra biển.
            Người đàn bà từ trên bãi cát nhào xuống nước. Chị nghiến răng gần như đè ngửa đầu cô gái ra để đối diện với khuôn mặt mình: “Nhìn đi! Nhìn đi! Cô biết tôi chứ! Đúng không? Cô làm tôi ra nông nỗi này mà giờ cô muốn chết ư? San gọi cô theo anh ấy, đúng không? Con người bạc bẽo đó gọi cô theo ảnh, đúng không? Thế thì tôi không cho cô chết! Không cho! Cô chết rồi tôi làm sao đây! Con tôi làm sao đây? Cô phải sống để thay anh ấy trả nợ cho chúng tôi. Trả nợ đó! Cô biết không? Biết không? Biết không..!?”
            Người đàn bà cứ níu cứng lấy hai vai cô gái lắc lia lắc lịa, mặc kệ nước mắt chảy tràn trên gương mặt, rơi tõm vào lòng biển mặn đắng. Cô gái chết lặng trong cơn bàng hoàng tột độ, cả người nhũn nhoài, rũ ra trong vòng tay ôm giữ của hắn.
            Hắn và người đàn bà gần như khiêng một xác người rã rượi vào bờ. Trong lúc hắn còn đang loay hoay lay gọi bên cô gái nằm sóng soài trên cát thì người đàn bà ngồi gục xuống, vật vã khóc. Biển vắng. Gió thông thốc vào tiếng khóc chị để mỗi âm thanh nghe dường như dài hơn, nhói buốt hơn…
            Hắn biết không nên chạm vào nỗi lòng chị. Nhưng còn cô gái. Hắn không thể cứ để cô như thế này. Một chút đắn đo rồi hắn cũng cúi xuống, xốc cô gái trên tay. Cô gái không một phản ứng gì. Đôi mắt buồn vẫn mở to đăm đắm vào một điểm duy nhất nào đó trong không khí.            Thằng bé con rời mẹ, mon men đến gần hắn giọng sành sõi: “Chú ẵm cổ đi đâu vậy? Con biết chỗ cổ ở nè! Cổ ở cái nhà thương điên tít sau mấy bụi dương gần bãi kìa…”. Nó dừng lại, đôi mắt trong một thoáng ngập ngừng hướng về phía mẹ. Người đàn bà đột ngột ngừng những âm thanh nức nở, sụt sùi… Lặng im một lát rồi chị cất lời, tiếng ngắt quãng vì còn ướt sũng trong nước mắt: “Dẫn chú… đi… đi con, Bành! Để cổ mặc… mặc đồ ướt không nên..!”
            Thằng bé vô tư hớn hở chạy lên phía trước. Hắn theo gót nó. Được một quãng hắn bỗng muốn ngoái đầu nhìn lại. Người đàn bà vẫn còn ngồi trên cát, màu đêm nuốt mất những đường nét trên gương mặt chị. Nhưng chỉ cái dáng ngồi lẻ loi, đờ đẫn trông theo ấy cũng đủ làm hắn tái tê theo vì buồn.
VIII
            Hắn tiễn người đàn bà bằng cách chạy theo chiếc xe chở xác người chồng, người cha vắng mặt suốt sáu năm của họ một đoạn đường dài. Vẻ mặt ngơ ngác của thằng bé con cứ ám chặt lấy hắn. Nó ngỡ hắn sẽ đưa mẹ con nó đến gặp một người cha có thể ôm nó vào lòng, có thể nói hay cười với nó.
            Sếp vỗ vai hắn: “Làm tốt lắm! Mai chú nghỉ xả hơi đi. Mốt đi họp với anh trên Đắc Lắc. Xuống biển rồi giờ cho chú mày lên núi, nghen!”
            Hắn cố gượng cho ra cái thứ gọi là một nụ cười, tiếng dạ thường ngày đắng đót nơi cửa miệng. Trong đầu hắn lúc này lộn xộn hình ảnh của một căn nhà mái lá đắp bùn nơi vùng biển nghèo, thằng bé con với đôi mắt trong veo, cô gái điên lang thang với một khối buồn bao bọc, cùng người đàn bà lam lũ có gương mặt nát sẹo. Nổi lên trên mớ chằng chéo đó. Rõ ràng như trước mặt hắn. Là những con chữ loằng ngoằng trong bản hợp đồng thi công bị rút ruột. Và cảnh một người thợ xây nước da đậm màu biển nằm dưới đống gạch đá ngổn ngang của một cái trần nhà đổ sụp...