Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Aziz Nesin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Aziz Nesin. Hiển thị tất cả bài đăng
5/3/13

Khi đứa trẻ khóc - Aziz Nesin

Khi đứa trẻ khóc
Aziz Nesin
Đỗ Quyên dịch

Thằng con trai tôi, phải nói là tuyệt vời nhé! Anh khoe. 
- Cầu trời cho cháu khoẻ mạnh! - Tôi đáp. 
Chúng tôi cùng làm một sở và hàng ngày gặp nhau hai ba lần. Và lần nào gặp, anh cũng khoe đứa con trai của mình.
- Nó không phải là đứa trẻ bình thường, mà là cả kho trí tuệ. Thằng bé rất tinh nghịch.
- Cầu Đức Ala phù hộ cho cháu.
- Không lúc nào nó để cho chúng tôi yên.
- Cầu mong cho cháu mạnh khoẻ!
Bản thân tôi cũng có bốn đứa con, nên tôi biết rõ có nhiều ông bố bà mẹ hay khoe con cái mình đến mức lố bịch. Tuy thế, tôi vẫn muốn được thấy đứa con trai của anh bạn Gavít của tôi. Hơn nữa lần nào gặp nhau anh cũng mời tôi về nhà anh chơi.
Hôm ấy ngày thứ bảy, hết giờ làm việc tôi đến nhà anh. Khi cửa vừa mở, từ trên cầu thang có một vật nặng gì đó lăn huỳnh huỵch xuống, lộn mấy vòng rồi rơi ngay dưới chân tôi. Rồi một hình hài kỳ lạ, nửa người nửa ngợm đứng dậy trước mặt tôi.
Anh Gavít giới thiệu:
- Đây là con trai tôi. Anh thấy thế nào?
- Rất khá. - Tôi trả lời.
Anh dẫn tôi vào phòng khách giới thiệu tôi với vợ anh, bà mẹ vợ và cô em vợ anh. Chúng tôi ngồi vào bàn. Tay tôi đang cầm tách trà nóng thì bỗng nghe thấy “tõm” một tiếng, có vật gì đó rơi xuống tách trà. Nước trà nóng bỏng bắn tung toé vào tay, tôi chưa kịp kêu đau thì có vật gì đó choàng lên đầu tôi. Không hiểu điều gì xảy ra với tôi. Tôi cố gỡ vật đó ra khỏi đầu thì vừa lúc cuộc rượt đuổi tán loạn bắt đầu. Anh Gavít và cả gia đình anh chạy theo thằng bé. Nó chạy lắt léo trong phòng, thi thoảng quay ngoắt đột ngột làm cho những người rượt theo nó va vào nhau, ngã quay xuống sàn nhà. Sau đó là cuộc đánh lộn. Những người trong nhà thỉnh thoảng lại vồ phải nhau. Tôi phải ngó nghiêng một lúc mới tìm được chỗ trốn sau cánh cửa để thoát khỏi cảnh hỗn loạn này, đó là giải pháp an toàn và kịp thời, bởi vừa chạy trốn bố mẹ, thằng bé vừa tóm bất cứ thứ gì để ném ra tứ phía. Cuối cùng thì cuộc vây ráp cũng thành công. Bố, mẹ, bà và dì thằng bé ép được nó vào góc phòng. Bí quá, nó lấy cả mười ngón tay cấu vào mặt dì là người gần nó nhất. Đoạn, y hệt như một con khỉ, phốc một cái, nó nhảy tót lên nóc tủ và vơ lấy tất cả những gì có trên đó ném tới tấp xuống đầu “đối phương” ở dưới. Khi nó ném hết mọi thứ, mẹ nó nói như van:
- Con yêu, con quý hãy xuống đi con! Con xem bác đến chơi nhà mình kìa. Xuống đi, kẻo bác bảo con là đứa không nghe lời dạy bảo. Đáp lại, không nói không rằng, thằng bé nhổ liền mấy bãi nước bọt vào mẹ nó. Bố nó nổi giận thực sự.
- Xuống ngay, quân mất dạy!
Câu trả lời đốp lại ngay lập tức:
- Cả bố cũng là đồ mất dạy!
Sau đó thằng bé dùng đến thứ vũ khí đã từng được thử nghiệm: nó đái một bãi vào người bố nó. Người bố chỉ còn biết nói:
- Được rồi, cho mày ngồi đấy.
Người mẹ nhìn tôi có vẻ mắc lỗi:
- Bác thông cảm cho.
Chúng tôi lại ngồi vào chỗ. Tôi lấy khăn tay lau chỗ nước trà dây vào quần. Hóa ra nước trà nóng làm bỏng cả một chỗ trên chân tôi.
Gavít nháy mắt tôi vẻ tự mãn:
- Thế nào anh, tôi kể có đúng không? Tôi không phóng đại chút nào phải không?
- Trái lại… Cháu lên mấy rồi?
- Cháu gần sáu tuổi.
- Cầu trời cho anh lòng kiên nhẫn.
Tôi khẽ đánh mắt nhìn trộm thằng bé ngồi trên nóc tủ. Mái tóc xoăn loà xoà rủ xuống mặt, che lấp cả cặp mắt thằng bé. Những tấm kính cửa sổ trong phòng chúng tôi ngồi trông như bị những mảng tạc đạn bắn vào. Chiếc đèn năm chùm trên trần nhà chỉ còn một chùm nguyên vẹn có bóng điện. Cánh cửa phòng mất tay nắm. Rõ ràng tất cả “vụ việc” này đều do tay thằng bé gây nên.
Anh Gavít nói:
- Tôi thề với anh là trong đời tôi chưa từng thấy thằng bé nào như thế này. Liệu anh có tin không, chứ từ bé đến giờ nó chưa khóc một lần nào cả!
Bà mẹ vợ khẳng định lời anh Gavít:
- Thằng bé nhà chúng tôi cừ thật đấy! Không có gì làm nó khóc được. Hôm qua bác có biết xảy ra chuyện gì không? Nó lấy cái rìu đút vào gầm tủ lạnh, bẩy cật lực, cái tủ đổ kềnh ra đè lên người nó. Lúc tôi vào phòng, nó vẫn nằm dưới chiếc tủ, không hề kêu la một tiếng, mặc dù trán bê bết máu. Tôi phải gọi người gác cổng giúp sức mới lôi được nó ra.
Gavít nói:
- Tôi không biết sau này cho nó làm nghề gì? Hay là cho nó vào lính?
Mẹ thằng bé nói:
- Ai cũng phải sửng sốt. Bởi chưa từng thấy đứa trẻ nào lại không hề khóc bao giờ. Ngày hôm kia nó rượt đuổi con mèo suốt một tiếng đồng hồ liền. Con mèo nhà em cứ thấy nó là chạy. Thằng bé liền đuổi theo nó. Con mèo sợ quá liền nhảy từ ban công xuống vườn. Rồi sự việc diễn ra thế nào, bác có biết không? Thằng bé liền nhảy xuống theo con mèo… Mà ban công cao cỡ đến bốn mét.
- Cháu có bị chấn thương không? - Tôi hỏi.
- Chắc có - Người mẹ đáp - Chúng em không bắt được nó để xem. Mất mấy ngày nó đi tập tễnh, sau đó thì khỏi.
Đúng lúc đó có một vật nặng gì đó đổ ụp vào người tôi, suýt làm tôi gãy gập cổ. Hoá ra thằng bé nhảy từ nóc tủ xuống thẳng đầu tôi rồi cưỡi trên lưng tôi nhong nhong, miệng la to:
- Phóng nhanh!
Bố thằng bé vội chạy đến, giáng cho nó hai cái tát trời giáng mà người lớn cũng khó mà đứng vững được. Nhưng, lạ thật, thằng bé vẫn cười khanh khách cứ như không có việc gì xảy ra.
Thú thật, thoạt đầu tôi cứ tưởng bố mẹ thằng bé cưng chiều, không đánh nó bao giờ, nên nó sinh hư như thế. Nhưng khi chứng kiến cảnh bố nó dạy nó bằng những cú tát “nẩy lửa” ban nãy mà nó vẫn cứ nhơn nhơn như không, thì tôi nghĩ rằng mình đã nhầm. Gavít túm lấy thằng bé, kẹp giữa hai đầu gối, lấy tay gạt những mớ tóc phủ lòa xòa trên mặt nó. Thằng bé có khuôn mặt tròn, trông như củ khoai tây. Chỉ vào chỗ sưng trên đầu, to bằng nắm đấm, anh Gavít nói:
- Tối hôm qua nó làm rơi cái lọ hoa vào đầu, anh xem bây giờ nó sưng to thế này.
Mẹ thằng bé chữa lại:
- Chỗ sưng ấy không phải tại lọ hoa, mà do ấm samôva. Lúc ấy trong ấm samôva đang chứa nước sôi.
Bà thằng bé tiếp tục chữa:
- Chỗ sưng do ấm samôva ở chỗ khác, sau gáy cơ. Còn chỗ sưng trên đầu là do nó ngã từ cầu thang xuống đống đá.
Thằng bé giãy giụa giữa hai đùi người bố. Gavít bảo vợ:
- Em mang cho anh lọ iôt. Nhân thể giữ được nó, mình xoa vào những chỗ bầm tím kẻo nó lại chạy mất.
Vợ anh mang iôt và bông đến. Khắp người thằng bé chỗ nào cũng thấy vết xước, vết bầm tím… Gavít thấm iôt vào bông rồi xoa những chỗ sưng tấy cho thằng bé. Tôi khẽ rùng mình vì đau, có cảm giác như chính tôi đang bị bôi iôt vào người. Thế nhưng thằng bé không hề nhăn mặt. Tôi nghĩ thầm, có khi nó đã bị mất xúc giác. Rồi, để ra về trong khi cái đầu còn nguyên vẹn, tôi đứng dậy chào chủ nhà. Trong lúc tôi ra đến cửa, thằng bé còn kịp làm đổ thêm vài đồ vật nữa.
Lúc chia tay, tôi dại dột nói:
- Mời anh chị có dịp đến tôi chơi.
- Thứ sáu chúng tôi sẽ đến - Họ đáp.
Tôi đã thấy lo lo trong bụng.
Về đến nhà tôi bảo mọi người trong nhà:
- Chuẩn bị tinh thần, thứ sáu này nhà ta sẽ gặp họa đấy. Hãy cất giấu tất cả những thứ gì có thể vỡ, gãy, chảy.
Hôm sau tôi hỏi Gavít:
- Anh chị cho cháu đến chơi chứ?
- Ấy chết! Làm sao cho nó đi cùng được.
Tôi mừng quýnh đến nỗi lỡ mồm buột ra:
- Không, không. Chúng tôi sẽ giận đấy. Nhất định anh chị phải cho cháu đến chơi.
- Không được đâu ạ. Không bao giờ tôi cho nó đến. Thằng bé sẽ lật nhào mọi thứ trong nhà cậu.
Nói thế nhưng rồi Gavít vẫn cho con trai đi cùng. Hoá ra lúc ra khỏi nhà, họ đã khóa trái thằng bé trong buồng tắm. Nhưng nó đã chui qua cửa sổ buồng tắm, theo ống máng tụt xuống sân, đuổi theo họ rồi tương hòn đá cảnh cáo vào ông bố.
Lúc bước vào gian sảnh, thằng bé vấp ngã, bị xây xát nhẹ, không đau lắm. Với cú ngã như thế, không nói gì đến một đứa trẻ cứng cỏi như nó, ngay cả đứa bé còm nhom, gầy yếu cũng chẳng khóc. Nhưng mẹ tôi vừa hét lên vừa chạy vội đến thằng bé:
- Ôi, thương cháu quá!…
Thằng bé lúng túng.
Vợ tôi kêu toáng lên:
- Ôi, cháu cưng của bác!… Cháu có đau lắm không? ái, a, ai… Rõ thật không may!… Có lẽ nó bị dập thương chỗ nào rồi…
Tôi cũng hoà theo:
- Sao lại thế này? Ngã đau không cháu bé? ái, a, ai. Cô giúp việc cũng chạy vào, kêu toáng lên từ ngoài ngưỡng cửa.
- Có bị sái chân không, hay bị gãy chân? Ôi - ôi - ôi. Tôi đi gọi bác sĩ nhé? Làm thế nào bây giờ?
Hai bà phụ nữ đến chơi nhà tôi cũng chạy đến chỗ thằng bé. Thế là những người phụ nữ xúm xít quanh nó, tranh nhau đưa ra những lời xót xa thương hại.
Thằng bé lúc đầu còn nhìn họ một cách ngạc nhiên, lát sau môi dưới nó run run rồi bỗng gào khóc nức nở. Và cứ thế nó khóc, khóc mãi không tài nào ngăn được.
- Ai tự ngã thì người ấy không khóc. - Chúng tôi bảo thằng bé.
- Đàn ông ai lại khóc!
- Coi như không có chuyện gì xảy ra chứ!
Tất cả đều vô ích. Thằng bé vẫn gào khóc đến nửa tiếng đồng hồ. Bố mẹ nó tròn mắt, lấy làm lạ.
Chỉ đến khi khát nước quá, thằng bé mới thôi khóc. Cô phục vụ vừa đưa cho nó cốc nước, nó tuột tay rơi, cốc vỡ tan. Những người phụ nữ lại rối rít hỏi:
- Cháu có bị đứt tay không?
- Cháu có đau lắm không?
- Đem lọ iôt lại đây nào!
Môi dưới thắng bé lại bắt đầu rung rung, cái mặt xị ngay xuống, tiếng gào khóc lại bật ra tức tưởi. Nó khóc nửa tiếng đồng hồ nữa. Buổi chiều hôm ấy nó khóc cả thảy bốn lần, nhưng không làm đổ vỡ vật gì.
Bây giờ cứ mỗi lần gặp Gavít, tôi lại hỏi thăm con trai anh.
- Giờ nó thôi không quậy phá nữa - Anh nói - thôi hẳn rồi. Nhưng lúc nào cũng khóc. Mãi về sau tôi mới biết anh trách vợ chồng chúng tôi qua một người bạn khác: - Họ làm hỏng thằng con trai tôi!
25/5/12

Xót tiền dân - Aziz Nesin

Xót tiền dân
Aziz Nesin

- Khách sạn gì mà xây lâu đến thế kia chứ!
- Chứ gì, ngần ấy thời gian thì xây được cả thành phố đâu phải chỉ một khách sạn.
- Sao lại lâu thế nhỉ? Hay là ta chọn nhầm cách thầu khoán.
- Khách sạn này cũng có mấy nhà thầu nước ngoài xin việc không hiểu sao các ông ấy lại ưng nhà này: cũng chẳng phải vì nhà ấy đòi ít, cũng chẳng phải họ làm tốt các hợp đồng khác cũng chẳng phải vì họ chiều mình. Sự thể ra sao tôi phải quan sát đã rồi mới dám nói.
Hóa ra là quan trên cũng nhiều mà cung cách cũng lắm: nào mở tiệc ăn mừng, nào cắt băng khởi công, nào quan lớn tự tay đặt viên gạch đầu lấy mẫu. Rồi chiêu đãi dưới trên, ăn một miếng, nhớ một đời, rồi báo chí rùm beng, bài to, ảnh nhớn.
Ít lâu sau hàng rào khách sạn tương lai mọc lên.
Một hôm có ba chiếc xe con đỗ cạnh công trường. Nào phải ai xa lạ, chính là các vị quan chức nước nhà bước xuống xem xét bề thế công trường.
- Sao hành lang lại hẹp thế nhỉ? - ngài trưởng nhóm hỏi.
- Bẩm quan, cái đồ án thiết kế nó vậy - người kỹ sư đáp, hành lang đã rộng đến 5 mét...
- Chắc ông cho rằng chúng tôi không thấy cái khách sạn nào bao giờ hẳn? Tôi đã ở các ô-ten ngoại quốc, hành lang của họ còn rộng nữa. Thôi được, cứ cho rằng hành lang theo thiết kế đi, nhưng số lượng hành lang ít quá... Khách sạn mà có mấy cái hành lang như thế. Không làm thì thôi, đã làm thì làm ra làm. Tiền dân, tiền nước! Phải biết xót chứ...
Ông kỹ sư ngậm tăm.
- Còn các ông nghĩ thế nào? Khách sạn lớn mà có mấy hành lang như thế chẳng phải là ít hay sao? - quan lớn hỏi bầy tùy tùng.
- Hơi ít, thưa ngài.
- Dạ bẩm ít ạ.
- Ít quá chứ ạ...
Và thế là hợp đồng với nhà thầu ấy bị hủy.
Trong lúc chờ giám định phân xử, bản thiết kế được thay đổi: hành lang nhiều hơn, rộng hơn.
Việc thi công đồ án mới đang triển khai thì một bữa kia lại có mấy chiếc xe con dừng bánh bên đường. Lại có mấy nhà đương chức đến nom việc. Ði đầu là một ngài bệ vệ nhất. Vừa thấy cái lỗ cửa ra vào, ngài hỏi liền:
- Chỗ này làm gì đấy?
- Dạ, phòng khách đấy ạ - đại diện hãng thầu mới đáp.
- Phòng khách? Phòng khách quái gì mà thế này?
- Dạ bẩm, việc chưa xong mai kia chúng con lát đá, sơn tường, kẻ hoa...
- Hiểu rồi, tức nghĩa là phòng khách chứ gì... Nhưng ta hỏi, phòng khách có phải là nơi đấu ngựa không? Làm gì có phòng khách như bãi quần ngựa ấy? Tiền dân, nghĩ mà xót ruột...
- Bẩm ngài, chúng con làm theo thiết kế...
- Lạy chúa, cái mà các anh gọi là thiết kế, nó không phải là bài kinh Côran bất di bất dịch. Phải thay thiết kế, phải thay đi mới được.
Nhà thầu chịu nghe không dám ho he. Theo ý mới, các phòng khách đều được thu nhỏ.
Công việc đang chạy thì một hôm lại có mấy quan phóng xe con đến xem khách sạn. Ngài đương quyền dẫn đầu đội khảo hạch nói chung là vui, nhưng lúc ra đến cửa, ngài mới nhìn lên trần băn khoăn hỏi:
- Thế không làm mái vòm, trần cuốn à?
Câu hỏi làm nhà kiến trúc sư trẻ tuổi bủn rủn đầu gối, anh ta chết lặng đi mất mấy phút, bấy giờ mới đủ sức định thần để hỏi lại:
- Xin ngài thứ lỗi, con không hiểu, ngài định nói mái vòm, trần cuốn thế nào ạ?...
- Ðó mới là kiến trúc lối Thổ. Những người vào khách sạn sẽ là khách nước ngoài, vì thế khách sạn phải theo lối Thổ ta... Anh xem nhà cửa nước Thổ bao giờ lại không có mái vòm, trần cuốn.
- Nhưng thưa ngài, trong bản thiết kế...
- Thiết kế là cái gì? Nhờ nhà thầu nước ngoài làm thiết kế bao giờ chả vậy. Họ biết gì về kiến trúc và tâm hồn ta nào?
Các quan tùy tùng cúi cả đầu xuống.
- Nhà thế này thì ai cần? Nhất thiết phải có mái vòm, trần cuốn. Trông thấy tiền dân, tiền nước mà xót cả ruột!
Làm mái vòm trần cuốn cho cả nhà thì tổn phí quá, nhà thầu chỉ dám theo tinh thần dân tộc ở một đôi chỗ dễ nhất.
Công việc xây cất đã đến lúc hòm hòm thì giới quyền chức lại theo bánh xe con lăn đến. Ngài quyền cao đi trước buồn rầu nhận xét:
- Úi dà! Sao lại làm nhiều hành lang thế nhỉ... Phòng thì ít, lối lại nhiều. Ở đây dễ đến lạc như vào rừng... Thật xót tiền dân!...
Làm đi làm lại mãi chẳng còn biết thời hạn ra sao? Công việc mịt mùng không dứt. Báo chí đã bắt đầu đưa đẩy. Muốn nhanh nhà thầu lại phải đổi kiểu mái. Nhưng những cuộc tranh luận bất đồng lại nổi dậy. Dùng ngói gì bây giờ? Ngói bản xứ hay ngói Mácxây. Cuối cùng phương án ngói bị đổ và mái được làm bằng bê-tông thường.
Công việc gần xong thì bỗng bụi đường tung dưới bánh xe con.
- Thế gạch men đâu? Khách sạn Thổ mà không có gạch men là thế nào? - các quan khách kinh ngạc hỏi.
Sau đó mọi người vào phòng khách. Phòng khách không có một cây cột. Ngài trưởng đoàn bảo:
- Ở đây không có cột, mà cột lại cần. Cầu trời cho mái đừng sập...
- Bẩm ngài an tâm, không sập được đâu ạ, chúng con đã tính.
- Ðã tính? Ðến lúc nó sập thì đem tính của các anh ra mà trừ à?
Ngài quay lại đám sau lưng:
- Thế nào, các ông, trần sập được chứ?
- Bẩm, được ạ...
- Thế nào cũng đổ, nặng thế kia cơ mà? Lại còn đồ đạc trên ấy nữa... Rồi người vào lại đông... Thế nào cũng đổ.
- Nổ như bom ấy chứ...
- Bao nhiêu là tiền vứt qua cửa sổ... Thật xót tiền nhà nước... Các anh nghe không? Ai cũng bảo đổ... Thêm mấy cái cột có phải lại lạ kiểu...
Chiều ý mới, các phòng khách đã có thêm cột.
Một ngài dẫn đầu một đoàn lãnh đạo khác đã biến dãy cột vuông thành gạch vụn.
- Trong các sách giáo khoa thư ngài học hồi bé, ngài có thấy những bức ảnh đền đài Hy Lạp toàn cột tròn cả, chứ không lai căng thế này. Tiền nhà nước vứt ra cửa sổ thật là xót ruột.
- Bẩm quan, dễ như trở bàn tay thôi, chúng con sẽ có cột tròn.
Ðến lúc tường ngoài đã chạm trổ hoa văn thì một quan lớn đến thăm, trách cứ:
- Những công trình hiện đại người ta dựng mặt tiền bằng kính chứ!
Cuối cùng rồi cũng đến lúc mọi việc coi là xong xuôi. Chỉ còn một việc cuối cùng. Một ngài quan khác nhận xét rằng cầu thang dốc quá, người đứng tuổi lên có phần mệt.
- Bẩm quan, còn thang máy. Vị nào trọng tuổi thì có thang máy.
- Nếu vậy thì xây cầu thang làm gì? Các anh chả biết xót tiền quốc gia! Cầu thang cũng phải có ích chứ?
Sửa xong cầu thang, một nhà kiến trúc sư nổi tiếng nước ngoài đến thăm:
- Một kiến trúc trứ tác! Xứng đáng làm đại bản doanh Liên hiệp quốc!
Gạch men mặt tiền và trên tường, mấy hành lang, mái vòm, trần cuốn, chấn song sắt hình hoa kim hương, mái nhà có ô văng, những thứ đó hoàn toàn theo tinh thần Thổ Nhĩ Kỳ. Ngược lại chóp mái lại theo đúng phong điệu Bắc Âu. Những cầu vồng phòng khách mượn lối cung đình Thổ. Phòng khách chính giống lối đại sảnh, thậm chí còn lớn hơn những đại sảnh Aten. Rồi lại còn những mẫu mực xuất sắc của lối kiến trúc Ý... Nhà tắm, nhà vệ sinh theo kiểu Mỹ. Rồi lối xây Ấn Ðộ, đường nét Trung Hoa... Tất cả cùng nhau chen vai thích cánh.
- Tuyệt! - nhà đại kiến trúc ngoại bang thốt lên - làm sao các ông có thể đưa nổi mọi lối kiến trúc vào một lâu đài thế này.
- Chúng tôi xây đi xây lại cái trứ tác này suốt chín năm đấy! Mà lại còn tằn tiện được bao nhiêu tiền dân! - ông chủ nhiệm công trình tự hào đáp lại.

Những người thích đùa - Nhà xuất bản VHTT - Các dịch giả: Thái Hà, Đức Mẫn và Ngọc Bằng.

Xin mời bác cứ đến chơi... - Aziz Nesin

Xin mời bác cứ đến chơi...
Aziz Nesin

Một ông văn sĩ rất có tiếng nọ vừa kỷ niệm ngày sinh thứ 60 của mình xong, ấy thế mà không hiểu tại sao lắm độc giả cứ khăng khăng cãi là ông phải nhiều tuổi hơn thế nhiều. Hay có chuyện lạ đời như vậy có lẽ là vì những cái nổi tiếng nói chung dễ được người ta gán thêm cho tuổi tác, để tăng thêm phần danh giá, mà cũng có thể là vì chính bản thân sự vinh quanh làm cho người ta già đi, vì nó luyện cho người ta phải biết sống dựa vào chút tiếng tăm còn dư lại của ngày xưa.
Quả thật, không hiểu tại sao người ta cứ hay nghĩ là các văn sĩ nổi tiếng thì không những phải già hơn, mà còn phải giàu có hơn cái thực tế của họ nhiều. Chứ lại không à! Tiếng tăm lừng lẫy như thế mà bảo không giàu thì ai mà tin được! Cứ gọi là trong nhà phải có một hòm vàng, phải không còn thiếu thứ gì nữa! Ðồ đạc thì chả phải nói, tất nhiên là phải toàn sập gụ tủ chè rồi!
Vậy thì ông văn sĩ mà chúng ta vừa nói bị người ta cho rằng già hơn tuổi là cũng đúng thôi. Bởi lẽ là giống như tất cả những người trải đời, trông ông sớm già và sớm có một vẻ gì tiều tuỵ, hom hem. Còn chuyện bảo ông giàu, thì tất nhiên cũng không phải không có lý. Thì cứ xem ngay cách ăn mặc của ông thì biết, chả lúc nào là không nuột nà chải chuốt. Tủ quần áo của ông tuy chưa đến mức chật ních, nhưng lúc nào cũng treo dăm sáu bộ, may cách đây tuy đã chục năm, nhưng bộ nào bộ nấy trông hãy còn mới nguyên. Mà bộ nào ông mặc trông cũng nền lắm! Hai nữa, tuy có lúc trong túi chỉ vẻn vẹn còn có chục bạc, nhưng ông ăn tiêu vẫn rộng rãi và sang lắm, nên người ta cứ ngỡ ông phải có đến chục nghìn. ấy thế nhưng thực ra thì ông rất túng, và túng đã lâu rồi. Có cái là ông hết sức giấu không để ai biết chuyện đó mà thôi.
Bởi đã đến lúc tiếng tăm của ông không còn đem lại cho ông nhiều tiền bạc nữa. Không biết vì thị hiếu bây giờ đã thay đổi, hay vì một nguyên nhân nào khác, nhưng sách của ông người ta không in nữa. Ðến các báo cũng không tờ nào buồn đặt ông viết bài. Các nhà xuất bản cũng chả nhà nào hỏi han gì đến ông. Thử hỏi thế thì ông, một người chỉ biết sống bằng ngòi bút, và suốt đời hy sinh cho sự nghiệp văn chương còn biết làm gì nữa?
Nhưng ông lại cứ tưởng rằng tiếng tăm của ông hãy còn lừng lẫy lắm. Hay ông tưởng nhầm? Nếu tưởng nhầm, thì tại sao độc giả vẫn nhớ đến ông, khi đi đường ta vẫn chào hỏi ông và lúc chuyện trò người ta vẫn nhắc đến tên ông?...
Trước đây, có một thời gian ông làm cho các báo. Nhưng khổ nỗi là các ông bạn làm báo quen biết hồi xưa nay chẳng còn ai. Giá như họ vẫn còn làm ở các tòa soạn thì hẳn ông đã đến gặp để xin việc rồi. Còn những đồng nghiệp mới thì ông lại không quen, tuy rằng nếu có đến gặp thì chắc họ vẫn biết ông, vì ông là một văn sĩ nổi tiếng, và vẫn tiếp đãi ông một cách niềm nở, thậm chí vẫn thưa gửi với ông một cách kính cẩn nữa là khác.
Nhớ lại hồi xưa, đến tờ báo nào, ông cũng được người ta đón tiếp thật là niềm nở, và ngược lại ông cũng hết sức vui vẻ thân mật với họ, vì thế họ lại càng mến ông và đặt ông viết lúc thì một bài báo, lúc thì một bài dịch, lúc thì một bài châm biếm.
Sáng hôm nay, ông ăn mặc cẩn thận hơn mọi ngày: ông quyết định đến thăm tờ báo mà ngày xưa ông thường lui tới và đã có lần đăng truyện của ông. Khi bước đến cửa toà soạn, cái cửa mà mọi khi ông vẫn quen ra vào tự do, ông bị người gác cửa giữ lại:
- Ông hỏi ai?
Ông trả lời là muốn gặp ông chủ bút.
- Ông tên là gì để tôi vào thưa?
Ông xưng tên. Người gác cổng chừng cũng biết tiếng ông, nên khi nghe ông xưng danh, y bỗng sốt sắng đứng dậy.
- Xin ông chờ cho một phút!
Nói đoạn y gọi dây nói báo cho viên chủ bút biết rồi bảo:
- Xin mời ông vào.
Nhà văn bước vào buồng ông chủ bút. Khách và chủ chưa quen biết nhau mấy, nhưng chủ đã nhanh nhẹn đứng lên đón, lễ phép bắt tay, rồi niềm nở kéo ghế mời khách ngồi. Sau đó, lại ân cần hỏi khách quý muốn dùng gì.
- Xin ông một tách cà phê vừa ngọt thôi ạ!
Bây giờ chắc thế nào viên chủ bút cũng sắp hỏi: "Ngài có mang gì đến cho chúng tôi không ạ?". À mà không, cứ xem cái dáng điệu quá lễ phép của ông ta như thế thì chưa chắc ông ta đã dám hỏi thẳng câu ấy, mà phải hỏi một câu gì khác, đại khái như "Ngài có điều gì cần dạy không ạ?" kia! Không biết nên trả lời ông ta thế nào đây? Chả lẽ lại nói thẳng là mình đến xin việc? Vì thế, để tránh trước câu hỏi ấy, nhà văn ta mới vào đề bằng câu:
- Tôi rất thích những bài báo của ông viết, nhất là cái bút pháp độc đáo của ông.
- Dạ, ngài quá khen!
- Không hôm nào tôi bỏ được các bài xã luận của ông.
- Dạ, cảm ơn ngài đã quan tâm...
- Hôm nay nhân tiện đi ngang qua đây tôi muốn rẽ vào thăm...
- Dạ, thật là quý hoá quá!...
- À mà tôi không làm phiền gì ông đấy chứ?...
- Ấy chết, sao ngài lại nói thế ạ! Ðược ngài đến thăm thật là hân hạnh cho chúng tôi...
Nhưng rồi cà phê đã cạn và những câu trao đổi xã giao cũng đã hết. Biết nói gì nữa đây?
Viên chủ bút chắc sắp phải hỏi về mục đích cuộc viếng thăm của ông, vì đã lâu nhà văn không đến thăm toà báo, mà hôm nay bỗng lại đến... Tất nhiên lúc đó ông sẽ nói rõ mục đích ông đến thăm và viên chủ bút chắc sẽ hỏi: "Ngài có cuốn tiểu thuyết nào viết xong rồi không ạ? Giá ngài cho phép bảo chúng tôi được đăng thì thật là hân hạnh quá..." Và ông sẽ bảo: "Rất tiếc là tôi không đem theo cuốn nào. Nhưng hiện nay tôi đang viết hai cuốn tiểu thuyết và một cuốn sắp viết xong..."
Khốn nỗi câu chuyện cứ loanh quanh mãi mà vẫn không chịu vào đề. Nhà văn đành phải hỏi lái sang chuyện khác:
- Các ông làm chính trị, chắc phải theo dõi tất cả các sự kiện. Vậy các ông có ý kiến thế nào về bài diễn văn gần đây của ngài thủ tướng?
Hỏi xong câu ấy nhà văn mới thấy ân hận, vì khi viên chủ bút trả lời, ông có nghe và có hiểu gì đâu.
Câu chuyện vẫn rôm rả, nhưng viên chủ bút vẫn chẳng hề ngỏ ý nhờ ông viết cho cái gì: tiểu thuyết, báo hay truyện ngắn...
- Thôi xin phép ông, kẻo làm ông mất thời gian.
- Ấy chết, ngài cứ nói thế!... Mấy khi chúng tôi hân hạnh được ngài đến chơi... lúc nào có dịp, xin mời ngài cứ đến ạ!
Vừa xuống cầu thang, nhà văn vừa nghĩ: Không hiểu câu ông ta nói: Xin ngài cứ đến chúng tôi rất hân hạnh" là có ý gì? Chỉ là một câu nói xã giao hay là một lời mời thành thực? Có thể, lần này ông ta chưa dám để nghị mình viết cho cái gì, chỉ vì sợ hơi đường đột chăng? Nếu vậy lần sau đến, chắc thế nào ông ta cũng phải mời mình viết cho một bài báo... Mà cũng có thể quả thật hôm nay ông ta chưa có việc gì cần nhờ đến mình...
Nhà văn nổi tiếng nghĩ vậy rồi đi đến tờ báo khác. Ông quyết định phải gặp viên giám đốc tờ báo này, vì hồi xưa ông có quen biết cố thân sinh ra ông ta. Lúc đầu, ông có thể gợi chuyện về bố ông ta, tỏ ý thương tiếc ông cụ, rồi dần dần sẽ lái sang chuyện làm ăn.
- Ông cần gặp ai? - người gác cổng hỏi.
Ông trả lời là muốn gặp ông giám đốc. Nhưng người ta cho ông biết ông giám đốc đi Châu Âu mất rồi. Ðã định quay về, nhưng ra đến cửa, đứng tần ngần một lúc, nghĩ thế nào ông lại quay lại bảo người gác cửa:
- Nếu vậy bác cho tôi gặp ông phụ trách mục văn nghệ.
- Ông cho tôi biết tên để tôi vào báo.
Ông xưng tên và người ta cho ông vào.
Câu chuyện giữa ông và ông phụ trách mục văn nghệ mở đầu cũng na ná như câu chuyện giữa ông với viên chủ bút tờ báo trước. Có điều lần này ông phải tìm cách nói khéo ngay cho chủ nhân biết là ông sẵn sàng viết một cái gì đó, thậm chí ông còn nói thẳng là từ lâu ông vẫn viết truyện ngắn cho các báo. Ðoạn ông nói thêm:
- Chỉ tiếc là có lẽ ông không còn nhớ cái hồi đó...
- Ồ, sao bác lại nói thế! Tôi nhớ lắm chứ! Truyện nào của bác tôi cũng đều đọc cả. Bác viết truyện hay lắm, quên thế nào được.
- Các nhà văn trẻ bây giờ kể ra cũng có viết - nhà văn lại nói tiếp - nhưng... không biết diễn đạt thế nào cho đúng... chứ thật ra thì truyện của họ chưa thể gọi là truyện được. Vì viết được một truyện hay có phải dễ đâu!
- Vâng, tất nhiên rồi, bác bảo bây giờ tìm đâu ra những người viết hay như hồi các bác được!
"Thì hắn đang ngồi lù lù trước mặt anh đây mà anh mù hay sao!" Nhà văn suýt buột mồm kêu lên như vậy, nhưng may lại kìm được.
Khi chia tay, viên phụ trách mục văn nghệ cũng lại bảo:
- Xin mời bác có dịp cứ ghé lại chơi. Chúng tôi thật lấy làm hân hạnh.
Suốt một tuần liền, nhà văn cứ đi hết toà báo này đến toà báo khác, nói chuyện với đủ mọi người, từ giám đốc đến chủ bút, thư ký... Lúc thì nói về các bài xã luận, lúc thì bàn về tiểu thuyết. Nhưng lần nào cũng vậy, ông đều được người ta trả lời bằng một câu giống nhau "Xin mời bác cứ đến, chúng tôi rất hân hạnh". Có vài toà soạn ông đến hàng hai, ba lần, nhưng chẳng lần nào có ai thuê ông viết lấy một chữ, hay đề nghị ông làm cho việc gì. Có lẽ họ không dám nói với ông vì sợ thiếu tế nhị chăng? Nhưng cũng có thể họ cho rằng một nhà văn tên tuổi như ông thì chắc phải sống ung dung lắm rồi, việc gì còn phải làm việc nữa.
Thế cho nên ông mới phải nói thẳng với họ rằng ông cần việc làm, hay thậm chí một chân gì trong toà soạn cũng được. Kinh nghiệm lâu năm cho ông biết rằng những chức vụ như trưởng ban, biên tập viên, bình luận viên, hay tầm thường như một phóng viên thôi, cũng chả đời nào họ dành cho ông cả. Với lại, ông cũng chả màng đến các chức ấy. Ông sẵn sàng làm bất cứ việc gì, miễn là có miếng ăn là được rồi.
Ông đi hết toà soạn này đến toà soạn khác. Nhưng cái sách mời chào quá trịnh trọng của những người đón tiếp ông, những câu "Dạ, thưa bác" quá lễ độ của họ khiến ông đâm lúng túng, không dám thú nhận cái cảnh nghèo túng của mình. Ðã có lần ông tìm cách nói thẳng với họ rằng cứ ngồi nhà mãi không có việc gì làm thì cũng buồn, rằng tuy thế ông cũng chưa phải già đến mức không thể làm việc được nữa, không thể giúp ích gì cho mọi người được nữa, rằng ông đã chán ngấy cái cảnh ăn không ngồi rồi, rằng ông rất sung sướng nếu có bất cứ việc gì để làm.
Nhưng người ta thì bảo ông: "Dạ, bác cứ nói thế, chứ ở toà báo đâu có việc gì đáng cho bác làm... Bác bảo muốn làm bất cứ việc gì, nhưng cũng phải là việc quan trọng to tát chứ như các công việc ở toà soạn này thì đâu có đáng để bác bận tâm. Nói thế mong bác cũng bỏ quá cho..."
Rồi lúc tiễn ông ra về, người ta còn nói thêm: Dạ xin mời bác cứ đến chơi với chúng tôi, thế là hân hạnh lắm rồi ạ!"
Từ đó, ông quyết định không có quanh co úp mở gì nữa, mà cứ nói toạc ra là ông đang cần tiền và sẵn sàng làm cả chân sửa bài.
Nhưng người ta lại bảo:
- Ấy chết, sao lại thế ạ. Ngài mà lại phải đi làm cái việc sửa bài thì có họa là...
Nhưng nhà văn không chịu thua. Ông bảo nếu không có việc sửa bài, thì có thể cho ông bất cứ việc gì khác cũng được.
Người ta lại tưởng ông đùa và bảo:
- Dạ ngài cứ nói đùa vậy chứ ạ...
Ðã thế, ông tự nhủ, phải nói thẳng hơn nữa! Ðến một toà soạn khác, ông đã kể cho họ biết rằng đã 3 tháng nay ông không có tiền trả tiền nhà, rằng ông đang mắc nợ như chúa chổm, và bây giờ nếu có việc gì làm thì thật ông sung sướng biết mấy. Mà chả lẽ bao năm nay ông làm việc cho các báo mà bây giờ lại không xin được việc gì làm hay sao?
- Trời ơi, ngài có ý định giễu cợt chúng tôi hay sao mà cứ nói những chuyện như thế ạ! Chả lẽ ngài lại muốn làm bất cứ việc gì thật hay sao?
Ông lại đến một toà soạn khác. Và lần này thì ông không còn giấu giếm chuyện gì nữa, mà bảo thẳng với họ rằng ông đang sống dở chết dở đây, rằng bao nhiêu quần áo ông đã phải bán hết, chỉ còn độc một bộ đang mặc trên người đây thôi. Thử hỏi thành thực đến mức ấy thì thôi chứ còn gì nữa? Cuối cùng, ông xin người ta cho ông làm cái việc sửa bài hay bất cứ công việc gì ban đêm cũng được.
- Ấy chết, ngài cứ dạy thế, chứ một nhà văn có tiếng như ngài mà phải đi làm những việc như thế thì còn ra làm sao ạ!
Lúc đầu, nghe người ta nói: "Ấy chết, ngài cứ dạy thế!" ông cũng cảm thấy hãnh diện, nhưng sau ông mới hiểu rằng người ta nói thế chẳng qua chỉ cốt để chối khéo ông mà thôi...
Thế nhưng ông vẫn cứ đi lạy lục hết toà soạn này đến toà soạn khác để xin việc. Ðể rồi lại được nghe những lời rất tử tế:
- "Ấy chết... Xin mời ngài cứ đến chơi ạ. Thật là quý hóa!"
Khốn nỗi, chỉ nghe những lời tử tế suông thôi, người ta đâu có thể no bụng được!

Những người thích đùa - Nhà xuất bản VHTT - Các dịch giả: Thái Hà, Đức Mẫn và Ngọc Bằng.

Xếp hàng - Aziz Nesin

Xếp hàng
Aziz Nesin

Tôi vòng từ cửa hiệu "Hàng nội hoá" ở phố Bacchêcana sang nhà Bưu điện mới và thấy một dòng người xếp hàng dài lũ lượt. Hàng người như một cái đuôi! Mà không phải chỉ là một cái đuôi thường, đây là một cái đuôi có xoắn có nút hẳn hoi, như là một cái đuôi ngựa thồ.
Ngã tư bị nghẽn tắc. Bọn tài xế thò tay ra cửa sổ, đập thình thình vào thành xe, càu nhàu:
- Đúng lúc này thì cấm còi! Các cậu cứ phóng qua cái đám này xem sao nào!
Còi nào cho lại được, có bắn cao xạ cũng chẳng ăn thua. Đoàn xe dùng chắn sốc gạt người để mở đường tiến lên với tốc độ mỗi mét 5', có khi còn ít hơn.
- Chen đi đâu thế!
- Nhìn đằng trước kia!
- Nhìn đằng sau xem!
- Đứng vào hàng đi!
- Hàng nào?
- Hàng nào chẳng được, cần gì!
- Bạn ơi những người này không sao bảo cho biết phép văn minh được. Chúng ta đang ở thế kỷ 20. Mà thế nào là thế kỷ 20? Là văn minh. Thế nào là văn minh? Văn minh thứ nhất là bom nguyên tử, thứ hai là xếp hàng. Muốn sao thì sao bạn cũng phải nắm được hai thứ này. Cẩn thận! Khéo bước hụt đấy!
- Không, ông bạn ơi, chưa đủ đâu. Văn minh còn là cả nylông, chất dẻo, kẹo cao su. Ngoài ra, xin báo cáo với ngài là cả quần áo tắm nữa... Cẩn thận, mù à? Dẫm ngay vào chỗ chân rộp của người ta!...
- Còn lưỡi dao cạo an toàn "Gilét" thì sao? Các ngài quên à? Đã nói đến văn minh là phải đến "Gilét".
- Thế còn "hu-la-húp?" Này, đừng có chen, đồ khỉ!
- Tôi biết rõ một điều: chừng nào chúng ta còn chưa biết cách xếp hàng thì còn chưa ra người gì cả. Ối! Lách đi đâu thế này?... - Đằng sau có người quát:
- Dẹp ra một tí! Bẩn đừng có trách!
Một người qua đường bảo bạn cùng đi:
- Đã có hàng thì phải xếp mới được.
Nghe lời khuyên thông tuệ đó, tôi cũng đứng vào. Thật ra là thế này: Chỉ cần anh dừng lại một cái là đằng sau có một hàng nối ngay lập tức.
- Lạy Trời phù hộ cho cái người nghĩ ra xếp hàng!
- Đừng quên tắc-xi đấy nhé! Xếp hàng là một, tắc-xi là hai.
Bà lão đứng trước tôi hỏi:
- Xếp hàng để mua gì thế này?
- Mua gì chẳng được? Đã có hàng thì cứ xếp.
- Chắc chắn người ta sẽ bán cho một thứ gì đấy.
Mấy phút sau chính cái người nói câu đó lại hỏi người bên cạnh:
- Cậu biết xếp hàng mua gì không?
Rồi anh ta lại phải trả lời đúng câu hỏi của một người khác:
- Mua gì chẳng được.
Một người nói:
- Không có hàng thì làm sao dẹp nạn đầu cơ.
Một người khác hùa theo:
- Cái bọn đầu cơ làm cho chúng ta khách kiệt! Ai nghĩ ra cái lối xếp hàng này hay thật...
Hai anh cảnh sát, một đứng cuối, một đứng đầu hàng luôn miệng hô:
- Đừng ồn!
- Đứng vào hàng!
- Dẹp ra vào xe đi!
Chúng tôi nối bước nhau tiến lên, đúng hơn là nối nhau từng tấc đất mà tiến. 9h sáng tôi có hẹn gặp một người. Bây giờ đã gần 9h.
- Này ông bạn, ông đến sau tôi. Đừng có làm trò cù lần như thế!
- Có nhà ông cù lần thì có, ông bạn chí tôn ạ. Tôi đứng đây từ bẩy giờ sáng.
Người này đến cũng chen lên trước, người kia đến cũng chen lên trước, tôi đã không thèm nói, nhưng xem ra không nói không được. Một người đứng trong hàng nói:
- Cuộc đời là thế, bạn ơi, không làm gì được đâu. Như tôi đây ăn lương nhà nước đã 22 năm. Những bọn nhãi ranh hôm qua, nay đã là trưởng phòng, giám đốc cả. Ai cũng thế, cứ đến là chen lên trước...
- Xin lỗi ông, sắp bán gì thế?
- Chào! Chính tôi cũng chẳng biết nữa. Đứng hai tiếng rồi, người bảo bán lốp ô tô, người lại bảo bán dầu hoả.
- Tôi mua lốp làm gì?
- Cái nhà cô này, thế mà cũng đòi nói! Nếu thánh Ala đã cho ta lốp thì ắt mai đây sẽ cho ta cả chiếc ô tô.
- Liệu có bán cả 4 chiếc lốp một lúc không đấy?
- Cái đó thì không biết. Chưa ai ra khỏi hàng, có ai mà hỏi.
- Thế họ chuồn đi đằng nào cả?
- Người ta cho ra cửa sau để khỏi chen lấn.
Đến 10h30. Dòng người mỗi lúc một dài.
- Nếu bán lốp thì phải có giấy cơ đấy. Không giấy không bán cho đâu.
- Giấy nữa? Giấy của Đảng dân chủ à? Sáng danh Chúa chúng ta đều là người dân chủ cả đấy!
- Bán đầu thì thèm vào đứng.
- Bán gì chẳng được, miễn là có.
- Dầu đựng vào túi à? Ác thật, nhà có can mà không mang đi kia chứ.
- Lấy tích-kê đã, rồi chạy về lấy can vẫn kịp.
- Lại còn tích-kê nữa cơ à?
- Cậu ở đâu ra mà nghe thế? Chẳng nhẽ người ta biếu không cho cậu hẳn! Đừng có hòng!... Này, còn phải nói thế nào nữa, đừng xô anh em thế!...
- Xin lỗi anh, đằng sau họ đẩy đấy.
- Ông hiểu cho, tôi còn có việc cần...
- Việc cần!... Xem ông ấy kìa! Theo ông, những người khác đều ăn không ngồi rồi cả hay sao? Ai chả có việc. Ông cứ chờ đấy, chẳng sao cả đâu.
- Tôi xin hỏi, không biết đến trưa có mua được không nhỉ?
- Tôi nghĩ rằng... Chen đi đâu thế này? Anh muốn ngồi lên vai tôi à?
- Không kính lão tí nào. Giáo với chả dục!
- Hẳn là ông ngoài 40?
- Sao anh lại nghĩ thế?
- Bởi vì khi người ta ngoài 40 xuân, người ta thường cho rằng trên đời không còn ai lịch sự và tử tế cả...
- Ông có biết bán gì không?
- Inxulin.
- Inxulin? Nó là cái gì thế?
- Thuốc chữa bệnh đái đường.
- Vậy tôi dùng làm gì? Của nợ!
- Người anh em gằn quá đấy! Thế nào là của nợ? Cứ mua đi rồi sau bán lại. Ông Giunưu hàng xóm nhà tôi chỉ có thế mà giàu to đấy. Mua ở đây có 2 đồng rưỡi mà bán được những 25 đồng.
- Các ông biết không, thế hóa ra nước nhà có những lĩnh vực hoạt động mới.
- Thế ông nghĩ sao? Này, xếp hàng không phải là chuyện đùa đâu. Người ta đi xếp hàng mà xây được nhà đấy... Bỏ cái cùi tay ra khỏi đầu tôi đi!
- Tốt nhất là ông cất cái đầu ra khỏi cùi tay tôi thì có.
- Xin lỗi, ông làm ơn cho biết người ta bán gì vậy?
- Vải thô.
- Vải thô gì?
- Gì nữa? Mỹ chứ còn gì. Bây giờ cái gì cũng Mỹ cả.
- Không phải vải thô đâu. Không biết cũng đòi nói. Xi măng!
Bà già đứng trước tôi nổi giận:
- Không phải vải thô, không phải muối, cũng không phải dầu hỏa. Các người không nghe đài hả?
- Nghe chứ. Nhưng sao?
- Ngài thị trưởng cấm mọi thứ xếp hàng, trừ xếp hàng mua cà phê thì được. Bây giờ không còn xếp hàng gì khác ngoài cà phê nữa.
Cái tin cà phê truyền như điện trong đám xếp hàng.
- Cà phê à? Hay quá nhỉ!
- Cà phê thì tôi xếp hàng 2 ngày cũng được. Cứ phải là mua được rồi mới chịu đi.
- Lệnh thế này: chỉ được phép xếp hàng mua cà phê thôi. Xếp hàng mua cái khác là bị trừng phạt!
11h trưa... Chỉ còn độ mươi bước nữa là đến quầy hàng. Các rèm cửa sổ đều buông kín nên không biết bên trong làm gì.
- Người ta có bán nhiều không?
- Mỗi người 50g.
- Đừng hòng. Mỗi người 50g thì làm sao đủ cho mọi người được.
- Được có 50g thì riêng tôi, tôi chẳng thể đứng lâu như thế này được.
- Thì cốt sao được 50g đi. Rồi sau mình cho thêm 2 cân đậu vào, trộn đều lên, thế là có 2 cân rưỡi cà phê hảo hạng rồi.
Một người bảo bạn:
- Này, mình quên không mang tiền, cậu đưa mình 2 đồng rưỡi đi.
Người kia đáp:
- Được thôi, nhưng không phải cho vay: cậu đưa cho mình nửa suất cà phê của cậu.
Người la, người kêu cứu, người bị chen bẹp, người đánh rơi ví, người bị lạc bạn... Tóm lại, đủ mọi cách trên đời!... Người ta xô đẩy mọi phía, chèn ép mọi phía... Cuối cùng, tôi cúi đầu xuống chui vào dưới tấm rèm sắt hé mở.
Người bán hàng hỏi bà già trước tôi:
- Cụ mua số mấy?
- Lại còn số nữa?
- Không số sao được? Cụ ơi, mau lên, hết giờ rồi. Nói đi cụ!
- Đã xay rồi à? Cháu ơi, bảo họ xay cho già mịn vào nhé. Mịn nhất ấy...
- Mịn hay không thì cũng thế thôi, cụ ạ. Chỉ còn đằng có tuyết thôi.
- Cha mẹ ơi, già này sống đều bạc đầu mà chưa bao giờ thấy cà phê có tuyết cả.
- Cà phê gì nữa? Cháu hỏi cụ mang số mấy cơ mà?
- Số 35. Cho già loại có nơ ấy...
- Cụ lại nói chuyện gì vậy?
- Thế không phải cháu hỏi số giày à?
- Cháu bán mũ, cụ ơi, mũ ấy mà...
Người bán hàng lấy mũ trong hộp ra.
- Cha mẹ ơi, già mua mũ làm gì? - bà già nói - mà lại là mũ đàn ông nữa chứ... à, mà thôi, đã xếp hàng chắc là rẻ hơn. Thôi, cứ cho già một chiếc, già mua cho thằng con trai. Bao nhiêu ấy nhỉ?
- 68 đồng 7 hào 3.
Bà cụ trả tiền và lấy một cái mũ màu cà phê.
Bây giờ đến lượt tôi. Người bán hàng nói:
- Mũ Ý đấy thưa ông, ngày mai ông không mua nổi nữa đâu. Bây giờ mua cái gì cũng thế, không phải là dễ. Ông chọn mau lên...
Đông cũng như hè, có bao giờ tôi đội mũ đâu. Nhưng, nghĩ một tí, tôi quyết định rằng nếu đã xếp hàng thế này hẳn là phải rẻ, tôi liền mua một cái.
Người đứng sau tôi kêu ầm lên vẻ nóng ruột, tựa hồ người ta sắp bán hết mất mũ, không còn đến lượt anh ta nữa:
- Cho tôi 4 chiếc đấy nhé. Một chiếc số 56 và ba chiếc số 57. Màu nâu hoặc màu be.
Tôi trả 68 đồng 7 hào 3 xu và lấy một cái. Lối ra đầu kia. Phải trèo lên một cái cầu thang rồi đi cửa sang phố khác. Lúc ấy là 12h kém 15. Mua được cái mũ rẻ tôi mừng quá quên cả mệt. Tôi ôm hộp mũ đi cho đến chiều tối. Lúc 5h chiều, tôi ra bến ca nô về nhà. Đến quầy về tôi thấy có người gọi tôi:
- Giepđét!
Tôi quay lại thì ra anh Buckhan - gương lé, bạn học cũ với tôi. Anh ta bị đuổi khỏi trường lixê vì hạnh kiểm xấu. Tôi sẽ kể hành tung của anh ta cho các bạn nghe. Dưới chân bàn anh ta đặt một cái gương con để ngắm đùi các cô giáo. Một bữa anh ta bị phát hiện và bị đuổi học. Từ đấy anh ta mang cái biệt hiệu "gương lé". Lâu lắm rồi tôi không gặp anh ấy.
- A, Buckhan, xin chào! Thế nào, khoẻ chứ?
- Cám ơn, cũng khá.
- Bây giờ cậu làm gì?
- Phò phạch.
- Phò phạch gì?
- Có gì làm nấy. Mình phò bọn con buôn đi bán hàng ế. Chẳng hạn, hôm nay mình giúp một thằng Do Thái bán chạy 970 cái mũ.
Nghe đến chữ "mũ" tôi đã giật mình, bèn hỏi:
- Cậu bán thế nào?
- Dễ thôi. Hàng của người ta 3 năm xếp xó. Trong làng buôn ai cũng biết mình cả. Hắn ta đến chỗ mình. Đôi bên thoả thuận 25% lãi suất. Đến 3h chiều mình bán hết trơn. Cầu trời phù hộ cho hắn, hắn phải trả mình 850 đồng. Đáng lẽ mình được 900 đồng, nhưng cửa kính quầy hắn bị vỡ, thiệt hại chia đôi.
- Nhưng cậu làm sao bán được đống hàng ấy?
- Chỉ cần vài ba đồng là mình thuê được chừng 15 thằng ma cà bông. Trong nửa giờ bọn ấy tổ chức được một dây xếp hàng trước cửa hiệu. Cũng chả đến nửa giờ đâu. Ai đi qua thấy xếp hàng cũng đứng lại. Cậu biết không, ở nước ta bây giờ người ta đâm mê xếp hàng. Mà khi đã xếp hàng rồi thì đuổi họ cũng không được... Sau đó thì cậu biết đấy... Như chiều nay chẳng hạn: chúng nó bán được hết mũ và đóng gọn cửa hàng. Dân chúng mua như cướp ấy. Vất vả lắm mới kìm được. Bọn ngốc nhiều lắm, bạn ạ.
- Đúng đấy - tôi liền đồng tình.
- Cậu không thể hình dung có bao nhiêu thằng ngốc trên đời.
- Hình dung được chứ. Lại còn những thằng ngu đến mức...
- Thật là vô khối giống lừa.
- Nhiều thật, nhiều thật, bạn ạ.
- Giá cậu được nhìn mặt những thằng ngốc ấy...
- Nhìn làm quái gì? Mình biết thừa rồi. Nhưng loại mũ ấy có rẻ được chút nào không?
- Rẻ gì, thứ ấy cửa hàng nào chả có.
- Mình cũng muốn xem... Không, không phải phải xem lũ ngốc đâu, mình muốn xem mũ ấy...
- Còn 15' nữa ca nô mới đến. Đi với mình, mình sẽ chỉ cho cậu xem mũ ấy trong các cửa hàng.
Tôi nhìn những ô kính tủ hàng mà không dám tin mắt mình nữa: ở đâu cũng toàn thứ mũ tôi vừa mua sáng nay. Giá đồng loạt: 68 đồng 7 hào 3 xu.
- Như thế nghĩa là đáng lẽ được mua thoải mái trong bất cứ cửa hàng nào thì bọn ngốc kia nhất thiết phải chen lấn nhau xếp hàng, huých đạp lẫn nhau, xé quần xé áo của nhau rồi mới mua được vẫn thứ hàng đó với giá cả đó - tôi hỏi, giả bộ như không có chuyện gì xảy ra cả. Trên đời này nhiều thằng ngốc thật đấy.
- Ngốc khổ ngốc sở ấy chứ! Ngày mai mình sẽ đi bán điếu cho cửa hàng Grant. Lão còn ế đến hàng ngàn chiếc chứ không ít.
- Điếu cũng mua à?
- Bọn ngốc ấy cái gì chẳng mua. Bát điếu cũng mua mà thậm chí đến xe điếu cũng mua hết, miễn là xếp hàng. Mình chỉ sợ độc có một điều.
- Điều gì?
- Sợ không đủ hàng bán. Đám người ấy phá nhà chứ chẳng chơi.
Tôi với Buckhan - gương lé trở về chỗ ca nô. Đến nơi anh ta hỏi:
- Cậu cầm cái gì thế?
Tôi dấu hộp ra sau lưng để anh ta khỏi nhìn thấy cái nhãn.
- Mua một đôi dép về đi ấy mà - tôi trả lời qua quít.
Về nhà tôi để mũ lên bàn. Lúc làm việc thỉnh thoảng tôi ngẩng đầu lên nhìn. Một mặt nó gợi nhớ cái xuẩn ngốc của tôi, mặt khác, nó cũng là một nguồn an ủi thật hú vía? Suýt nữa ngày mai tôi đi mua một cây xe điếu thì sao? Biết dùng nó làm gì cho được?

Những người thích đùa - Nhà xuất bản VHTT - Các dịch giả: Thái Hà, Đức Mẫn và Ngọc Bằng.