Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Hiển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Hiển. Hiển thị tất cả bài đăng
1/3/12

Chiếc lá - Bùi Hiển

Chiếc lá
Bùi Hiển

            Chiếc lá ấy chưa bao giờ chịu đành phận làm một chiếc lá thui chột hoặc tàn úa, dính lỏng lẻo trên cành. Em muốn góp phần chuyển chút nhựa làm nên hoa trái của cuộc đời. Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một há vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ".
            - Tôi giừ thì thủ phận, cốt sao đỡ gánh nặng cho xã hội là may rồi... Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi. Ngồi trên nền đất, cô gái buông từng tiếng đều đều về phía ngọn lửa bếp có nồi cám lợn đang bốc hơi. Chốc chốc o ta khẽ quay người vơ nắm rạ, dùng que cời gẩy gẩy cho lửa cháy rần lên, rồi lại trở về với công việc thứ hai của mình, tí tách bẻ những củ khoai chuối bỏ vào chiếc rổ sảo để cạnh.
            - O Lựu bi quan thế không nên. Mà không đúng đâu. Sống trên đời, có làm việc là có góp phần cho xã hội, chứ sao lại là gánh nặng. Dứt lời, Hòa cảm thấy ngay câu an ủi của mình sao nhạt nhẽo. Nó có nghĩa lý gì, so với nỗi buồn khổ lắng sâu của người con gái. Anh bỏ bút, vẩn vơ nhìn về phía bếp lửa. ánh đỏ viền lên bầu má của Lựu một vành cong màu hồng sẫm, bập bùng chấp chới bên búi tóc nặng và một bên vai áo nhuộm nâu bầm. Cái thân hình béo đậm ngồi thu tròn một khối, hơi còng xuống. Hòa muốn thêm một câu gì để xóa cái đãi bôi gắng gượng của điều mình vừa thốt. Biết nói gì kia chứ? An ủi suông thì có ích lợi gì. Trong khi đó, những lời xót xa mà người con gái trẻ ngồi xây lưng lại anh vừa tâm sự, như chỉ để nói cùng ngọn lửa, vẫn còn gây một âm vang não nề, từng tiếng từng tiếng buông rơi vào lửa, không cháy vèo đi mà dường như thêm nóng bỏng. Không, cũng không hẳn là nóng bỏng. "Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi..." Giọng o ta đều đều bình thản lạ lùng, không vui đã đành, cũng không buồn, o ta chỉ như nói lên một điều nhận xét hoàn toàn khách quan, một sự thật mà o đã nghiền ngẫm, thấm thía, đã tin rằng không thể nào thay đổi. Chính cái bình thản ấy càng thêm não lòng xiết bao. Hòa im lặng. Tiếng những củ khoai đòn gẫy đôi gẫy ba, tí tách. Anh biết rằng chỉ có cách lặng im, để mặc cho cơn buồn nản của người con gái vợi dần và trôi qua, như trời thu gợn đám mây mù, tự nó sẽ tản nhòa các hướng.
* * *
            Hòa vừa đổi về đây chưa được bao lâu. Anh trọ nhà một em học Sinh con một bác quản trị hợp tác xã. Căn nhà năm gian mát mẻ thoáng đãng, gia đình lại ít trẻ con, được vài hôm, chỗ ăn ở và làm việc bắt đầu ổn định thì bất ngờ một lớp mẫu giáo dọn đến ngay cạnh nách. Tiếng trẻ em ê a múa hát nghe cũng vui vui nhưng khiến trí nghĩ khó tập trung. Phải tạm lùi một bước!
            - Hòa vui vẻ quyết định, và anh lần sang thăm thú một gia đình ở xê xế phía sau vườn, ít ra để nhờ một chỗ thỉnh thoảng sang ngồi soạn hoặc chấm bài, nhà này trông có vẻ văng vắng. Quả trong nhà chỉ vẻn vẹn có hai vợ chồng già và một cô con gái. ông cụ, ống tay áo còn lấm tấm mấy vệt bùn khô, tiếp anh niềm nở, hơi trọng vọng nữa, cứ một thầy hai thầy, hình như ông còn giữ cái nền nếp trọng học của đất nhà nho cũ. Bà mẹ như để giải thích cảnh nhà neo đơn, kể: có một con trai đầu, hiện đi bộ đội, một người con gái thứ hai đã lấy chồng, hai vợ chồng cùng làm việc ở một nông trường trên miền ngược, còn con Lựu đây là út, lớn rồi mà nhác mần lắm, chỉ ăn rồi nhởi thôi, đang phải giữ ở nhà để kèm cặp đã! Nghe mẹ nói vui, cô gái ngồi xây lưng ở đằng góc bếp thốt lên tiếng cười nhỏ trong cổ họng. Kể o ta cũng trắng thật:
            - Hòa liếc nhìn chiếc gáy của cô gái, nhận xét:
            - Con gái nông thôn mà béo trắng như cục bột vắt để đó! Lúc bấy giờ o ta đang đun xanh canh thì phải. O lại còn tẩn mẩn tước những chiếc lá gì giống lá tre nhưng dài và to bản hơn, tấp thành đống nhỏ cạnh người.
            - Lá gì đó o?
            - Hòa hỏi để bắt chuyện.
            - Lá muồng muồng, ở trên rú.
            - Lấy về đun à? Sao lại phải xé nhỏ ra thế kia? Câu hỏi ngớ ngẩn khiến người con gái bật lên cười rất giòn.
            - Trước để bán cho Mậu dịch đó thầy ạ. Mậu dịch họ lại thuê người ta bện thành... thành những cái chi bán ra nước ngoài, làm cái chùi chân. Các nước họ bước vô nhà phải xát xát chân cho sạch đã, không phải như ta đi thẳng vô nhà đâu! Đến lượt Hòa bật cười về cách nói ngộ nghĩnh của cô gái.
            - Cái thảm à?
            - Đúng cái thảm đó.
            - Ông cụ xác nhận.
            - Hợp tác xã khoán cho mỗi cân là hai bao rưỡi.
            - Mỗi ngày o tước được mấy cân, o Lựu?
            - May ra thì được một cân, chưa đủ tôi nuôi tôi.
            - Trong giọng cô gái, bỗng chen cái gì khác lạ, Hòa chưa kịp phân tích ra.
            - Sức vóc o, đi làm đồng có khi thừa thóc nuôi cả cụ mẹ!
            - Rứa đó!
            - Cô gái liền đáp, chẳng rõ ý ra sao. Khuôn mặt ông cụ bỗng như hóp lại và già sọm đi, ông thong thả cất tiếng:
            - Con tôi, hắn... Nhưng Lựu không để ông cụ nói hết, o cướp lời:
            - Mẹ tôi có chịu cho tôi ra đồng làm đâu thầy! Tôi là một con mù! Hòa sững đi. Làm sao bây giờ, anh không nhận thấy rằng những cử động của người con gái có vẻ gì hơi chậm chạp, dài dại? Anh hối hận vô cùng về cái câu vừa nói, vô tình nó đượm một ý khiêu khích cay chua.
* * *
            Về sau Hòa biết thêm: Lựu bị hỏng mắt từ năm lên bốn. Đứa bé mù vượt qua tuổi thơ ấu không đến nỗi khó khăn. Được cả nhà săn sóc chiều chuộng, trong trí óc đơn giản của nó, có lẽ nó cho rằng mỗi con người ta sống, là tự nhiên có mọi thứ sẵn bên mình, cũng như cơm của nó được đưa tận môi, nước kề tận miệng. Khoảng mười một mười hai, vừng trán con bé Lựu bắt đầu thoáng nét âu sầu. Đó là vào những ngày cả nhà đi làm vắng. Rồi bỗng một hôm nó nằng nặc đòi theo mẹ đi cấy. Bà mẹ đành phải dắt con cho ra ngồi ở đầu bờ: ở nhà một mình, nó buồn sợ. Mười tám tuổi, Lựu rất thích được đi chăn trâu thay anh chị. Phải chăng không khí thoáng đãng ngoài đồng cỏ đánh loãng được ít nhiều cái đêm tối vô cùng tận đè chụp lên đầu nó. Giờ đây, Lựu vừa chẵn hai mươi. Hôm đầu tiên Hòa sang ngồi làm việc, người con gái khẽ ngẩng đầu như nghe ngóng bước chân của anh, rồi lẳng lặng đi rót một bát nước chè tươi còn bốc khói, bưng hai tay đặt lên bàn. Xong, o trở về chỗ góc bếp của mình, bê nồi cám ra chuồng cho lợn ăn. Lát sau thoáng thấy bóng o ta lúi húi hái rau nhổ cỏ gì ngoài sau vườn. Suốt buổi coi như o không nói lấy một tiếng. O ta hơi trầm lặng quá đấy!
            - Hòa nhận xét, rồi chợt anh khám phá ra chính anh cũng quá tiết kiệm lời, việc bài vở của một giáo viên đâu đến nỗi phải mải mê đến thế! Ngày hôm sau anh thử bắt chuyện. Người con gái, lúc đầu, ngờ ngợ nhìn anh.
            - Nghĩa là o ta khẽ quay đầu, nghiêng một bên tai như ngẫm nghĩ xem cái điều người ta vừa nói có đúng là nói với mình không. Rồi o vui vẻ đáp lời. Hóa ra Lựu cũng thông tỏ khá nhiều chuyện trong làng, từ việc hợp tác xã, việc đội, đến việc nhà ai bị bom cháy, con nhà ai được đi thi học Sinh giỏi toàn tỉnh. Đôi khi Hòa có ấn tượng câu chuyện của người con gái mù hơi có vẻ líu la líu lo một chút, như trẻ con phô chuyện. Bỗng, một lúc nào đó, o ta ngừng bặt, thốt tiếng cười trong cổ họng theo thói quen.
            - Tôi phải cái tội hay nói hay phô, mà hay nói thì hay sai, phải không thầy. Cứ bô lô ba la, thầy không mần việc được.
            - Bài tôi xong cả rồi.
            - Hòa vội đáp. Và anh chợt hiểu cái dè dặt ý tứ của Lựu hôm đầu. Những ngày sau cũng vậy, Lựu chỉ chuyện trò khi anh gợi đầu tiên. Người con gái hay nhắc đến mấy mét vải phin, mỏng mịn, o vẫn cất dành trong rương làm của, không may chi hết, may mặc rồi nó mòn rách, uổng: mấy mét vải ấy là của Bác Hồ cho. Chao ôi, Bác thương đến cả những người neo đơn, tàng tật. O lại khoe cha con o chăn của hợp tác một con bò, béo lắm. Trước đây hợp tác trợ cấp cho Lựu ngày hai hào, thêm vào khoản tước lá muồng cho đủ ăn, được hai tháng, Lựu không chịu nhận trợ cấp nữa, đòi nhận bò về nuôi.
            - Cha tôi thương tôi cứ giành lấy chăn, hai cha con chăm sóc con bò, đến khi thi được nhất đội, họ thưởng cho cái bát hoa đẹp lắm, cái bát thầy đang uống đó. Giọng phô chuyện của cô gái quả có cái gì còn rất trẻ nít thơ ngây. Hòa đăm đăm nhìn những chấm xanh đỏ nổi trên nền men trắng chiếc bát. Với Lựu, thế nào là một chiếc bát hoa? Một chiếc bát hoa đẹp lắm? Người con gái làm sao còn lưu giữ được trong trí nhớ cái bóng dáng xa xôi, mờ ảo, về một nụ hoa nào đó của tuổi ấu thơ, liền ngay sau đã bị cái đêm đen mênh mông của tàng tật trùm phủ? Chắc hẳn o ta chỉ lặp lại, như đứa trẻ học nói, những điều ta nghe đã thu nhận được từ miệng người ta. Đối với o, hoa đẹp là thế nào? Trong trí tưởng tượng người mù, sắc màu rực rỡ hoặc dịu dàng, hình nét nhẹ thon của một cánh hoa được mơ hồ gợi lên như thế nào qua một mùi hương bay thoảng?
            - Hắn cứ nằng nặc đòi nhận thêm con bò nữa đó, thầy ạ.
            - Ông cụ vừa đi tưới cây ngoài vườn phụ lão về, ngồi vào bếp châm lửa hút thuốc, góp chuyện.
            - Để chăn cho luôn một công.
            - Không phải!
            - Lựu liền cãi lại.
            - Để tôi chăn riêng!
            - Mi chăn làm của riêng à?
            - Ông cụ nói trêu và cười khà khà, sau khi rít một hơi thuốc lào dài.
            - Của riêng đó!
            - Cô gái láy lại.
            - Lần ni thì cha không được giành! Vừa nói o vừa nghiêng đầu áp má vào vai bố như một đứa trẻ nhỏ, vuốt ve và vỗ vỗ nhẹ vào lưng bố.
            - Mi chăn mà để bò ăn lúa của người ta, thì công không đủ nạp phạt đó! Đừng có tưởng! Chắc hẳn ông cụ chỉ nói dọa để trêu đùa. Nhưng o con gái, đang vui, tự dưng ắng lặng đi. Hòa thấy đầu o ta gục xuống, như thể bị cái búi tóc to đè trĩu. Tấm lưng béo nẫn cong vòng như một cái vòm. O càng áp dụi một bên mặt vào cánh vai bố, tìm chỗ tựa chăng, hay để giấu một giọt nước mắt thầm? Cô gái tàng tật quả là mau xúc động quá chừng. Hòa có chút an ủi khi nghĩ, sự có mặt của anh cũng khiến o con gái đỡ cô đơn, trong lúc mọi người đi làm vắng. Không phải anh tự huyễn mình đâu, Lựu quả có vui vui khi cảm thấy có anh làm việc bên cạnh. Vẫn e dè kín đáo, o chỉ bắt lời khi anh khơi chuyện trước, nhưng dù khi không nói, cả con người của Lựu dường như cũng có chút gì linh hoạt hơn, cử động dường như ít nhiều thêm nhanh nhẹn, chính xác. Một lần, nhân ghé trong xóm có việc, anh trở về nhà Lựu không qua cổng mà băng tắt chỗ vườn sau đi vào. Thoáng thấy bóng cô gái, anh nẩy ý đứng khựng lại, thử xem thính giác người mù quả có tinh nhậy hơn không. Người con gái ngửng đầu, chờ đợi. Cặp môi o dường như khẽ mấp máy. Hòa cố ý chậm rãi bước vào phía cửa bếp. O ta bật hỏi:
             Thầy Hòa đã sang đó phải không?
            - Tôi đây. O Lựu nhận ra tiếng chân của tôi à?
            - Có chớ. Ai đi mà tôi nỏ biết. Bước chân của thầy hiền. Ngừng một chút, o nói thêm, như để bổ sung:
            - Nghiêm mà hiền. Hòa bật cười. Cái thế giới người mù, chắc nó có những điều bí ẩn kỳ lạ, Hòa nghĩ bụng. Sự nhận thức và suy nghĩ của họ hẳn là ít nhiều bị hạn chế: dựa trên trực giác, trên một cách luận lý riêng, nó có thể rất đúng, cũng có thể rất sai. Vừa mới chiều qua, giữa một câu chuyện bình thường, tự dưng anh nghe cô gái nói:
            - Té ra thầy Hòa chuyên dạy văn à? Thầy dạy hay hay là.
            - Hay thế nào? O nghe tôi giảng khi nào?
            - Tôi có ra trường đâu mà được nghe thầy giảng?
            - Thế o nghe các em nó nói à?
            - Hòa gợi, trong thâm tâm không phải không muốn chờ nghe một dư luận tốt về công việc giảng dạy của mình.
            - Không.
            - Cô gái đáp liền, cắt ngang cái hào hứng vừa chớm nẩy của anh giáo viên trẻ:
            - Tôi nghe các em nó học thôi. Bọn nó học thơ ông Tố Hữu, nó bảo là thầy Hòa dạy. Thơ hay thì thầy giảng cũng phải hay chớ!
            Đôi khi bà mẹ nhìn Hòa với con mắt là lạ, như muốn nói điều gì mà không tiện nói, bà mong chờ anh đề xướng trước cái việc ấy ra. Một hôm bà bưng đĩa khoai lên mời anh, rồi đứng xa xẩn vịn tay vào cột, bà hỏi:
            - Ở đây đã lâu mà chưa thấy thầy về thăm nhà, hè?
            - Đầu học kỳ, còn bận bịu lắm mẹ ạ. Với lại lán trường, mới dọn đến cũng phải tổ chức lại, thằng Mỹ nó gây cho mình cũng lắm cái chuyện phiền phức ra trò.  
            - Đường thầy về nhà cũng qua gần chỗ huyện thì phải.
            - Gần lắm mẹ ạ.
            - Bữa nào thầy có về, cho tôi gởi cái gói con con. Tôi có bà mự cũng ở ngay chỗ huyện, bà cứ nhắn lên nhởi, đem cho bà ít hạt cải giống... Bữa nào con Lựu có đi huyện thì rồi cũng phải nhờ vả nơi bà. Chẳng rõ Lựu có việc gì mà phải lên huyện, lại giữa lúc bom đạn này. Mắt anh chợt bắt gặp cái nhìn đượm vẻ cầu mong của bà mẹ. Đột nhiên anh hiểu ra.
            - Dạ.
            - Anh vội nói:
            - Có gì mẹ cứ gửi, cháu sẽ chuyển tận tay. Nhân tiện cháu cũng ghé chỗ bệnh viện thăm người anh họ một chút. Mắt bà mẹ ánh lên tia sáng, rồi mi mắt lại cụp ngay xuống, bà nở một nụ cười không ra vui cũng không ra buồn. Vừa qua nhân câu chuyện gì đó, Hòa có nhắc tới một ông anh họ hiện làm bác sĩ ở bệnh viện huyện, vốn học về khoa mắt. Hình như anh cũng có hứa để rồi có dịp sẽ nhờ khám hộ cho Lựu, may ra... Lúc hứa, anh nghĩ đấy là chuyện về lâu về dài, ít ra cũng phải chờ cho qua cái đận tàu bay tàu bò này đã, đường ạy lúc này nguy hiểm, bệnh viện lại đang phải tập trung cứu chữa những người bị thương. Chứng bệnh của Lựu thì đã thành cố tật, có chữa cũng phải công phu lắm.
            - O Lựu cho xem thử con mắt hiện giờ ra sao nào, để tôi còn báo cáo với bác sĩ. Tôi cũng kiêm tý y tá nửa mùa đây.
            - Anh chêm câu nói vui.
            - Con để thầy coi thử con.
            - Bà mẹ nhắc. Lúc bấy giờ Lựu đang ngồi tước lá muồng. Bà mẹ đưa hai tay ôm má con gái quay nghiêng ra phía ánh sáng chiếc cửa vách. Mi mắt Lựu chớp chớp, đầu phác một cử động như muốn cưỡng lại. Hòa đặt khẽ đầu ngón tay lên thái dương o, thử nhìn. Nhưng anh không thấy gì hết, làm sao anh còn nỡ nhìn, còn nỡ soi mói vào cái tàng tật của cô gái trẻ! Hai gốc lông mày o rung chuyển dữ dội, làn da dưới đó giật giật, như đỏ lên. Cả bà mẹ cũng vội buông tay, như thể bị cái hơi thở dồn của con gái phả lên da mình nóng bỏng. Nét mặt bà co rút, xúc động chẳng kém gì nét mặt người con gái. Hòa tự trách, sao tự dưng lại nẩy ý tò mò tai hại làm vậy.
            - Cũng có thể... cũng có thể là... khoa học bây giờ chắc người ta chữa được.
            - Anh nói hấp tấp, tâm trí vẫn đang bị xoáy trong ý nghĩ: sỗ sàng, mình thật sỗ sàng quá thể! Không gì có thể biện minh được! Luôn hai hôm sau, anh không sang nhà Lựu. Anh muốn để cho chuyện đó phai nhòa dần đi đã. Vả chăng anh cũng mắc bận thật sự: anh phải đi gặp một số phụ huánh học Sinh, nhân thể tìm một địa điểm dự bị cho nhà trường, vì cái chỗ vừa dọn đến xem ra cũng chưa ổn lắm. Chiều hôm ấy, anh về muộn. Trời đã tối hồi lâu, và trong lúc anh về gần đến nhà, một mảnh trăng chênh như chiếc miệng cười bỗng lấp ló sau rặng thông và bạch đàn phía đồi xa. Anh bước chậm lại một chút. Những lo nghĩ bận rộn, trong ánh trăng mờ ảo, tự dưng như mất đi rất nhiều cái sức trĩu nặng. Cảm thấy đầu ngực nhẹ nhõm, anh hít thở một hơi dài. Bấy giờ anh mới nhận ra, bao nhiêu hương vị ban đêm đã cùng dậy lên một lúc, như do cái ánh biếc ẩm ướt kia khơi động, mùi thơm hoa gì đang đậu quả hay chỉ là của những loài cây cỏ không tuổi không tên, anh cũng chẳng còn để ý phân biệt. Giữa lúc đó, anh thoáng thấy bóng Lựu đi về phía mình.
            Làm sao từ xa anh đã tin chắc đó là Lựu? Người con gái đi đâu một mình giờ này trong ngõ vắng? Quả là Lựu, không sai, bóng trăng lọt qua kẽ lá đập loang lổ lên mặt và vai cô gái, nước da o vốn trắng lúc này càng trắng xanh lên kỳ lạ, y như màu men tượng sứ. Bước chân o vừa chập chững lần đường vừa có dáng vội vội. Hai bàn tay mở hờ, giơ giơ trước bụng dò tìm lối. Mình có nên lên tiếng không?
            - Hòa phân vân tự hỏi. O ta cần đi đâu, anh sẽ sẵn sàng đưa đi. Nhưng lại phải xem o có cần sự giúp đỡ của anh không đã chứ. Nhanh nhẩu quá, khéo lại gây cho o điều ngỡ ngàng bối rối... Bây giờ anh đã nghe được cả hơi thở dồn của Lựu, dấu hiệu cố gắng của bước đi dò dẫm. Gương mặt cô gái khẽ ngước, càng sáng bóng lên, vầng trán phẳng đượm một vẻ chú tâm kỳ lạ chưa bao giờ thấy, có chút gì như mê mải nữa, hai gò má trắng trẻo dường như cũng ửng chút màu hồng. Mặc dầu bước chân quờ quông, tất cả dáng người cô gái hướng thẳng về phía trước, tới một cái đích nào đó rất rõ ràng, một nơi hẹn định sẵn. Tốt hơn hết là cứ làm như không gặp... Hòa nhè nhẹ rảo bước, vượt ngang qua, lặng lẽ.
            - Ai đó? Tiếng hỏi đột ngột của Lựu khiến anh bước chậm lại.
            - Phải thầy Hòa đó không?
            - Tôi đây.
            - Anh đáp, sau một chút ngập ngừng.
            - Chao ôi, thầy Hòa! Trong tiếng kêu cô gái thoáng một chút mừng rỡ.
            - O Lựu đi đâu khuya thế?
            - Khuya chi! Trăng mới lên đó thôi! Tôi đi... tôi đi ra... Hòa nghe một tiếng cười nhỏ rích trong cổ họng.
            - Thầy Hòa, thầy có bận chi không? Đưa tôi ra chỗ Dăm Phe một chút, được không thầy?
            - Ra đâu?
            - Dăm Phe, ngoài chỗ mương nước ấy mà.
            - Ra để ăn bom à!
            - Hòa kêu lên.
            - Tàu bay hắn về ngủ cả rồi.
            - Nhưng o ra ngoài ấy làm gì mới được chứ. Cụ mẹ mà biết thì...
            - Cha đang đi họp. Tôi trốn mẹ tôi đi đây.
            - Tiếng Lựu cười rúc rích, có một vẻ thích thú trẻ con.
            - Thầy về đừng mách mẹ, nghe! Thôi để tôi đi một chắc.
            - Được, nhưng lỡ có chuyện chi thì nhớ báo gấp để tôi còn ra cáng về!
            - Không lo, thiếu chi chị em ngoài ấy. Thầy không nghe thấy à?
            - Nghe thấy gì? Cô gái lặng im, như để anh tự nghe ngóng lấy. Đêm lặng vắng hoàn toàn, ánh trăng ngưng đọng giữa lưng chừng trời, im phắc. Bỗng Hòa sực nhớ, hồi trưa có tiếng một tốp thanh niên họp chớp nhoáng với nhau chỗ nhà trẻ, bàn kế hoạch tối đi tát nước, ừ đúng rồi, ngoài cánh đồng Dăm Phe, chỗ này vừa qua địch đánh nhiều trận, mương nông giang bị đứt. Lắng tai, quả có những âm thanh vẳng từ rất xa, từng mẩu, từng mẩu vụn, chẳng biết có thật thế không, hay chỉ do tưởng tượng cố tạo ra.
            - O Lựu cũng định ra chống hạn đấy à?
            - Tôi ra chơi coi thử... Họ có cho tát thì tôi tát, tôi cũng tát nước được, không thì tôi guồng. Lỡ máy bay đến thì sao, anh em sẽ thêm bận bịu vì Lựu. Nhưng Hòa không nỡ nói ý nghĩ ấy ra. Anh lặng ngắm gương mặt náo nức của cô gái, làn môi hé với nụ cười phảng phất. Lẽ nào lại can ngăn, khuyên o nên trở lại! Trong một thoáng anh nẩy ý muốn tự mình dẫn cô gái đi, nếu cần thì bảo vệ cho o. Nhưng như thế có điều không tiện.
            - O Lựu chờ đây tí nhá, tôi ra ngay. Anh bước nhanh, rẽ vào nhà một em học Sinh ở gần đó, gọi em ra sân, bảo:
            - Thầy nhờ em một việc. Cô Mai có hứa cho thầy mượn cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, em ra lấy hộ cho thầy. Nhân tiện o Lựu có việc ra Dăm Phe, em đưa o đi một chút, o đang đứng chỗ cây mưng nhà bà Tấn ấy. Lấy được sách em đưa về ngay cho thầy nhá. Chú bé gật đầu, phóng ra cổng trên đôi cẳng gà choai, có vẻ vui thích nữa vì được thầy chọn giao nhiệm vụ. Anh về nhà được một lát, vừa ăn xong bữa cơm để phần thì thấy em học Sinh trở về, trao cho anh cuốn sách. Còn thở phập phà phập phồng.
            - Chắc chú chàng đã chạy hoặc bước rất nhanh -em kể:
            - Ngoài Dăm Phe họ tát nước đông lắm thầy ạ. Họ đang đắp lại cả cái mương. Hòa không hỏi gì thêm, coi đó là một cách chú bé báo cáo đã đưa Lựu ra đến nơi đến chốn. Mệt, anh đi nghỉ sớm. Anh nằm quay đầu ra phía cửa sổ vách, ngắm nhìn ánh trăng suông dãi đầy vườn. Anh hình dung cảnh đồng đêm rộn rịp tấp nập, bóng người gánh đất chạy thoăn thoắt, ánh nước tuôn từ gầu tát lấp lóa trăng, những mảnh trăng lấp lóa một lúc nào đó mờ đi, ngưng đọng lại, kết thành một gương mặt bầu bầu, gương mặt của Lựu, trắng trẻo, hơi xanh bóng nữa tựa hồ như màu men tượng sứ, Lựu đang tỳ tay thong thả đạp guồng, ngước nhìn náo nức bằng một thứ thị giác bên trong, bằng tóc, bằng da, bằng cái hơi đêm thu mát tỏa ấp mơn man, bằng mọi âm thanh xôn xao, rầm rột. Điều kỳ lạ, máy bay địch đêm nay vắng hẳn. Lúc đầu hơi nơm nớp lo cho Lựu và đám thanh niên, về sau Hòa yên tâm hẳn, một thứ yên tâm không căn cứ, vì biết đâu trong phút chốc, cái thanh vắng xóm khuya lại chẳng bị những tiếng nổ bất thần xáo động lên tất cả. Nghe rõ cả tiếng quạt đập phành phạch, phía sân nhà Lựu. Chắc ông cụ đi họp về. Tiếng hai ông bà nói chuyện rì rầm, thỉnh thoảng ông cụ theo thói quen lại đập đập chiếc quạt to tướng do ông phiết lấy dày cộp vào cẳng chân xua muỗi. ông cụ nói một câu gì, chắc ông kể chuyện họp. Bà cụ đáp một câu ngắn.
            Lặng đi một lát khá lâu, rồi ông cụ lại lên tiếng, hai ông bà già cứ thế lúc chuyện trò lúc ngồi ngẫm nghĩ một cách yên lành, bụng hẳn yên trí là cô con gái út đã ngủ say trong buồng từ lâu. Khuya lắm, bóng cây cam đã thu tròn một vành quanh gốc, Hòa mới nghe có tiếng chân bước xào xạc phía bên chái nhà. Qua song cửa, anh thấy thoáng bóng Lựu đi vào cổng, có hai cô bạn ôm lưng khoác tay dìu hai bên. Cả ba đứng dừng lại một chút. Qua những cử động của đầu và vai nghiêng nghé, anh đoán các cô đang trò chuyện thì thào, kiểu như đang bàn tính một âm mưu gì thú vị. Lúc này ông cụ bà cụ đã đi nằm, nhưng không biết đã ngủ chưa. Lựu còn phải rất chú ý khẽ khàng, nếu không sẽ lộ chuyện mất. Hòa mỉm cười một mình, thoáng chút thích thú là mình cũng có dự phần ít nhiều vào cái âm mưu thầm vụng ấy. Rồi anh ngủ thiếp đi. Trưa hôm sau, nhận thấy bà mẹ sang xin lửa thổi cơm anh báo tin:
            - Có lẽ chủ nhật này cháu về nhà một tí. Còn như bận thì chủ nhật sau thế nào cháu cũng về. Cầm nùn rơm bốc khói trong tay, bà mẹ đứng dừng nhìn anh với cái vẻ nhìn cầu mong lặng lẽ mà anh đã quen thấy.
            - Để cháu sẽ ghé chỗ huyện hỏi qua ý kiến ông bác sĩ xem thế nào. Chợt nẩy thêm một ý, anh tiếp luôn:
            - Hay thế này. Tiện có xe đạp, cháu cho o Lựu lên cho ông ta trực tiếp khám, thế mà lại hơn. Được không mẹ? Bà mẹ cúi cúi mặt, ốp lại cái nùn rơm, đáp chậm rãi:
            - Được như rứa thì... Giọng bà tan lịm trong nỗi mừng tủi.
* * *
            Bà cụ lo lắng chuẩn bị cho Lựu đi bệnh viện huyện như cho một chuyến đi xa. Cũng phải thôi, lần đầu tiên cô gái ra quá cổng làng! Hòa lại cũng đã thỏa thuận với gia đình là nếu ý kiến bác sĩ bảo chữa được thì sẽ để Lựu ở lại luôn trên đó, bà cụ sẽ lên chăm sóc sau. Lúc cô gái sắp sửa ngồi lên xe đạp, Hòa ngạc nhiên thấy o ôm gọn trong tay một cái bọc vải nhựa cỡ chỉ bằng chiếc chăn chiên gập lại. Tất cả hành lý của o chỉ có thế thôi ư. Luôn mấy ngày thấy bà mẹ đi ra đi vào xếp xếp, gói gói, vẻ băn khoăn bận rộn, anh cứ tưởng chừng sẽ phải đa mang thêm cho Lựu một bọc đồ to nặng cồng kềnh lắm. Đường lên huyện dài hai mươi lăm cây số, anh phải đạp gần gấp rưỡi: có Lựu, anh cố tránh đường cái lớn, rẽ vòng chữ chi qua các xóm cho an toàn hơn. Tuy nhiên cũng bị một đận máy bay xẹt sát sạt đỉnh đầu. Anh chỉ kịp vứt xe, ẩy Lựu xuống một chiếc hầm tròn, anh cũng nhảy xuống chiếc hầm ngay cạnh. Để cô gái an tâm, chốc chốc anh lên tiếng, bảo ngồi yên, chắc là nó tìm đánh cầu, chiếc cầu này cách đến gần hai cây số. Đột nhiên có cái gì thúc mạnh vào một bên vai anh. Tưởng mình bị thương, anh đưa tay lên sờ, liền nắm phải một bàn tay run lẩy bẩy, lạnh buốt, bàn tay của Lựu! Người con gái đáng thương vừa bíu chặt lấy tay anh vừa giữ ý né mình về vách hầm phía sau. Hai đầu gối của Lựu tì ấn vào hông anh. Anh nghe một hơi thở dồn nóng như luồng lửa phả lên cổ, phía sau gáy. Vừa cố thu mình thêm một chút nhường chỗ, anh gắng tìm một vài câu pha trò, châm biếm cái nhâng nháo vô tích sự của thằng Mỹ, để cho Lựu đỡ sợ. Lúc anh dìu Lựu lên khỏi hầm, hai tay người con gái vẫn chưa hết run, cặp môi mấp máy, hai gò má tái nhợt.
            Suốt từ đó cho tới lúc đến bệnh viện, Lựu không nói một câu nào. Anh bác sĩ bà con của Hòa vừa mổ xong một ca thủng ruột vì bom bi. Còn thấy vẻ mệt nhọc của anh trên quầng mắt thâm và cặp môi luôn mím chặt, đến nỗi hai đường nhăn như hai vòng ngoặc ở quanh mép hằn sâu xuống như đã thành nếp. Tuy nhiên anh sẵn sàng khám ngay cho Lựu. Hòa lấy cớ đi xin tí thuốc đỏ để lánh đi: anh không muốn cô gái có cảm giác anh cũng đang nhìn vào mặt mình trong lúc bác sĩ đang làm việc. Một lát sau, anh bác sĩ xuống phòng dược tìm Hòa. Trông cặp môi vẫn mim mím của anh, Hòa đoán anh không có điều gì vui vẻ lắm để báo cho Hòa biết.
            - Mắt o bị hỏng từ lâu, màng đã thành sẹo rồi chú ạ.
            - Anh bác sĩ nói nhanh và khẽ chỉ vừa đủ nghe, theo một thói quen có lẽ đã nhiễm trong phòng mổ.
            - Có làm phẫu thuật cũng không há vọng có kết quả.
            - Không có tí há vọng nào nữa à anh?

            - Bất giác Hòa cũng khẽ giọng, như sợ Lựu nghe thấy.
            - Nếu cần thì...
            - Sao? Anh bảo sao? Giọng Hòa bỗng hồi hộp lên. Mắt anh lúc bấy giờ chắc có gì khác lạ lắm, khiến người bác sĩ chăm chắm nhìn anh với cái vành thâm quanh mắt và đường môi mim mím. Không hề chớp mắt, Hòa cũng nhìn thẳng lại bác sĩ, đương đầu với cái luồng mắt thăm dò của anh ta.
            - Tôi coi o ấy như em gái.
            - Hòa nói rành rọt, tuy vẫn khẽ giọng.
            - Anh giúp được gì cho o ấy, cũng như giúp cho chính tôi. Tôi biết lúc này các anh đang bận lắm...
            - Không phải bọn tôi muốn tránh bớt việc đâu! Lúc cần chúng tôi vẫn có thể làm liên tục mười mấy tiếng đồng hồ. Bàn với chú thế này: cứ để o ấy ở lại đây ít hôm, tôi theo dõi thêm đã nhá. Nhân tiện tôi cho người đi mượn thêm vài cái dụng cụ, tháng trước ở chỗ địa điểm cũ, nó bỏ bom, hỏng mất một số. Mới lại...
            - Người bác sĩ nói thêm, với một nụ cười buồn buồn.
            - Tôi cũng phải luyện tay chút đã, lâu nay toàn làm cái chuyện "đao to búa lớn", khéo tôi quên mất cái chuyên môn cũ rồi. Hòa ở lại suốt buổi trưa hôm ấy, thu xếp chỗ nghỉ cho Lựu, như một người anh thật sự. Anh dặn dò Lựu từng việc tỉ mỉ, lại lấy cớ giới thiệu Lựu với mấy chị y tá trong phòng để nấn ná thêm một chút. Cô gái mấy lần giục anh về.
            - Thầy cứ về đi, đường còn xa. Đừng lo chi cho tôi cả. ổn rồi đó. Có máy bay tôi cũng tự xuống hầm được, tôi thuộc lối rồi cũng không phải phiền đến các chị bệnh viện đâu.
            - Có thật không?
            - Tôi tập xuống thử rồi mà!
            - Lựu kêu lên bằng một giọng trẻ con, như sợ anh không tin mình.
            - Bệnh viện lúc ni bao nhiêu việc, lại còn phải gánh thêm tôi...
            - Không phải thế! Từ rày trở đi o Lựu không được nói thế nữa. Mi mắt cô gái chớp chớp. Gò má đỏ ửng lên, Lựu cúi mặt như người có lỗi. Hòa nhìn Lựu, lặng lẽ, anh vẫn chưa nỡ rời xa cô gái. Cán bộ nhân viên ở đây rất tận tụy, vừa đặt chân vào bệnh viện anh đã nhận thấy ngay điều ấy, Lựu chắc sẽ được săn sóc chu đáo như những bệnh nhân khác. Nhưng giờ đây anh trở thành người thân thích duy nhất của Lựu. Anh biết Lựu cố gắng làm ra dũng cảm để anh đỡ vương vấn băn khoăn.
            - Cũng có lẽ để chuộc lỗi nữa, lúc đi đường, sau trận máy bay xẹt qua, rõ ràng Lựu có vẻ hối và tự trách mình quá hốt hoảng. Nhưng anh rất hiểu cô gái. Bị rứt khỏi môi trường quen thuộc, kể ra Lựu cũng khó giữ được tự chủ.
            - Ở nhà, máy bay sạt trên đầu, Lựu cũng cứ thản nhiên như không, thong thả lần ra hầm của mình. Hơn nữa, Lựu đang giữa lúc há vọng, Lựu sợ cho cái há vọng ấy bỗng dưng bị cắt đứt tàn nhẫn, lúc này Lựu càng thiết tha với sự sống bao nhiêu!
            - Thầy đi qua chỗ huyện cũ, nhờ thầy tạt vô nhà bà mự mẹ tôi nhắn cho một tiếng, để bà biết tin. Hòa hiểu ý cô gái một lần nữa muốn giục anh về.
            - Tôi sẽ ghé ngay bây giờ. ý nghĩ Lựu có người bà con ở quanh đây khiến Hòa an tâm hơn. Lúc anh dắt xe ra, Lựu đòi đưa tiễn anh một đoạn. Quá cổng một chút, Hòa dừng lại, đến lượt anh bảo Lựu quay về. Cô gái đứng yên lặng giây lát, hơi nghiêng đầu vẻ như nghe ngóng xem có ai theo dõi mình không, rồi cất tiếng thì thầm với một vẻ bí mật dường như cố ý:
            - Thầy Hòa, thầy về được có hai ngày thôi à. Cô ở nhà sắp nằm nơi, phải không?
            - Sao o Lựu biết?
            - Tôi biết! Thầy cho tôi gửi lời thăm cô. Chúc cô đẻ đứa con gái.
            - Sao lại con gái?
            - Thầy thích con trai à?
            - Tôi thì...
            - Tôi lại thích con gái!
            - Lựu rúc rích cười trong cổ họng.
            - Thầy cho tôi gửi cái này về cho cô. Lựu rút trong túi ra một cái gói dẹt, bọc trong giấy báo, bằng cỡ chiếc khăn mùi-soa gập lại, trao cho Hòa, cũng hai tay nâng như khi o bưng cho Hòa bát nước.
            - Tôi xem được chứ? Lựu "dạ" một tiếng nhỏ, ngoảy cái đầu, như xấu hổ. Lúc đầu Hòa chưa nhận được ra ngay vật gì gói trong giấy: một mẩu vải xanh da trời, lại có đính đường diềm phơn phớt hồng. Anh mở phanh nó ra, đó là một chiếc mũ trẻ con bé xíu.
            - Tự o khâu đấy à?
            - Tôi khâu sao được! Xấu lắm à thầy! Tôi nhờ con bạn bên nhà trẻ nó làm cho đấy. Khi nào khỏi mắt, tôi sẽ học may, tôi may mũ, may áo cho con nít trong xóm, mấy thước vải Bác Hồ cho tôi cũng mang theo đây thầy ạ, may cho con nít mặc, mình được ngắm nó, vui hơn là mình mặc, phải không thầy? Hòa thấy nghẹn ắng trong cổ họng. Anh cầm lấy một bàn tay Lựu ấp tay kia của mình lên, ghé hôn nhẹ lên vầng trán phẳng và trắng trẻo của cô gái, rồi không nói không rằng, nhảy lên xe phóng vội.
* * *
            Một tuần sau, Hòa nhận được thư của người anh họ báo tin sắp sửa mổ mắt cho Lựu. Bà mẹ vội vàng đeo khăn gói lên bệnh viện để chăm sóc con gái. Lần này đến lượt ông cụ xa xẩn vào ra, quấn quýt, bận rộn, chuẩn bị cho bà cụ lên đường. Bà lên chỉ vừa kịp chôn cất cho con gái. Mấy thước vải Lựu mang theo, định may áo may mũ cho trẻ con hàng xóm, bà mẹ đem dùng để khâm liệm đứa con xấu số. Cái bọc đồ của Lựu vẫn còn nguyên vẹn cả. Lúc máy bay ập đến bắn phá, nhân viên bệnh viện trước tiên lo cứu chạy cho bệnh nhân nặng, Lựu và một cô gái khác đang bó bột cánh tay dìu nhau chạy, vừa đến cửa hầm thì bị một quả rốc-két nổ trúng, chết ngay. Về nhà kể lại, bà mẹ ngờ ngạc cả người, có lúc dường như bà không tin cái chuyện bà đang kể là chuyện đã xảy ra thật. Hòa không tìm lời an ủi bà, cũng như trước đây anh không muốn tìm lời an ủi Lựu mỗi khi cô gái chợt buồn phiền. Đêm anh nằm lặng, trân trân, óc hầu như không suy nghĩ. Một lúc nào đó tưởng chừng anh ngủ thiếp được một chút, không phải, nỗi đau xót đã khiến anh lịm đi đó thôi. Đột nhiên anh giật mình thức giấc, trống ngực đánh thình thình. Phía vườn sau trăng khuya dãi vằng vặc, sáng lạnh. Anh nhớ tới cái đêm nào, nằm bên cửa sổ vách này, nghiêng tai lắng nghe bằng tưởng tượng tiếng guồng nước của cô gái mù. Tim anh nhói lên. Một nỗi căm phẫn, không phải cháy hực, mà rất sâu, rất thấm thía, quặn trong anh. "Em như chiếc lá, lá đã lìa cành, rụng xuống mất rồi.
            - Anh thầm thì với Lựu.
            - Chiếc lá ấy chưa bao giờ chịu đành phận làm một chiếc lá thui chột hoặc tàn úa, dính lỏng lẻo trên cành. Em muốn góp phần chuyển chút nhựa làm nên hoa trái của cuộc đời. Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một há vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ".
1969
(Trích từ tập truyện Chuyện làng - Bùi Hiển)

Chuyện làng - Bùi Hiển

Chuyện làng
Bùi Hiển

            Người ta ai chẳng có cái tự hào ít nhiều về làng quê của mình. Gì chứ cái ấy thì thật muôn màu muôn vẻ. Tôi kể một chuyện làm ví dụ:
            - Chính tôi được chứng kiến, dạo bọn tôi đi lao động xây dựng vườn trường. Lúc bấy giờ là buổi trưa, trời nắng chang chang, xong công việc chúng tôi rẽ vào cái giếng bát giác đầu làng rửa chân tay. Hai chú cán bộ có vẻ đi đường xa đang dừng xe đạp nghỉ dưới bóng cây gạo bên đường cái. Thấy chúng tôi đi ra, một chú hỏi, chắc chỉ để làm quen hoặc là cho có chuyện:
            - Giếng mát không hở các em? ừ, có thế thôi, chắc chú cũng chỉ hỏi bâng quơ cho có chuyện. Vừa lúc bác Thẻo vác cày đi qua. Nghe hỏi thế, bác rịt trâu, dừng phắt, ưỡn nghiêng ngực, vênh vênh cái cằm hàm, bác trả lời thay chúng tôi, giọng rõ ràng có chút rấm rẳn, cứ như bác cho là câu hỏi có phần xúc phạm đến tiếng tốt của làng:
            - Mát không à? Hề hề, đồng chí cứ cởi áo, cởi áo, giội một gàu coi thử! Nẩy bật trốốc! Đến tiếng "trốốc", bác gần như quát lớn. Hai chú cán bộ vẫn ngơ ngác, chưa hiểu. Chúng tôi giảng: trốốc, là như ta nói cái đầu. Tức thì cả hai cười phá lên:
            - Ại thôi thôi! Thế thì phải giữ "trốốc" mà đi cái đã! Xe các chú phóng đã xa, còn nghe tiếng cười. Chúng tôi chẳng lạ tính bác Thẻo. Cái gì cũng phải cường điệu lên một chút. Tính khí lại hơi ngẳng ngẳng. Có lúc đâm nóng nảy, châm chọc lung tung. Như cái lần đánh xe bò chở thóc nghĩa vụ, gặp một chiếc com-măng-ca đi vào làng, bác phải nhảy xuống loay hoay níu càng xe để cho ô tô lách qua, ô tô vừa qua xong, bác nghển dài cổ nhìn với theo, đánh luôn một câu rõ to, rõ nhanh như một tràng liên thanh:
            - Ại cha là-cha-là-cha-là-cha-là-cha! Rành quan! Về sau mới biết, đó là đoàn cán bộ nông nghiệp tỉnh, cùng đi, có một nhóm Sinh viên thực tập từ Hà Nội vào. Các chú ở lại suốt cả vụ, cùng ăn cùng làm với bà con xã viên, cũng lội xuống ruộng, cũng bừa cũng cấy, có chú Sinh viên dúi cây mạ xuống bùn cứ thoăn thoắt thoăn thoắt xem ra còn ngon tay hơn cả chị Lan là người đã được đi dự thao diễn cấy trên tỉnh. Gặt hái và tổng kết xong, các chú mới lên xe ra về. Bà con đưa tiễn đông lắm. Có mẹ còn khóc sụt sịt nữa cơ chứ. Các chú đã góp phần không nhỏ vào vụ lúa "lịch sử" hai tấn sáu đầu tiên của xã tôi.
            - Từ đó chúng tôi được đà tiến lên mãi, hai tấn bảy, ba tấn rồi ba tấn hai!
            - Tạo niềm phấn khởi và tự hào, mối tự hào chân chính cho cả xã. Nhân nói con số, tôi kể luôn chuyện này kẻo quên. Xã tôi có cánh đồng năm tấn, ruộng cao sản sáu tấn, lại có điển hình "ông Bảy Hầm". Chuyện "ông Bảy Hầm" tôi nghe từ hồi học lớp bốn cơ. Buồn cười chết đi được. Hồi đó Giôn-xơn bắt đầu đánh phá trong tỉnh. Khiếp, máy bay cứ bừa ngang bừa dọc, có lúc rất láo, sà thấp đến mức như muốn cào tung cả mái nhà người ta lên. Có một ông sợ quá, Toàn là quan! đào luôn ba cái hầm, ngồi hầm nào cũng thấy không ổn, ông lò dò đi tìm những góc thật kín, thật vắng, đào liền liền thêm mấy cái nữa. Đến cái hầm thứ sáu, ông mới vừa lòng. Này nhé: xa nhà, xa xóm, xa đường, bên trên có bụi tre rùm ròa che kín mít, đất chỗ đó lại âm ẩm, phủ một làn rêu mốc, tanh tưởi một tý nhưng tiếng nó không vang, nhỡ ông có bật ho thằng tàu bay nó cũng chả nghe thấy. Có lần ông ngồi thử ho và bảo thằng cháu đứng cạnh miệng hầm ba thước, ba thước thôi, xem có nghe thấy không. Không nghe. Yên chí nhé. ông ăn ngủ luôn ở đó. Bất đồ, một lần anh con trai ông là cán bộ tỉnh về phép, đem theo một anh bạn. Nhà giết gà làm xôi đãi. Anh con ra mời ông lên cùng ăn cho vui. ông không lên. Anh đành quay về. Anh bạn vốn lịch sự bèn tìm đến chỗ hầm, mời lượt nữa, hoặc ít ra để chào ông một tiếng. Nhác thấy bóng anh này ló xuống, ông trợn tròn con mắt: "Thôi chết cha!
            - Ông nghĩ bụng.
            - Cái thằng ni vừa chân ướt chân ráo đến, đã chộp ngay ra hầm của mình. Nữa huống chi thằng tàu bay cứ dạo đi dạo lại!". Thế là tất tả bò lên, tìm đào hầm mới. Cái hầm thứ bảy! Sau này lớn lên, bọn học Sinh chúng tôi có chia nhau đi tìm hiểu xem "ông Bảy Hầm" là ông nào. Hỏi mãi không ra. Hỏi đi hỏi lại, quả không có. Hì, có thế chứ. Chúng tôi vui vẻ kết luận: đó chỉ là chuyện vui, người ta bịa để châm biếm khuyên răn những anh nào hay hốt hoảng, sợ địch. Danh dự của xã thế là vẫn vẹn toàn. Bảo rằng dân xã tôi gan góc số một thì tôi không dám chắc. Nhưng dễ cũng chẳng thua kém chi ai nhiều. Bắn máy bay, đi dân công hỏa tuyến hàng bảy tám tháng, xung phong gặt bên bom nổ chậm, có cả. Tuyển quân bao giờ cũng dôi người. Lại ví dụ chuyện làm đường. Xã vừa bắt tay đánh một con đường trục, rộng sáu thước, thì máy bay bắt đầu đánh phá vào vùng tôi. ái chà chà, gay rồi đây. Tụi trinh sát xoẹt xoẹt suốt đêm ngày. Ban đêm chúng chụp ảnh lia lịa, cứ lập lòe, sáng lựng. Nghe nói nó họa đồ bằng ảnh đất nước mình chi lá từng cen-ti-mét một cơ mà. Đường mới, chỗ đỏ lòm, chỗ vàng rộm. Lại đi xuyên qua các xóm. Thế thì có khác gì vạch đường cho nó đánh vào thôn xóm, vào nhà dân. Ngay ông huyện cũng lo thay, nêu vấn đề: hay tạm hoãn cái đã? Không! Dân xã chúng tôi đáp. Cứ mần mạnh! Việc nó nó làm, việc mình mình lo. Con đường này vừa là trục giao thông, vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Trì hoãn thì trì hoãn đến bao giờ. Cứ tiếp tục đắp. Đắp đến đâu ngụy trang đến đấy, nào nè, nào lá, nào tranh, nào cỏ tấp kỹ vào. Các cụ thì bứng cây rạ trồng. Có đoạn, con đường chạy qua một cái hói nước. Làm đoạn đất bùn nhão này thật hết sức vất vả. Lại phải xây hai ống cống. Rốc-két cứ xỉa xuống quanh vùng, chả là gần đây có cái đập nông giang nhỏ. Tập trung đông dễ lộ. Sau đó ai nghĩ ra cách ngụy trang che mắt địch thật đơn giản: bùn! Trát đầy người, hòa mình vào với bùn đen, với đất. Người nào người nấy mặt cứ như mặt ông tướng tuồng. Cũng có cái oai phong riêng. Bây giờ mỗi lúc đạp xe vo vo đến trường thẳng một mạch, chúng tôi lại nhớ ơn các anh, các bác, các cụ. Hợp tác xã mua phân hóa học, thuê luôn một chuyến xe tải trở về, ô tô bon trên đường trục, đỗ xịch, xã viên dỡ các bao bì chuyển đi mươi bước là đã ra đến ruộng. Hiện đại ghê. Người chủ trì việc đánh con đường này là ông Quyền, chủ nhiệm hợp tác xã, bố cậu Định, bạn cùng lớp với tôi. Có một ông bố như thế, kể cũng thích. ông là "linh hồn" của hợp tác xã. Không nói xã viên, bọn chúng tôi đang tuổi lớn, biết suy xét ít nhiều, đều thấy quý yêu ông. Thoạt nom dáng người đã thấy đầy vẻ xốc vác. Hai vai ông vồng lên chắc nịch, lưng rộng, mắt có hơi nhỏ so với khuôn mặt vuông chữ điền nhưng sáng, sắc.
            - Dường như không phải mắt ông nhỏ mà ông luôn luôn nheo lại để nhìn được thật xa -, bước đi không vội, càng không phải là tất tả, mà bậm, chắc, bước nào ra bước nấy. Nom ông hơi lầm lì nghiêm nghiêm, ngược hẳn với hình ảnh cán bộ xã mà sách báo thường mô tả là: xuề xòa, hồn hậu, vui tính, vân vân... ấy thế mà ông làm rất được việc, lại được bà con vì nể. Các chú nhà báo về xã, thường hay hỏi ông có phải là bộ đội phục viên không. Đúng là ở ông có một cái gì phảng phất tác phong quân sự. Hồi đầu chiến tranh phá hoại ông làm xã đội hay thôn đội gì đó, tôi quên chưa hỏi kỹ. ông là một tay phá bom cừ. Mày mò dần, thành kinh nghiệm, chứ cũng chẳng học được ai nhiều, thằng Mỹ lại là một thằng thâm hiểm và linh hoạt, nó cứ thay đổi luôn các kiểu giết người. ông đã mấy lần hút chết. Có chuyện này vui vui, do thằng Định con ông kể lại: Sáng hôm đó đi học về, Định thấy cha đang ngồi chồm hỗm giữa nhà, trước một đống những chạc thừng và những dây nhựa xanh xanh đỏ đỏ, có lẽ là dây điện. Mặt cha đăm chiêu:
            - Cũng vẫn cái vẻ mặt thường hay có, nhưng hôm nay lầm lì hơn. Cha bỗng gọi:
            - Định, lại đây con. Định đến gần. Cha ngồi lên chõng, bảo Định ngồi cạnh. Cha hỏi:
            - Mẹ mi đi mô rồi? Làm sao Định biết được. Chính cha ở nhà còn không biết nữa là.
            - Khéo mẹ sang bà ngoại, cha ạ. Bữa trước bà nhắn sang lấy ít khoai xắt về mà ăn.
            - Sao mi không đi lấy cho mẹ. ờ, thôi được... Lúc mô mẹ mi về, nhủ mẹ là... Mà thôi... Lâu ni mi học hành ra sao con? lạ, giọng cha sao khác khác. Mà xưa nay bận việc xã, có bao giờ cha hỏi han đến việc học hành của Định đâu!
            - Gắng lên con ạ. Học cho nên người. Học mà mần việc xã hội cho tốt. Cha không được học nhiều, giừ mó vô công việc chi, phải tính toán một chút là thấy khó khăn lúng túng, rất chi khổ. Gắng con nghe! Thật chưa bao giờ cha nói với Định một câu dài như thế, giọng lại như dặn dò, tâm sự. Cha xoa đầu Định:
            - Làm như Định còn bé lắm! Cha ra vườn hái hai quả cam, bóc một quả, bảo Định ăn, rồi ngồi nhìn Định ăn. Xong lại bóc quả khác đưa cho Định. Đột nhiên cha cúi vơ mớ dây nhợ, đứng dậy. Cha đặt tay lên vai Định:
            - Cha đi có việc một thí, chiều cha về. Mẹ mi có về thì nói là... ờ, mà thôi. Cha lại đặt mớ dây xuống, tìm tìm cái gì ở hai túi quần. Không thấy. Cha sờ vào túi áo trên, rút ra cả một tệp giấy tờ gập tư gập tám, giở giở, lấy ra mấy tờ bạc giắt trong đó.
            - Đây còn... năm, sáu, bảy đồng, cho con mà trả tiền học. Còn từng mô gửi mẹ, nhớ không, cần chi thì xin dần. Cha đi đây. Cái giọng dịu dàng bất thường của cha khiến Định hơi hồi hộp, sờ sợ. Sau này vẫn nhớ mãi, không thể quên, từ giọng nói, đến bàn tay to vuốt xoa mái tóc Định, đến cái luồng mắt chiếu thẳng vừa dịu dàng vừa đăm chiêu. Hóa ra lần ấy ông Quyền xung phong đi phá thủy lôi. Đã có một chú dân quân mầy mò bị nó nổ tan mất xác. Nghĩ mình cũng có thể há Sinh, cho nên ông mới dặn dò con trai tỉ mẩn đến như vậy, có lúc cứ như lời trăn trối. Lần này đến lượt ông, phá được, nhưng ông bị sức ép ngất đi. ông nằm bệnh viện ba ngày, bỗng dưng ngồi bật dậy. ông đã tìm ra nguyên nhân vì sao chưa bảo đảm được an toàn, xin đi phá nữa, "để thử lại bài tính". Sau đó ông còn tìm cách phá được nhiều loại bom khác nhau, và dạy lại cho các chú khác. Đó, mấy nét về lai lịch ông chủ nhiệm chúng tôi. ừ, chắc hẳn thế, tôi nghĩ rằng cũng chính cái nết kiên cường ấy, cái tinh thần bền bỉ ấy và cả cái tình yêu thương kín đáo ấy về sau đã giúp ông điều khiển tốt mọi công việc của hợp tác xã.
            Vụ chiêm vừa rồi, hợp tác có đội đạt ba tấn hai. Các đội khác cũng ngót nghét ba tấn. Mừng ơi là mừng! Ngay lúc lúa còn ngoài đồng, nom cũng đã sướng con mắt. Tốt bời bời, bông ken nhau từng từng lớp lớp. Dưới cơn gió nam nồm, cả cánh đồng nổi từng lượn sóng lừng lững như sóng lừng ngoài khơi xa. Lúa gặt về, người ta rải từng nhả dày cộm lội ngập đầu gối để trục cho chóng. Bác Thẻo, trước khi bắt tay vào trục, ôm nhau vật huỳnh huỵch với anh Hậu đội trưởng trên sân lúa. Bác khỏe nhưng vô mưu, bị anh Hậu quật ngã lăn chiêng mấy keo liền. Đứng phắt dậy, kêu: "Nỏ đau! Nỏ đau! m lắm! m như nằm nệm bông!". Lại thách vật nữa. Bác nói: "Hầy, sang năm phải mần một mũi tám tấn cho biết tay!". Lại bốc rồi. Tôi thấy các chú các bác làm, tôi biết. Chẳng phải ngon xơi đâu. Đánh vật với thiên nhiên để dôi thêm vài hạt thóc, khó lắm, gay lắm. Nhưng có điều này, tôi nghe nhiều người nói: trước kia cứ nghe nói nước này nước nọ làm sáu tấn/héc-ta thì cười mũi cho là "nói láp", giờ thấy chuyện bình thường. Toàn hợp tác đang phấn đấu để đưa năng suất đồng đều lên sáu tấn. Tôi cho thế cũng là khá nhanh. Nghe lỏm các ông quản trị gẫu chuyện: trước có mấy ông cũng to to về đây điều tra nghiên cứu hàng tuần, rồi kết luận, ở đây phải đi dần từng bước, trước tiên trồng màu thật nhiều, có màu mới có lợn, có lợn mới có lúa. Nghe hợp lý lắm. Nhưng huyện có chủ trương khác. Làm theo kế hoạch của ông huyện, hợp tác chúng tôi đã cố gắng tự tạo mọi điều kiện để đẩy mạnh khâu lúa. ông Quyền đã tổng kết vấn đề này, hay lắm, quả là một cuộc tính toán sít sao và một cuộc tấn công ào ạt về nhiều mặt, có lắm cái gian nan phức tạp, tôi nhớ không xuể, mà kể lõm bõm thì mất cả hay. Chỉ nhớ nhất cái câu kết luận này, vì nó có hình ảnh ngồ ngộ: "Trong điều kiện đồng đất của ta, giừ ta phải đẩy cho con vịt đi nhanh". Con vịt lạch bạch mà lại đi nhanh! Vui thật. ông lại thêm: "Có lúa, có vịt rồi, phải nhanh chóng đẩy con lợn". Lợn thì quả chúng tôi còn kém. Còn vịt, ôi chà chà, mời các bạn đến đồng làng chúng tôi xem thử. Cứ từng chặng từng chặng lại nghe càm cạp càm cạp ầm ỹ cả lên. Chốc chốc xen lẫn tiếng hát thánh thót vẳng từ trong lều vịt, giọng Tường Vi, Bích Liên hẳn hoi nhé: các bác chăn vịt đua nhau tậu đài nghe cho đỡ buồn. Mấy trăm bạc.
            - Giá ba bốn tạ thóc bán ngoài nghĩa vụ.
            - Chẳng đến nỗi khó kiếm. Chăn nuôi gia đình cũng khá. Như anh Phiên bên hàng xóm, anh thả một đàn vịt, chăn hai lợn nái, bảy gà mái mạ. Ba đứa con anh dạo này phởn phơ ghê. Tiêu chuẩn sáng ngủ dậy mỗi đứa một quả trứng luộc, xế trưa, một quả nữa. Thằng Hải lớn nhất, vừa thức giấc mắt nhắm mắt mở bóc chén ngay. Thằng Tần còn bé tí đã tỏ ra biết dè dụm, cầm chơi chưa nỡ ăn, rồi cất vào cái túi trên, cộm cả ngực. Con Thủy, áo không có túi, cầm quả trứng gặm chơi rồi... lận vào lưng quần.
            Hải ta lé mắt nhìn. Có hôm, đang thòm thèm, nó gạ xin thật sự. Con Thủy, quả như người ta nói về cái đức há Sinh ngàn thủa của người phụ nữ Việt Nam, liền lận lưng quần, cầm quả. trứng chìa cho anh, mắt cười lóng la lóng lánh, thật đẹp. Lứa thiếu niên chúng tôi dạo này đỡ đần bố mẹ làm mọi công việc hợp tác hăng ra trò.ănno đầy đủ mà. Lại cũng do cái đà phấn khởi chung nữa chứ. Con trai con gái đi học về, thấy mẹ còn ngoài đồng, liền vứt sách chạy ra nhổ giúp mẹ ít đon mạ, gánh hộ về. Dạo gặt, cứ người lớn đi trước, con nít theo sau. Mỗi đứa cầm con dao bài cắt những bông lúa sót. Cũng là mót đấy, nhưng mót cho hợp tác, không ai tơ hào lấy một hạt. Gặt như thế nhanh hơn. Đội khoán việc cho từng xã viên cứ từng đợt năm ngày một. Gắng cần cù, đi sớm về muộn, thêm có con cái giúp tay, làm xong trong bốn ngày chẳng hạn thì được thưởng luôn công ngày thứ năm. Mang phiếu đến để đội trưởng hoặc đội phó ký vào chứng nhận, rồi nhận phần việc mới. Công việc hợp tác vậy là cũng sớm hơn được một ngày. Lợi cả đôi bên. Tôi con trai một, cha mẹ có ý cưng, không muốn tôi phải lao động nhiều. Có hôm tôi đi chơi nhà thằng bạn về, thoáng thấy bóng mẹ đang cày ở cánh Thầu Đâu. Chết thật, trưa trật ra rồi, nắng như đổ lửa, mẹ vẫn làm cố! Tôi chạy đến gọi. Mẹ cười, bảo cứ về trước đi. Tôi không chịu. Tôi đòi đi thay ít đường.
            - Cha đã tập cho tôi cày võ vẽ. Mẹ mắng: "Mi thì mần được cái trò chi mà cứ mần ra cái bộ! Cày lỏi họ phạt chỉ ê cái mặt tau. Về đi! Chết nắng mất con ơi!". Mẹ nói lạ. Mẹ đang sì sụp dưới ruộng bùn thì lại không nắng chắc? Tôi vớ lấy cái cuốc, cuốc góc. Tay tôi bổ lia lịa, như để chứng tỏ cho mẹ thấy tôi cũng sức vóc lắm chớ. Mẹ nhìn tôi, bật cười: "Mần chi mà cứ như tế sao! Rứa thì được mấy hơi, con nà!". Quả thật, mặt tôi đã thấy phừng phừng, lưng ướt đẫm. Vừa cuốc, tôi vừa nhìn dõi đường cày của mẹ. Con bò đã thở hi ha hi hóp. Nhất là những lúc nó phải leo lên bờ để quay trốc vát, tôi thấy chân trước nó khuỵu khuỵu, con ngươi đen trôi hẳn vào trong khóe mắt, còn toàn lòng trắng căng lồi, thật thương. Còn mẹ, ờ, cừ thật đấy, mẹ cứ thung dung như không, lưng vẫn thẳng, bước chân đều đều trong bùn nước phì phọp, tay cày lật lật nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng mẹ chuồi chân đạp vào mô đất bùn vừa xới cho nó nhuyễn thêm ra. Nhìn lưng áo mẹ, thấy chỉ thâm thẫm dăm ba chấm nhỏ mồ hôi, tài thế! Rồi bỗng cha tôi cũng xuất hiện. Cha bên tổ mộc về, ghé xem xem có cần đỡ tay cho mẹ không. Mẹ bảo thôi để mẹ cày cho luôn tay, sắp xong rồi. Cha liền đi kiếm đâu chiếc rựa, phát bờ, chốc chốc lại nghiêng đầu ngắm xem đã gọn mắt chưa. Lát sau, mẹ lên bờ nghỉ. Cha tháo ách, vác cày dắt bò về trước. Tôi đứng dưới bóng cây ngô đồng cạnh mẹ, cầm cái nón của mẹ quạt quạt. Tôi cố ý xoay người để quạt mát sang cho mẹ. Lòng tôi lúc ấy rộn lên, cứ muốn quạt thật nhanh, thật mạnh để mẹ được mát nhiều. Nhưng lại sợ mẹ cười, rồi mẹ lại chế cho. Về đến nhà, cơm nước đã sẵn cả. Con em kế tôi, mười hai tuổi đã đảm lắm, biết lo liệu mọi việc vặt trong nhà, có lúc nó còn mắng tôi là nhác, quần áo thay ra cứ vứt quấy quá không chịu giặt ngay. (Được cái nói xong nó liền ôm đi giặt hộ). Bữa cơm có tôm kho, trứng rán, có canh rau ngót. Nhưng mẹ tôi lại vội vã đi nấu thêm bát canh đậu xanh "húp cho mát ruột". Tôi vốn không thú cái món này. Nhưng hôm đó quả thấy ngon. Tôi vừa ăn vừa nhìn cha, nhìn mẹ, nhìn em. Canh đậu xanh chan cơm ăn đến đâu thấy mát mẻ nở nang đến đó. Sáng và chiều, ngày hai buổi dóng dả lên hồi kẻng gọi xã viên ra đồng. Nhưng kẻng chỉ để làm vì thế thôi. Lúc ấy phần lớn đã đi từ lâu. Đường cứ vắng tanh vắng ngắt. Nhà cũng vắng. Nhìn qua bờ dậu, thấy nhà nào nhà nấy cửa mở toang hoác. Bàn ghế, giường, chõng, chiếc võng tre, bàn thờ, phía trên bàn thờ là đôi câu đối tết màu đỏ màu vàng, mọi thứ cứ bày trơ ra đấy lặng ngắt. Không có bóng người. Chú ý, mới thấy vài đứa bé tí chơi tha thẩn trong sân trong vườn. Khắp các đội, các xóm, đều thế. Nhịp điệu lao động khẩn trương thật đấy. Cứ như có một cái gì ào ạt ào ạt cuốn đi. Nói cho đúng, cũng có một số người kêu ca. Tôi nghe cũng hơi buồn lòng, phân vân. Như ả Tuất ở đội tôi, ả phàn nàn là làm mệt, nhược cả người. ả kêu nhất "ông đội", tức là anh Hậu đội trưởng, mà ả cho là nghiệt, riết róng. ả gọi anh là "ông Quyền con" (ý ám chỉ luôn cả ông kia là "ông Quyền cha")! Anh Hậu đội tôi kể cũng có nghiệt thật. Trường hợp cấy dối, để cây mạ ngả nghiêng hoặc quãng cách không đúng tiêu chuẩn, anh rút ở túi ra một sợi dây đo đo rồi bắt nhổ lên cấy lại. Đi thăm đồng, thấy các bác các mẹ đang cày bừa, anh dừng lại gẫu chuyện: nghe nói các cụ xưa đi bừa, nhìn xuống chân xem cái bùn nó có còn bấu vào lông chân không, còn bấu còn bừa, kỳ cho nó thành nước! Thế là mọi người hiểu. "ông Quyền con" đã nói vậy, chớ có hòng lơ mơ làm ẩu làm dối với ông ấy. Hôm đến chơi nhà thằng Biền em chị Hoàn đội phó tôi nghe anh tranh cãi rất găng ngay trong ban đội. Lúc ấy đang bàn về chỉ tiêu khoán việc. Anh đòi khoán thật sít sao, cân nhắc cho thật công bằng, "không để có kẽ hở". Bàn đã gần ngã ngũ, tới một khâu nào đấy chưa hợp lý, anh đòi soát lại cả mấy khâu trên. Đến chị Hoàn cũng phải bực mình! Anh cười xuề xòa:
            - Thôi gắng, gắng! Tí nữa là xong thôi mà. Phải tính toán cho rạch ròi, cho công bằng hợp lý dựa trên cơ sở lao động thì bà con yên tâm mần ăn. ông Quyền nói rồi đó. Mình làm phân minh, nghiêm ngặt, anh tiền tiến nó phấn khởi. Tiền tiến phấn khởi thì nó kéo cả đoàn tàu đi...             Chuyện người lớn, chuyện hợp tác có những cái sâu xa phức tạp tôi chưa thể nghĩ thấu, nhưng tôi cứ mang máng như anh Hậu nói đúng. Lấy ví dụ gia đình tôi thôi. Cha mẹ đều có vẻ yên chí, thoải mái. Tối tối, cơm xong, cha nằm trên võng tre đung đưa, mẹ ngồi sàng gSo hoặc chơi với con em nhỏ. Cha mẹ trao đổi với nhau vài chuyện trong ngày rồi ngủ sớm lấy sức cho công việc ngày mai. Mới chín giờ tối cả nhà đã yên ắng. Chỉ còn tôi thức với ngọn đèn con, học bài, đọc sách. Cũng đôi khi tôi ngồi nghĩ lan man. Tôi nhớ chị Hà. Xã chúng tôi có những khu đồng với những tên nôm na, cổ cổ: Eo Bạc, Cồn Tró, Thầu Đâu, Bầu Loa, Kênh Gáo; lại có một cánh đồng lớn, thuộc đội tôi, mang tên cô gái Phan Thị Hà. Chị đến với chúng tôi một buổi chiều, lao động giúp hợp tác chúng tôi một tối, rồi gần sáng sớm, chị lặng lẽ ra đi...
            Tôi còn nhớ rõ dáng người chị: thon mảnh mà nở nang (năm ấy chị mười tám tuổi, vừa tốt nghiệp cấp 3), nước da trắng, môi hồng, tóc mái dài vắt cong lên như một dấu hỏi lộn ngược, trên má vài nốt tàn nhang. Chị đến trong đoàn thanh niên xung kích của huyện, giúp xã chúng tôi chống úng ở một cánh đồng định cấy đại trà giống lúa mới. Tôi thuộc trong đám thiếu niên khăn quàng đỏ ra đón. Chị âu yếm vuốt má tôi, đặt tay lên vai tôi (hồi ấy tôi bé loắt choắt, chưa cao ngồng như hai ba năm nay). Trông chị thật tươi đẹp. Chị cười nói nhiều, chắc tính chị vốn sôi nổi, cũng có thể là vì hào hứng với chuyến đi giúp sức ở vùng xung yếu này. Mỗi khi chị cười, mấy nốt tàn nhang lặn đi trên gò má đỏ ửng. Chị vừa chuyện trò với các bạn vừa giữ tôi ngồi sát bên. Không hiểu sao, tôi cứ chú ý mãi đến cái vòng tóc mai uốn cong như dấu hỏi lộn ngược, cứ như thể trong đó có một điều bí ẩn hoặc kỳ lạ. Hình ảnh tôi còn giữ về chị là như thế. Sau đó, đoàn của chị tiến ra đồng. Tôi nhớ, lúc ấy tốp thiếu nhi chúng tôi còn chạy theo một đoạn (trước khi bị người lớn ngăn lại, đề phòng máy bay). Tôi chạy tới nắm tay chị Hà. Chị tươi cười cúi xuống áp sát má vào trán tôi, cái vòng tóc mai mềm mại mơn man trên mi mắt khiến tôi buồn buồn. Rồi chị rảo bước cho kịp đoàn. Đêm đó, tôi ngủ say giấc ngủ trẻ nhỏ, không nghe tiếng nổ. Vả lại bom bi nó chỉ nổ tràng dài lụp bụp, không vang. Sáng dậy bỗng nghe tin chị Hà đã chết. Tôi tái mặt, đứng sững sờ cứ y như một người lớn tuổi. (Hình như cũng từ ngày hôm đó tôi bước sang một tuổi khác). Cũng như người lớn, tôi biết nén đau không cho bật thành tiếng khóc. Trí óc còn non nớt của tôi vừa choáng váng vừa bị kích thích kỳ lạ. Chị Hà! Tôi kêu thầm trong bụng, nhớ tiếc chị như nhớ tiếc một người thân thích. Lạ thật nhỉ, trước đây chị không hề biết chúng tôi. Cũng như chưa ai từng quen biết chị. Chị đến giúp chúng tôi xây dựng làng quê.
            - Coi như chính quê mình. Chị góp một tiếng cười, một tấm lòng sôi nổi, một bàn tay lao động quên mình, rồi chị lặng lẽ và nhẹ nhàng từ biệt tất cả, đi tiếp đến nơi xa nào không rõ. Sau này tôi dần hiểu ra rằng người ta, những con người tốt, có thể mở rộng lòng mình, cuộc sống đời mình ra cho tới vô cùng vô tận. Trên cánh đồng Phan Thị Hà, đã nhiều mùa lúa đi qua. Đôi lúc bước trên bờ thửa, tôi bất chợt thấy mình như đang nhìn bằng đôi mắt của chị Hà, tươi lóng lánh. Chị không chết, chị còn sống mãi, bởi chị biết sống một cuộc sống rộng lớn, vì mọi người. Dường như chị cũng đang vui về những sự vươn mạnh của quê hương tôi.
- Có phần thắm đỏ của chị góp trong đó. Chị ngã xuống, đó là sự không may, nhưng đôi khi tôi thoáng ý nghĩ thật lạ lùng, mà cũng thật nao nức, thấy vinh dự cho cánh đồng quê mình vì có sự hy sinh ngời ngợi, lặng êm của chị...
1972