Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giả Bình Ao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giả Bình Ao. Hiển thị tất cả bài đăng
11/3/12

Táo chua - Giả Bình Ao

Táo chua
Giả Bình Ao

            Thân nhộng hoá bướm, hạt giống nên cây, còn chúng ta, cả một đời cứ thế làm nên chuyển hoá của tự thân.
            24 năm trước, trong một xóm núi nhỏ trên cao nguyên Hoàng Thổ, tôi có gặp một thiếu nữ, trông cô rất xinh, lại có giọng hát trong ngần, cô đã thôi học do gia cảnh bần hàn, đang đi hát rong theo một người mù chơi đàn Tam Huyền Cầm. Tôi có ghi lại tên tuổi và địa chỉ cô gái, và sau khi về tới thành phố thì đem tiến cử với một đơn vị biểu diễn nghệ thuật. ý nghĩ việc tiến cử này không hòng mong sau này cô ta trở nên tài năng gì lớn, tôi chỉ thấy tiêng tiếc cho một đoá hoa rồi sẽ lại tự nở tự tàn héo giữa chốn hẻm núi hoang vu. Hơn 20 năm đã qua đi, trên sàn diễn các thành phố phương nam một ca sĩ đang nổi như cồn, hình ảnh cô đều đều xuất hiện trên màn hình, trên mặt báo, tôi không biết rằng cô ta chính là người tôi từng tiến cử, bởi cô đã đổi một cái tên khác, và hình ảnh óng ánh lụa là của cô cũng khó để tôi liên tưởng đến dáng dấp cô bé thôn nữ xóm núi. Đến lúc đột nhiên cô hiện ra trước cửa nhà tôi cùng với một người đàn ông, và nói đến câu chuyện năm xưa, tôi đã chúc mừng cho cô. Chuyện cô được người ta đón vào thành phố ra sao, nhận vào đơn vị biểu diễn như thế nào, và rồi lại đi tới các thành phố miền duyên hải phương nam thế nào, được đánh bóng, được một đại gia giàu sụ cưới làm vợ thế nào, rồi thì xe hơi xịn và biệt thự ra sao, cô đã kể lướt qua tôi nghe, tôi không có hỏi han gì chi tiết trong câu chuyện, nhưng lại cứ thấy hiện ra trong đầu cái xóm núi nhỏ trên cao nguyên Hoàng Thổ ấy, bên rìa xóm nhỏ có con sông Hoa Đào, các bé gái trong thôn đều chân chất xinh đẹp, ở bờ đất đầu xóm các bụi cây táo chua mọc khắp, mùa thu đến, những quả táo chín đỏ cứ như sao sa.
            Cái hôm ca sĩ đến thăm tôi là ngày mồng 2 tháng 4, vừa lúc tôi đang bắt tay vào viết nháp cho đề cương một cuốn tiểu thuyết.

Chuyện của lão Mộc - Giả Bình Ao

Chuyện của lão Mộc
Giả Bình Ao

            Dạo phố dạo đến trước cửa một quán ăn chuyên bán sủi cảo, tôi đã nghe được câu chuyện về ông chủ của cái quán ăn này, rằng cái quán sủi cảo này vốn là cửa hiệu nhỏ, trong có mấy năm làm ăn phất lên, đã mở mang xây thành cao lâu ba tầng, thế là tâm tư của ông chủ cũng lớn lên, nghĩ rằng thời nay cái gì cũng chú trọng đến văn hoá, thì ta cũng phải mần cái gì đấy về thứ sủi cảo này chứ. Thế là bỏ ra hai mươi vạn đồng, nhờ vả mời cho được một nhóm các chuyên gia học giả trong nước đến để hội thảo nghiên cứu về sủi cảo. Nhóm chuyên gia học giả này hội họp những bẩy ngày, cái kết luận được hình thành là sủi cảo khởi nguồn từ sự sùng bái đối với giới tính, hình trạng của bánh cảo đã diễn biến từ việc mô phỏng bộ máy sinh dục nữ giới, kết quả hội thảo được trình lên ông chủ quán, ông ta nói: Tôi bỏ ra hai mươi vạn là để các anh minh chứng rằng tôi là thằng bán… hả?!
            Người kể chuyện là Lão Mộc, Lão còn đang muốn kể tiếp thì một viên cảnh sát trợn mắt tiến đến. “Nộp ngay con dao ra!” viên cảnh sát nói. Trong túi xách Lão Mộc đúng là đang có một con dao, chuôi dao rất dài lòi cả ra ngoài túi. Thế là con dao bị cảnh sát thu giữ. Lão Mộc ngây ra chẳng hiểu ra sao: Tại sao lại tịch thu dao? Cảnh sát nói: “Mang dao ra đường có tình nghi cướp giật!” Thế là Lão Mộc phẫn nộ: “Thế thì tôi còn mang theo cả bộ máy sinh dục nữa, cũng có tình nghi hiếp dâm hả?!”
            Cuối cùng thì con dao cũng đã không bị tịch thu. Tôi nói với Lão Mộc: “Câu chuyện bữa nay tôi cũng phải kể cho người khác nghe đấy, sủi cảo có văn hoá ẩm thực, con dao có văn hoá trị an, con người văn hoá như ông cũng phải có văn hoá của người văn hoá chứ!”.

Vườn hạch đào - Giả Bình Ao

Vườn hạch đào
Giả Bình Ao
Lê Bầu dịch

            Ông La Lục Tử, phó bí thư một công xã ở Thượng Châu. Năm 58 tuổi, đầu tóc, râu ria đều trắng xóa, lại thêm chiếc chân này ngắn hơn chiếc chân kia rất nhiều, lưng không thẳng lên được, nên trông càng hom hem. Con gái là thợ làm đầu, đã từng nhuộm tóc cho ông một lần, kết quả lại càng thêm thảm hại: Trên cùng một cái đầu, tóc ở bên trên thì đen, râu ria ở bên dưới lại trắng, nên cứ hai ngày phải cạo râu một lần. Do da cằm nhũn nhão, nên cạo mặt thường bị phạm, chảy máu nhiều chỗ, nên người ta thường nói khích ông:
            - Bí thư La, ông định tự tử hay sao thế? Tự tử mà cũng không tìm được đúng chỗ sao?
            La Lục Tử đáp:
            - Tôi muốn tự tử á? Chuyện ấy khó gì?
            La Lục Tử nói thế, cũng chằng phải ông nói tầm bậy cho xong chuyện, thực ra ông từng đã có ý định tự tử rồi đấy song đó là chuyện của nhiều năm về trước. Về sau ông lại cảm thấy hổ thẹn: Tự mình kết thúc cuộc đời mình, đâu phải là trách nhiệm của con người; một sợi thùng, một miệng giếng, hoặc vài chục viên thuốc ngủ, rồi mê mẩn đi... thế là, không còn phái là La Lục Tử nữa rồi.
            Từ đấy ông không còn đi nhuộm tóc nữa. Năm năm mươi chín tuổi, ông về hưu non. Con gái, con rể đều làm cho nhà nước, có lòng tốt muốn đón ông lên huyện ở cùng, nhưng ông không tán thành, mà ông nhất quyết trở lại bình nguyên Quan Trung quê cũ.
            Đất hoàng thổ chôn vùi bố, thì dù có làm hồn núi, cũng vẫn thấy yên tâm hơn.
            Con gái, con rể nói:
            - Bố đã từng làm việc ở vùng sơn địa ba chục năm, núi ở đây, nước ở đây và không khí ở đây không hơn vùng bình nguyên đó sao?
            Ông thở dài:
            - Cái chân của bố...
            Lý do duy nhất và cuối cùng của ông là cái chân què. ở vùng sơn địa, sự “dãi ngộ” đối với những người tàn phế, và những quan chức là thế này: Họ chỉ gọi họ mà không bao giờ gọi tên. La Lục Tử lại rơi vào cảhai trường hợp ấy ở trụ sở công xã, ở trên bàn hội nghị, trước mặt ông, họ gọi ông là “La bí thư”, nhưng trong xóm ngõ, trong bếp núc, sau lưng ông mọi người gọi ông là “La Què”, nhất là trên con đường cái quan trái nhựa thẳng tấp, và hai bên đường là những hàng dương cao vút, ông từ xa đi tới, bước thước tư, bước thước bẩy (ba thước ăn một mét. ND) mọi người chế diễu ông là đôi chân không nhất trí, và ông chê mặt đường trải lệch.
            Năm năm mươi tuổi, ông bị què chân. Tám chín năm trở lại đây, cái chân què ấy có đặc dị công năng: Cứ mỗi khi trời u ám đồ mưa, cái chân lại đau, và mỗi khi đau là y như trời đổ mưa, u ám, chính xác chẳng khác gì nhũng máy móc tinh vi. Về sau, cũng không còn chính xác lắm nữa. Bác sĩ bảo rằng nó đã trở thành bệnh tâm lý, nói đau là đau liền, nói không đau là không đau ngay tắp lự, cứ như người giả vờ ốm vậy. Khí hậu ở vùng sơn địa thay đổi thất thường, ông lo rằng cứ đau như thế và kéo dài mãi, ông đến chết mất.
            Ba mươi năm... mới đấy mà đã ba mươi năm rồi... ông thích xòe nhũng ngón tay, nhớ lại những năm tháng của mình.
            - Lẽ nào mà sau ba mươi năm, bố lại kéo lê cái tập tễnh ấy về quê?
            Con gái, con rề ông nói thế, khiến ông im không nói gì.
            Nhưng khi còn lại một mình trong nhà, ông lại thêm một lần nữa nhất quyết trở về bình nguyên Quan Trung quê cũ.
            Tính nết ông ương bướng, bản thân ông cũng biết rõ điều đó, nhưng không sao thay đổi đi được. Khi bà lão còn sống, thường hay ngăn cản ông, mỗi khi họp hành, ông phải báo cáo, bao giờ bà lão cũng ngồi ngay ở hàng ghế đầu, khi thấy ông hơi hơi nổi nóng lên, nói năng đã bắt đầu quá lời, bà liền đưa mắt cho ông. Ông xem chiếu bóng, phim Lâm Tắc Từ, ông rất tâm đắc với bức hoành mang hai chữ Nén Giận (Chế Nộ) treo ở trong phòng Lâm Đại Nhân, và trong một thời gian dài, ông đã từng gọi bà lão là bà Nén Giận”.
            Đến nay bà lão đã mất, tính nết ông không còn bị gò bó, kiếm soát nữa, cái quyết tâm trở ở lại bình nguyên quê cũ không còn ai có thể lay chuyển được nữa, ông bắt tay vào việc thu xếp hành trang.
            Đồ đạc trong nhà ông ít ỏi đến thảm hạỉ. Ba mươi năm trước ông còn là một chàng trai tơ, từ Quan Trung lên vùng sơn địa Thương Châu, làm anh liên lạc trong ủy Ban huyện. Ngày ấy công văn giấy tờ không nhiều, lại chẳng phải dậy sớm hàng ngày để lấy nước sẵn cho ông Huyện Trưởng rứa ráy, hoặc phải quét dọn gì, mà chỉ có mỗi một việc là Huyện Trưởng sai chạy giấy xuống các xã bằng ngựa, ông chỉ việc lo ăn lo uống cho chú ngựa là xong.
            Về sau ông làm nhân viên bán hàng, rối cán sự công xã, thậm chí còn gánh vác cả công việc của hội Phụ Nữ khi ấy cán bộ nữ còn rất ít - ông đã làm chủ nhiệm hội Phụ Nữ. Cũng trong thòi kỳ ấy ông có làm quen được với một cô gái người địa phương, và từ đó cô trở thành vợ ông.
            Thời ấy người ta không ưa việc mua sắm đồ đạc gia đình, mãi về sau này mới có cái mốt mua sắm thêm “mấy chục cái chân” (ý nói chân bàn chân ghế, chân giường, ND) nhưng thói quen của ông không thay đổi được nữa, vì thế, trong nhà ông bây giờ, chỉ có hai chiếc hòm con con mối mọt, và chỉ trong một buổi tối ông đã thu xếp xong mọi thứ hành trang. Ông đi đến mộ vợ ông lần cuối để từ biệt bà lão, ông ngồi trước mộ bà rất lâu, sau đó ông đến vái mấy vái trước hai nấm mộ cha mẹ mình đặt phía sau ngôi mộ vợ ông.
            Nhưng cô con gái và cậu con rể kiên quyết không cho ông ra đi, họ đem hai chiếc hòm nát giấu về nhà ở trên huyện.
            Trong thời gian còn chưa ra đi được, ông sống một mình trong một gian phòng tập thể của công xã. Mỗi khi hoàng hôn buông xuống, ông thường thích một mình ra ngồi trên một mỏm núi trước trụ sở công xã. Mỏm núi rất dốc, bên dưới là một dòng sông. Dòng sông bao quanh một khối đá tròn to như thế, nên con sóng, trước sau chỉ đập vào một nơi, không đồi thay sắc thái, lúc nào cũng chỉ là một mầu trắng, không giống tuyết, cũng không giống hoa, mà nó giống như những giải giấy trắng nhỏ, dài, vo thành từng mớ, từng mớ. Không khí vùng sơn địa thật trong lành, ngồi ngắm nhìn sự đổi thay của bóng mây, đáng núi; lắng nghe tiếng âm nhạc của sóng sông gặm vào vách núi, vậy mà lòng ông rối loạn, mà chẳng tìm cho ra được đầu nào, mối nào, những lúc như thế ông thường lần trong túi, lấy ra hai hạt hạch đào, vo vo trong tay khiến chúng vang lên những tiếng lách cách, lách cách nho nhỏ.
            Hai hột hạch đào không to, đầy những nếp nhăn dọc ngang xoắn xuýt, và ông quý mến nó, coi nó như một thứ bảo bối của mình, đi đâu ông cũng mang theo nó trong người, và khi không có việc gì, ông lại lấy nó ra vò vò trong tay, làm cho nó vang lên những tiếng lách cách, lách cách. Mồ hôi trong tay làm cho hai hột hạch đào bóng lộn lên, và đổi thành màu nâu sẫm, đến độ trông chúng chăng còn có vẻ là hột hạch đào nữa.
            Buổi chiều có một cô gái mới chừng hơn mười ba tuổi, đến bên móm núi. Cô đi chăn dê, cô đã lấy một cái thùng thật dài buộc con dê vào thân cây, để cô có thể chơi bời một mình ở đó. Và cô bé nhìn ông chằm chằm.
            Ông hỏi:
            - Cháu là con nhà ai thế?
            Cháu là con nhà ai thế? ông cảm thấy cô bé thật đáng yêu.
            Cô bé đáp:
            - Cháu là con của mẹ cháu!
            Ông cũng nói:
            - Bác cũng là con của mẹ bác.
            Từ đó một già một trẻ thành bạn với nhau, và trong rất nhiều ngày họ trò chuyện với nhau ở đây. Ông cảm thấy trong người ông nguôi ngoai đi được thật nhiều. Có một lần cô bé cầm lấy mấy hột hạch dào của ông, hỏi ông đấy là cái gì? ông trả lời cô bé. Cô bé bèn cất tiếng lanh lảnh kêu lên:
            - Bé tý tẹo thế này mà đã già rồi!
            - Già ư?
            - Mặt nhăn nheo hết cả, giống như mặt bác ấy.
            Ông bật cười, gần như bị sặc.
            Cô bé lại hỏi hột hạch đào này có ăn được không? Ông bảo, có thể ăn được. Cô bé lại hỏi, nó làm bằng gì. Ông bảo cô bé biết, nó mọc ở trên cây, có thể lấy đem trồng, rồi nó sẽ mọc thành một cây thật lớn, thật to, và một cây có thể mọc ra hàng ngàn hàng vạn cái quả.
            Kết quả là hôm sau, cô bé đã lấy trộm của ông những hột hạch đào ấy đi, cô đem chôn nó xuống một ụ đất, lấy đá vây quanh thành một cái ổ. Mấy hôm sau cô lại đào hột hạch đào lên, chạy đi hỏi La Lục Tử:
            - Làm sao nó không mọc thành cây?
            - Con đã đem nó đi trồng đấy ư?
            Nó chết rồi!
            Ông trầm lặng ngắm nhìn cô bé, nghĩ ngợi trong lòng: Đúng là nó chết rồi. Nhưng ông chẳng nói điều đó ra, và sau khi cầm lại hai hột hạch đào, ông ốm luôn một trận.
            Sau khi khỏi ốm, ông đi thẳng lên huyện thêm một lần nữa, và đòi các con phải để cho mình trở về bình nguyên Nam Trung quê cũ. Cái tính ương bướng của ông lại nổ bùng ra, lời lẽ vô cùng cứng nhắc. Đầu tiên cậu con rể còn khuyên giải ông cuối cùng cũng chẳng giữ được nữa, anh bảo ông không nên về hưu non, rồi lại bảo ý chí cách mạng của ông bị sút giảm, đã làm việc, công tác ở vùng sơn địa đến ba chục năm, mà vẫn chẳng có chút tình cảm nào với vùng sơn địa cả. Lời lẽ ấy đâm thẳng vào trái tim ông, ông dằn mạnh cốc nước, giận dữ mắng con:
            - Mày lên lớp tao đấy phải không? Ba mươi năm trước, khi mày còn là thằng oắt con, ngồi trên đùi bố, tao đã đến nơi này rồi đấy! Khi ấy, đây còn là rừng thiêng nước độc, làm sao tao không bỏ mà về? Tao đã quyết sống chết với mảnh đất này, dem bán hết cả nhà cửa nơi quê cũ đi, không giữ lại một hòn ngói, tao đã cắt đứt con đường trở lại mày biết không? Tao đã đem cả hài cốt cha mẹ tao chuyển đến noi này, vậy mà tao không yêu mến vùng sơn địa này sao? Cái chân tao... cái chân tao...
            Ông không nói thêm được nữa, và ông lại lấy tay chà sát hai hột hạch đào vang lên những tiếng lách cách lách cách nho nhỏ.
            Chàng rể về nói với vợ, cô con gái La Lục Tử nói cho chồng biết:
            - Chức vụ cao nhất trong cả một đời bố là bí thư khu ủy (l) đó là khu Thanh Du miền cực tây của huyện.
            Năm đó ông hô hào mọi người trồng hạch đào, và ông đã liên hệ dem được một số lớn cây giống từ nơi khác về, rồi lại đích thân đi mời cán bộ kỹ thuật về hướng dẫn nhân dân cách thức trồng trọt chăm bón, quyết tâm biến cái vùng đất núi hoang vu ấy thành vườn hạch đào. Ông ngồi đứng không yên, lặn lội hết nơi này đến nơi khác, giải thích tuyên truyền, bàn bạc quy định để thực hiện việc trồng cây. Ông động viên không nên trồng cao lương ở nhũng mảnh đất bạc màu trên đỉnh núi nữa... Kết quả là, trong một đêm, khi đi ngang qua con đường đá ở bờ ông,
mắt ông bị hoa lên, rồi bước hụt chân...
            Từ đấy ông phải mang trên mình một chiếc chân què. Nhưng ở cái vùng sơn địa ấy, từ xưa đến nay chưa bao giờ có cây hạch đào, chưa bao giờ được trông thấy, nhìn thấy và cũng chưa bao giờ trồng nó, nên nông dân không chịu tin ông, tập quán xưa nay của họ là gieo hạt trên những mảnh đất hoang, mỗi năm thu hoạch một vụ với cung cách cứ phải đi mười bước chân mới thấy được một cây cao lương.
            - Con người là phải sống bằng ngũ cốc. Cái cây này có ăn được không? Có uống được không?
            - Nó có thể kết thành trái hạch đào. Đó là loại cây rung ra tiền đấy!
            - Năm nay có ra được tiền không?
            - Đồ mắt chuột chỉ nhìn được mấy tấc đường!
            Ông càng cương quyết, bướng bỉnh hơn, yêu cầu mỗi công xã đều phải có vườn hạch đào, có nơi không làm ông bèn gọi cán bộ tới, lớn tiếng toát cho những trận nên thân.
            Từng khoang từng khoảnh đất hoang trên đỉnh núi, đều được trồng hết hạch đào, một năm chẳng có thu hoạch gì, hai năm chưa nhìn thấy lợi ích của nó ở đâu...
            Những lá đơn kiện cáo tôi tấp bay lên huyện ủy, địa ủy, tỉnh ủy:
            Cây hạch đào cái quái cái quỷ gì? Có cây hạch người, cây hao tài tốn của thì có!
            Thế là La Lục Tử - ông bí thư khu ủy - bị đồ cái rụp, trong tiếng than vãn, phàn nàn, trách móc của quần chúng.
            Ông được điều tới công xã Núi Trắng (Bạch Sơn) heo hút giư chức vụ phó bí thư công xã.
            Ông thất bại, ông rời khỏi khuôn viên khu ủy, ông chẳng có tý gì, vẫn chỉ là một bó chăn chiếu, một chiếc bát sắt trắng men, một chiếc đèn pin, và hai cái hột hạch đào. Ông vừa đi vừa khóc.
            Chín năm nay, ông không một lần trở lại Khu Thanh Du ấy nữa.
            Chàng rể lúc ấy mới hiểu được tâm can của bố vợ, thấy ân hận vì đã không thấu hiểu hết được tấm lòng ông, anh lần xuống công xã xin lỗi ông.
            Nhưng ngay từ sáng sớm ngày hôm đó, La Lục Tử đã lặng lẽ ra đi.
            Khi bước chân lên xe, không có bất cứ mọt người nào vẫy chào ông, duy chỉ có một người bạn cô bé chăn dê đến tiễn biệt ông. Ông cúi hôn cô bé thật nồng nhiệt, rồi lên xe. Tấm kính mỏng manh trên cửa sổ xe đã ngăn cách ông với cô bé con, đã ngăn cách ông với những dặng núi xanh xanh, và với con sông đầy nước trắng xóa.
            Một lớp kính mỏng manh, đã khiến cho vùng sơn địa, ông đã làm việc ba chục năm, trở thành một bức tranh, trở thành làm việc ba chục năm, trở thành một bức tranh, trở thành một ảo ảnh mỹ lệ.
            Xe ô tô chạy, hướng ra phía bên ngoài núi. Xe chạy qua khu Thanh Du. Ông nhắm tịt mắt lại, nhưng rồi cũng không thể không mở mắt ra để thoáng nhìn. Cái vùng đất ấy đã khiến ông ngã ngứa người, đã khiến trái tim nồng cháy của ông lụi tắt.
            Ông đã từng nguyền rủa mảnh đất ấy, và cũng đã từng định rằng ông sẽ bắt đầu bò dậy từ chính mảnh đất mà ông đã ngã xuống để làm lại từ đầu, nhưng ông đã già mất rồi, tâm có thừa mà lực lại không đủ, bây giờ, bỗng nhiên ông lại đi ngang qua mảnh đất này, và còn đang mang trên mình một vết nhục mà đi.
            Thôi, thôi, hãy cứ để cho họ muôn đời nguyền rủa ta thôi!
Từng ngọn núi lùi dần, lùi dần về phía sau xe, nhưng trên đỉnh núi càng ngày hiện ra nhiều những bóng đáng màu xanh, đó là những vạt rừng, nhưng nó là thứ cây gì mới được chú?
            Ông lại lôi ra hai hột hạch đào, vò vò nó trong tay cho vang lên những tiếng lách cách lách cách nho nhỏ.
            Một người đàn bà ngồi bên cạnh hỏi ông:
            - Ông có phải là người ở vùng Thanh Du này không?
            Ông chẳng biết trả lời sao, và cảm thấy chiếc chân què của mình đau nhức nhối.
            - Hạch đào của các ông bao nhiêu tiền một cân?
            - Hạch đào? Của chúng tôi... ?
            Ôi! Vậy thì ra, ở trên đỉnh núi kia, những cây hạch đào đã mọc thành rừng! Đã chín năm rồi, chắc chắn hạch đào đã phải cho quả. Điều đó lẽ nào lại là một sự thực được sao? Cái cây hạch đào cho quả, quả nó ra làm sao nhỉ?
            Ông đề nghị bác tài xế cho dùng xe, bảo ràng ông bị đau bụng đi ngoài. Bước xuống xe, vẫn sông ấy núi ấy, và chỉ trong nháy mắt, những ảo tưởng bị ngăn cách bởi tấm kính mỏng manh của chiếc ô tô đã trở thành hiện thực. Ông lớn tiếng nói với bác tài:
            - Cứ cho xe chạy đi, tôi xuống xe ở đây thôi!
            Ông đi về phía dốc núi, ông bất chợt thất vọng... Nếu như đấy không phải là rừng hạch đào? Rồi nhớ lại gặp mặt một người quen nào đó thì sao? Làm sao có thể chịu dựng nổi những ánh mắt đầy giận dữ kia? ông cứ bước từng bước tậm toại, vòng qua một hẻm núi, và thật bất ngờ, trước mặt ông lại hiện ra một con đường cái quan, vòng vèo uốn lượn, quanh co, rồi vượt lên một đỉnh núi, và ông chợt a lên một tiếng: Phía trước mặt xa xa, quả nhiên là một vườn hạch đào cực lớn!
            Những cây hạch đào rậm rạp, lá đã đổ vàng, nhưng còn chưa rụng hết, và núc nỉu những quả hạch đào. Ông không nhìn thấy cuối vườn đằng kia, ông chỉ nhìn thấy trong nơi sâu nhất một ngồi lều cỏ mà hai mái của nó úp sụp xuống đất thành một hình tam giác. Sương sớm tán mạn, giăng mắc đó đây, và biến thành màu lam khi tụ lại trên đỉnh những ngọn cây của cả rừng cây.
            Ông nghe thấy từ phía đó, tiếng những cày sào tre dập quá rào rào và tiếng quả rụng bồm bộp, và có cả tiếng một người nói to:
            - Mảnh vườn này chia cho nhà anh rồi hử?
            - Chứ sao!
            Đây là Vương chuyên viên chuyên ngành, thân chinh đến thăm vườn hạch đào của anh đấy.
            - Ô! Thật vinh dự, rất hoan nghênh, xin mời các vị nếm thủ hạch đào đi.
            - Vườn này, năm nay mới cho quả không?
            - Dạ vâng, thưa đồng chí chuyên viên, năm nay nó mới cho quả!
            - Một cây có thể thu hoạch được bao nhiêu?
            - Dự tính khoảnh độ năm, sáu trăm cân (l)
            - Ối chao, thật đúng là cây rung ra tiền! Vưòn này được trồng từ năm nào vậy?
            - Tám, chín năm rồi!
            - Tám chín năm mới thấy được hiệu quả, điều này có lẽ cần phải thông báo cho toàn địa khu biết, ở đây nó đã được trồng ra như thế nào?
            - Dạ thưa, câu chuyện dài dòng lắm, đây là do cái ông bí thư La Què năm đó bắt chúng tôi trồng, khi trồng xong hạch đào thì ông bì đổ, nghe nói là bị phê bình, giáng chức, và bị điều đến một nơi xa tít mù tắp nào đấy rồi.
            - Ôi chao!
            - Khổ nỗi, chuyện lại do chính chúng tôi kiện cáo ông, vì lúc đó mọi người cứ
tưởng rằng thế là hao tài tốn của.

            Bây giờ chúng tôi được ăn quả, còn ông ấy thì chẳng biết lưu lạc tận phương trời nào, và cũng chẳng biết còn sống hay đã chết mất rồi?
            La Lục Tứ đứng ở đó, trong lòng như muốn gào lên: Tôi đang ở đây! Tôi đang ở đây! Nhưng ông lại câm lặng, đứng chôn chân ở đó, và nước mắt chảy dài.
            Nghe tiếng nói của người chủ vườn, ông không nhận ra được đó là tiếng nói của ai, cũng có thể ông chưa hề quen biết người này. Ông không nhận ra được người chủ vườn, ấy mà người chủ vườn lại gọi ông là La Què!
            Tiếng người chủ vườn từ phía đó lại vang lên:
            - Nhận biết được một con người thật khó.
            Ông ngồi phệt xuống đó, người ông nhũn nhão chừng như không còn được một chút sức lực nào nữa. Chín năm nay, tại sao ông không nghe được một lời nào như thế?
            Tại sao ông lại không cố mò mẫn tới đây lấy một lần? Tròn chặn chín năm nay ông phải vác trên vai cái tội danh muôn người nguyền rủa, vạn người chứi bới, nếu như được nghe lấy một lời như thế, liệu ông có bị suy sụp già đi một cách nhanh chóng như thế nào không?
            Liệu ông có phải về hưu non để trở lại bình nguyên Quan Trung quê cũ. Lời nói đó ông đã phải chờ đợi trọn vẹn chín năm dài. ông hiểu ra rằng, một chân lý, một đạo lý, một sự kiện, một con người, muốn có được sự công nhận chân chính, cần phải qua kháo nghiệm, song sự khảo nghiệm lại phải cần tới thời gian, có thể là một tháng, một năm, hoặc tám, chín năm, và cũng có thể là cả một đời người dầng dặc! Cuối cùng thì mảnh đất này đã được trải qua khảo nghiệm.
            Ta cũng đã đựợc khảo nghiệm. Ông ân hận một cách thực lòng, ân hận vì tính nết của mình cùng với tác phong mệnh lệnh thời đó.
            Đồng thời, ông cũng cảm thấy xấu hồ, ngượng ngùng vì chín năm qua ông đã nguyền rủa, oán trách mánh đất này.
            Những giọt nước mắt âm thầm của ông rơi lã chã.
            - Sao ông khóc?
            La Lục Tứ ngẩng đầu lên, đứng trước mặt ông là một cậu con trai, mồ hôi mồ kê nhễ nhoại, gánh một gánh hạch đào, vừa mới từ phía sau vườn đi tới.
            Cậu bé lấy ngón tay quệt quệt lên má mình chế diễu ông.
            Ông hỏi:
            - Hạch đào này có bán không?
            - Tất nhiên là bán chứ ạ!.
            Ông đứng lên, rút ra năm đồng bạc, mua một túi xách.
            Cậu bé nhìn ông, đột nhiên nói:
            - Ông lấy đi, cháu chẳng lấy tiền của ông làm gì.
            - Tại sao vậy?
            - Ông là người què mà.
            - Què quặt? Thế là chiếu cố người tàn tật phải không?
            - Không, người lớn ở đây nói rằng: Tất cả hạch đào ở đây là do ông La Què bảo trồng, ông được lạm hưởng phần quang vinh của ông ấy.
            - Thế cũng được. Tôi lạm hưởng phần quang vinh của ông ấy.
            Ông bốc đày một túi xách tay, rồi ông lấy đá đập những hột hạch đào, ngồi ăn.
            Hột hạch đào nhăn nheo bốn mặt dọc ngang, ông đập vỡ cái nhân ở bên trong trông giống như một bộ não của con người. ở thì ra, khi nó già, nó chín, ăn được, không phải chỉ có những nếp nhăn ngang dọc, mà còn có một bộ óc nữa!
            - Tên cậu là gì?
            - Có chuyện gì thế ạ?
            Bác gửi cậu lời hỏi thăm tới tất cả dân làng.
            - Hỏi thăm?
            Ông đưa cho cậu bé mấy hột hạch đào mà ông vẫn coi như bảo bối của mình:
            - Nói rằng có một người què gửi lời hỏi thăm.
            Cậu bé đã nói lại chuyện đó với dân làng, những người lớn hỏi hình đáng người què ấy, rồi tất cả cùng reo lên:
            - Đúng là bí thư La Què rồi còn gì nữa.
            Tất cả đổ lên núi, đi tìm La Lục Tử, nhưng không tìm thấy, và rồi họ bắt đầu lôi
chuyện ngày xưa ra nói lại, đoán mò đoán mẫm xem trong chín năm qua ông đã ra sao, và già nua đến mức độ nào rồi? Tất cả đều nghĩ tới ông.
            Duy chỉ có mỗi một cậu bé là chính mắt đá nhìn thấy La Lục Tử, và hình đáng La Lục Tử chỉ có mỗi một mình cậu là được trông thấy rõ ràng nhất.

Hai chàng trai có khuôn mặt xương xương - Giả Bình Ao

Hai chàng trai có khuôn mặt xương xương
Giả Bình Ao
Vũ Công Hoan

            Trên đoàn tàu từ Bắc xuống Nam, có hai chàng trai khuôn mặt cùng xương xương gầy gầy. Chặng đường buồn tẻ. Cùng ngồi trên một chiếc ghế, đã hơn mười hai tiếng đồng hồ, không ai nói với ai một câu, cũng chẳng thiết nhìn nhau một cái.
            Hình như do phản xạ của ánh mắt, thi thoảng họ lại đối mặt nhau, người này liền nghĩ đến hình dáng vỏ quả hạnh đào, người kia cũng xấu hổ quay lưng lại vì khuôn mặt mình cũng gầy gầy xương xương.
            Đoàn tàu vẫn chạy, tiếng xóc ình ình, ịch ịch cứ luôn luôn dai dẳng bên tai như ru ngủ.
            Hai chàng trai có khuôn mặt xương xương đã nhắm mắt ngủ gà ngủ gật. Đoàn tàu nghỉ ở ga Tây An, họ vẫn không thức. Đột nhiên nghe thấy một tiếng hỏi:
            - Chỗ này đã có ai ngồi chưa?
            Đang ngủ say, “hứ” một tiếng, hai chàng trai mở mắt choàng dậy, lập tức tỉnh như sáo. Một cô gái rất xinh đẹp đang đứng trước mặt.
            Anh này đáp: “Chưa”. Anh kia cũng trả lời: “Chưa”.
            Hai chàng trai có khuôn mặt xương xương cùng nhích người về hai bên ghế. Mặt ghế chật hẹp bỗng chốc rộng hẳn. Cô gái ngồi vào giữa. Hai chàng trai có khuôn mặt xương xương ngửi thấy ngay mùi thơm dìu dịu lẫn giữa hơi người và phấn thơm loại xịn. Hai anh cũng không còn ngủ gật. Trong nửa tiếng đồng hồ, luôn luôn có vẻ không được tự nhiên lắm, chàng trai mặt xương xương ngồi bên cửa sổ đã ba lần nhấc cổ áo. Lần nào nhấc cũng liếc nhìn cái cổ trắng ngần của cô gái. Còn chàng trai mặt gầy gầy ngồi ở bên này, cứ cúi đầu ngắm nhìn hai bàn chân nhỏ nhắn của người đẹp đi trong đôi giày da cao gót. Cô gái luôn ngồi thẳng người, mặt lạnh như tiền. Chiếc túi xách tay để trên chân.
            Hết quả núi đất vàng này đến trái núi đất vàng khác cứ loang loáng lướt qua bên ngoài. Cuối cùng chàng trai ngồi cạnh cửa sổ lên tiếng:
            - Cô có chiếc túi đẹp quá!
            - Thật sao? - cô gái đáp lại.
            - Đúng, đẹp lắm! - chàng trai ngồi bên kia phụ họa.
            - Túi của hai anh cũng kiểu này phải không?
            Cô gái cười, ngước nhìn lên mắc áo bên cửa sổ toa. Trên móc áo đang treo túi da của hai chàng trai mặt xương xương. Cô cũng treo chiếc túi da của mình lên móc.
            - Em mua ở Bắc Kinh đấy - cô nói.
            - Tôi cũng mua ở Bắc Kinh.
            - Tôi cũng mua ở Bắc Kinh.
            Cô gái lại ngồi ngay ngắn. Hai chàng trai bắt đầu nhúc nhích không ngừng. Hai tay lúc ôm ngực, khi để trên đầu gối, lại hình như vô tình ngoái đầu nhìn trước nhìn sau toa. Nhưng lần nào ánh mắt cũng lướt cực nhanh trên mặt cô gái. Về sau, chàng trai mặt xương xương bên cửa sổ cất tiếng hỏi cô gái từ đâu đến, đi về đâu. Hỏi câu nào, cô trả lời câu ấy. Chàng trai mặt xương xương ngồi phía trong cũng biết cô đi công tác đến Bắc Kinh, Trịnh Châu và Tây An.
            - Tôi cũng đến Bắc Kinh công tác - chàng trai mặt xương xương ngồi bên cửa sổ vui vẻ nói - Đúng là một thành phố lớn, Bắc Kinh không thiếu một thứ gì. Chiếc túi da này, trông dáng nền nã biết chừng nào! Đôi giày da bạn đi cũng là hàng Bắc Kinh phải không?
            - Không phải - cô gái đáp.
            - Nên mua một đôi Bắc Kinh sản xuất. Bạn nhìn này, mình đã mua một đôi - chàng trai lấy ra một hộp giấy từ trong túi xách to dưới gầm ghế. Quả nhiên bên trong có một đôi giày da kiểu đàn ông - Da tốt lắm! Kiểu rất đẹp! Sản phẩm của Bắc Kinh hết chê. Đâu có như giày da sản xuất ở tỉnh lẻ. Khiếp, mặt da nhăn nha nhăn nheo, kiểu dáng xấu ơi là xấu...
            Cô gái xem đôi giày, khe khẽ nói:
            - Giày này không phải Bắc Kinh sản xuất.
            - Sao lại không phải Bắc Kinh? Mình vào cửa hàng Vương Phủ Tỉnh, trông thấy người ta xếp hàng mua đông lắm. Người Bắc Kinh đã xếp hàng chắc chắn là hàng tốt. Mình cũng đứng vào hàng, đến nơi thì ra bán giày da. Quả là hàng xịn, cũng mua một đôi, còn không phải hay sao?
            - Giày này sản xuất ở Thiên Thủy - cô gái lại nói.
            - Chuyện đùa, Thiên Thủy chúng ta làm gì sản xuất được giày da này.
            Cô gái đưa đôi giày ra, chàng trai mặt xương xương bên này nhìn kỹ trên đế giày, quả nhiên có hai chữ Thiên Thủy, nét mặt lập tức tiu nghỉu:
            - Sao lại thế nhỉ? Sao lại có chuyện này nhỉ?
            Chàng trai mặt xương xương bên kia cười khẩy.
            - Anh cười cái gì? - chàng trai bên này xấu hổ trở nên gắt gỏng.
            - Tôi cười Trung Quốc mình to thật...
            Đất nước Trung Quốc cũng to quá. Hôm nay lạnh thế, nửa tiếng đồng hồ lại phải ra buồng vệ sinh. Chàng trai ngồi bên cửa sổ đi ra buồng vệ sinh. Cô gái cười nhưng không thành tiếng, lấy một quyển tạp chí trong túi ra xem. Chàng trai bên này nhìn cô gái giở từng tờ, trông rõ đây là một quyển họa báo điện ảnh, có nhiều ảnh màu các ngôi sao.
            - Bạn có thích xem phim không? - chàng trai hỏi.
            - Thích - cô gái gật gật đầu.
            - Hiện nay ăn khách nhất là diễn viên đóng phim! Một ông chủ tịch tỉnh có mấy ai biết, nhưng Lưu Hiểu Khánh ai cũng biết.
            Cô gái im lặng.
            - Mình cũng đã nhìn tận mặt Lưu Hiểu Khánh.
            - Thế ư?
            - Thật ra cũng thường thôi. Đứng trong đám người trên đường phố Bắc Kinh, cô ta không có gì nổi bật. Mình dám nói gái Bắc Kinh hiện giờ Tây lắm, cô nào cũng y như diễn viên.
            Cô gái quay người đi, vừa vặn trông thấy chàng trai mặt xương xương từ buồng vệ sinh đi về. Chàng trai vội đưa tay vuốt tóc, tươi cười.
            - Bắc Kinh là một thành phố lớn mà - cô gái nói.
            - Bạn đã vào vườn thú Bắc Kinh chưa? - chàng trai mặt xương xương bên này nói tiếp - Mình đã đi khắp lượt mọi công viên ở Bắc Kinh, có thể nói nơi du khách đông nhất là vườn thú. Trong số du khách ở vườn thú, nam nữ thanh niên lại đông nhất. Muốn chọn diễn viên, đến đấy chắc sẽ có vai tốt.
            - Thật sao?
            - Hiện giờ phim ảnh phần nhiều là chuyện tỏ tình, con trai con gái vào vườn thú, vừa ôm vừa hôn, đúng là mình không dám đến sau một bụi cây, sau một quả giả sơn. Có phải người vào vườn thú thú tính cũng trỗi dậy không nhỉ?
            Cô gái bật cười.
            - Thật đấy, mình luôn luôn suy nghĩ vấn đề này, rất muốn viết.
            - Anh viết được à?
            - Nghiệp dư thôi.
            - Ô, nhà văn nghiệp dư! Anh đã đăng tác phẩm ở đâu?
            Chàng trai mặt xương xương bên cạnh cửa sổ cũng tỏ ra ngạc nhiên.
            - Chưa từng đăng ở đâu.
            Cô gái “ơ” một tiếng. Chàng trai mặt xương xương bên cạnh cửa sổ cũng lập tức ho rũ rượi, nhổ ra một bãi đờm.
            - Kỳ thực, tác phẩm được in chưa hẳn đã hay. Nếu được in, tác phẩm của mình dứt khoát sẽ xôn xao dư luận. Bạn không tin ư? Bạn biết nhà văn Vương Mông, Trương Khiết và Lưu Tâm Vũ không?
            - Họ đều là nhà văn có tên tuổi!
            - Mình đã từng gửi thư cho các nhà văn ấy.
            Chàng trai mặt xương xương ngồi cạnh cửa sổ bắt đầu uống nước, ăn táo và bánh điểm tâm, cứ mời cô gái hết lần này đến lần khác. Chàng trai mặt xương xương ngồi bên này rất khó chịu. Được cái cô gái luôn trả lời một cách lịch sự: “Cảm ơn”.
            - Ăn một chút thôi, ra khỏi nhà mà, đây là bánh điểm tâm của Bắc Kinh, ngon cực kỳ. Bánh điểm tâm quê chúng mình, nói một câu hơi bị ngoa, ném qua cửa sổ toa không những không bẹp mà còn lõm đường ray.
            - Bắc Kinh thứ gì cũng tốt! - cô gái mím môi nói.
            - Người Bắc Kinh mọi thứ đều tốt, mình đề cao người ta, nhưng trong họ có người coi thường mình.
            Chàng trai mặt xương xương ngồi bên này nói chen vào:
            - Mọi thứ hàng hóa của họ đều từ đâu đến? Ngay đến giày da cũng phải chi viện!
            Chàng trai mặt xương xương ngồi bên cửa sổ liền phản ứng:
            - Anh đùa cợt ai thế?
            - Tôi bảo người Bắc Kinh đấy.
            - Họ coi thường anh như thế nào? - cô gái hỏi.
            - Khi mua bánh điểm tâm ở cửa hàng Tây Đơn, mình hỏi một anh chàng: “Đồng chí ơi, cầu nổi Bắc Kinh của các đồng chí ở đâu?”. Anh chàng ấy nói đi phố nào, qua ngõ nào, rẽ trái, ngoặt phải, giọng lưỡi cứ uốn đi uốn lại nói một thôi một hồi.
            - Trả lời thế là rất tốt với anh đấy chứ?
            - Nhưng nói xong anh ta lại bảo: “Này đồng chí, lần sau không nên nói: “Cầu nổi Bắc Kinh của các đồng chí. Bắc Kinh là của nhân dân cả nước, đâu phải Bắc Kinh của chúng tôi?”. Nói thế chẳng phải coi thường mình là gì?
            Cả ba người cùng cười. Cười xong, hai chàng trai có khuôn mặt xương xương còn định nói nữa nhưng ngay tức thời không biết nói gì. Hai chàng rất mong cô gái nói gì đó, nhưng cô cũng im bặt.
            Đoàn tàu bắt đầu chui qua một đường hầm. Tiếng ầm ầm bao phủ toàn bộ không gian. Ra khỏi đường hầm, chàng trai mặt xương xương bên cửa sổ đang định nói, đã nhìn thấy cô gái tựa vào ghế nhắm mắt lại, đành phải thôi. Nửa tiếng đồng hồ đã trôi qua, đoàn tàu lắc lư một cái, cuốn tạp chí trong tay cô gái rơi xuống, chàng trai mặt xương xương ngồi bên này nhặt lên, khe khẽ đẩy cô gái:
            - Sách của bạn rơi này.
            Cô gái dụi mắt, gật đầu cảm ơn.
            - Anh không ngủ à? - cô hỏi.
            - Mình đang nghĩ một vấn đề.
            - Vậy ư?
            - Viết xong một tiểu thuyết, mình đưa cho một ban biên tập địa phương. Đọc xong, biên tập viên bảo nhạt toẹt. Mình bảo, được rồi, chủ đề tôi viết là nhạt toẹt, anh nhận ra được tôi cũng đã đạt mục đích.
            - Biên tập viên sắp sửa in cho anh chứ?
            - Ồ, mình nghĩ thế nào cũng có ngày cuốn tiểu thuyết chào đời.
            - Anh tự tin gớm nhỉ?
            - Đương nhiên con người phải có lòng tự tin, phải có sự theo đuổi! Nhưng sự đời gian nan quá, luôn luôn trêu đùa mình. Ví dụ chuyện sáng tác, mình luôn luôn tin chắc mình có tế bào nghệ thuật. Mình biết tưởng tượng, nghĩ được đủ mọi thứ. Nhưng hiện tại mấy vạn chữ chưa lên khuôn in. Hiện thực luôn luôn trớ trêu đối với mình.
            Chàng trai mặt xương xương ngồi bên cạnh cửa sổ đang nhổ râu trên môi, sau đó búng đi.
            - Tự trớ trêu với chính mình!
            - Anh mới là kẻ tự trớ trêu với chính mình!
            - Hứ!
            - Hứ hứ!
            Cô gái cười khúc khích.
            Trong tiếng cười, cả hai chàng trai cùng im lặng khiến cô gái cảm thấy mình không nên cười nữa. Cô cũng im lặng, nhắm mắt ngủ. Cô gái ngủ khiến hai chàng trai mặt xương xương cũng tiêng tiếc. Một anh quay đầu nhìn cửa sổ, ngắm mặt cô trên kính. Một anh luôn luôn cúi xuống ngẩng lên, nhìn trộm cô gái cực nhanh. Cả hai đều mong cô tỉnh ngủ, nhưng cô vẫn ngủ say.
            Chàng trai ngồi bên cửa sổ bắt đầu viết gì đó lên một tờ giấy rồi gấp lại tử tế, cầm trong lòng bàn tay. Sau đó, khi chàng trai ngồi bên này và cô gái đi ra buồng vệ sinh, anh ta vội vàng nhét mẩu giấy vào túi da của cô gái. Nhưng anh ta đã nhét nhầm vào túi da của chàng trai ngồi bên này.
            - Giời phù hộ, liệu cô ấy có trả lời mình không?
            Hai tiếng đồng hồ sau, đoàn tàu đỗ lại, nghỉ mười lăm phút ở một ga. Tất cả hành khách đều xuống sân ga vận động tay chân. Chỉ có một mình chàng trai ngồi bên này gục đầu xuống bàn nhỏ trước cửa sổ, hí hoáy viết gì đó rồi cũng nhét vào túi da của cô gái. Nhưng cũng nhét nhầm, túi da đó lại là của chàng trai ngồi bên cửa sổ.
            Đoàn tàu lại vận hành. Ba người lại ngồi xuống. Hai anh chàng mặt tươi rói. Sau đó cả hai yên tâm ngủ, ngủ rất say, say lắm. Khi họ thức dậy, không biết cô gái đã xuống tàu tự bao giờ.
            Trời sáng, hai anh chàng có khuôn mặt xương xương gầy gầy cũng lần lượt xuống ga.
            Về đến nhà, mở túi ra, cả hai anh đều thấy có một bức thư tỏ tình ngắn gọn. Một anh thư để lại ghi địa chỉ là Nhâm Tử Mỹ, số nhà A, ngõ B, phố C thành phố Thiên Thủy, yêu cầu nếu đồng ý mong viết thư trả lời. Còn anh kia thư để lại cũng yêu cầu trả lời theo địa chỉ Lưu Vân Xuân số nhà X, ngõ Y, phố Z Dương Bình quan. Hai chàng trai có khuôn mặt xương xương mừng quýnh, nói thầm: “Mình viết thư tỏ tình với cô ấy, cô ấy lại cũng viết thư tỏ tình với mình!Thật là một sợi tơ hồng nối nhân duyên ngàn dặm”.
            Thế là hai người cứ năm ngày một bức thư gửi cho nhau, nói cho bằng hết chuyện ân ái ở cõi trần. Hai tháng sau họ quyết định gặp mặt nói chuyện, hẹn nhau chờ ở dưới cột điện bên phải cổng nhà ga thành phố Bảo Kê vào một ngày nào đó.
            Hôm nay, hai chàng trai có khuôn mặt xương xương lại gặp nhau một lần nữa. Anh nào cũng hậm hực bảo chờ một người, nhưng không anh nào chịu nói người mình chờ là ai. Anh này mong anh kia mau mau rời khỏi nơi đây, nhưng không anh nào chịu đi. Mãi đến lúc trời tối, họ hoàn toàn thất vọng đành phải lủi thủi ra về.
            Về nhà, anh nào anh nấy lại gửi thư đi. Bốn hôm sau cả hai đều nhận được thư trả lời. Nội dung thư gần như đều trách bạn gái không đến đúng hẹn.
            “Bạn biết không? - thư viết - Mình tự tin vào mối tình của chúng ta biết chừng nào! Nhưng sự thất hẹn của bạn khiến mình buồn vô cùng. Mình không muốn bị trêu đùa mãi nữa. Mình bị trêu đùa đã quá nhiều. Quả thật mình không rõ tại sao bạn lại đùa cợt mình như thế? Lẽ nào số phận mình cứ luôn bị đùa cợt? Bạn thân mến! Bạn nói đi! Sao lại thế? Sao lại thế?”.