Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Bá Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Bá Học. Hiển thị tất cả bài đăng
22/3/12

À! Chuyện chiêm bao - Nguyễn Bá Học

À! Chuyện chiêm bao
 Nguyễn Bá Học

            Hàn Bán Thiên là một anh chàng nho, cựu học không thành danh, tân học cũng lỡ bước; lại có tính hay mơ tưởng những sự cao xa, không còn nghĩ đến tư cách, địa vị, thời thế mình là thế nào nữa. Có khi anh ta tưởng mình sẽ nên một nhà đại triết học, sẽ đem những học thuyết Âu Tây mà phá cho hết cái cựu học, cái mê tín của người mình. Có khi anh ta tưởng mình sẽ nên một nhà đại văn hào, sẽ đem luận thuyết, diễn thuyết, kịch bản, thi ca mà cổ xuý quốc dân cho mau mau lên đường tiến bộ. Có khi anh ta tưởng mình sẽ nên một nhà đại kinh tế, sẽ lấy khoa học Âu Mỹ mà cải lương kỹ nghệ, mở rộng lợi quyền cho nước mình sẽ nên một xứ giàu thịnh. Có khi anh ta lại tưởng mình sẽ nên một nhà đại chính trị, khi chính quyền đã về đến tay mình sẽ dùng những phép nội trị ngoại giao của các nước văn minh bên Âu Mỹ, duy tân nước nhà mình lại. Mỗi khi mơ tưởng đến đấy thì anh ta đắc ý biết là dường nào. Bấy giờ trông người nào, vật nào cũng có cái cảnh tượng cổ võ âu ca, hi hi, hiệu hiệu (1).
            Người vợ anh ta ở nhà quê làm ruộng đã phải mấy năm mất mùa; ra ở tỉnh buôn bán cũng bị thất bại.
            Nghề nghiệp gì cũng không có, tình cảnh tiêu điều mà anh ta cứ ngông ngông nghênh nghênh, cả năm không biết nghĩ gì đến cả. Một hôm người vợ bảo anh chồng:
            - Người ta khổ một điều là không biết mình. Anh không xem việc sinh nhai của mình ngày nay gian nan biết nhường nào, cái mệnh vận tương lai của nhà mình chưa biết ngày mai có được như ngày nay không.
            Thế mà anh cứ mơ mơ màng màng, tơ tưởng những cảnh thiên đường cực lạc, có khi nước sâu lửa nóng ở đâu sau lưng mà không biết. Thôi này, nhà đã ba tháng nay chưa có tiền thuê, chủ nhà cho đòi đã nhiều lần, tháng này người ta sẽ đem đồ mình ra đường. Bấy giờ tôi xem anh đứng vào đâu mà nói chuyện văn minh nữa?
                1. Hi hi: tiếng tượng thanh, tràng cười; hiệu hiệu hay hạo hạo: sự tự đắc.
            Hàn Bán Thiên cứ thủng thỉnh mà nói:
            - Hôm nay đã là ngày mấy tháng mấy? Thấm thoắt mà đến ngày mở sổ Hồng thập tự đây. May ra ta trúng số thứ nhất sẽ có bốn vạn đồng bạc, chớ việc gì mà sợ. ấy mới sướng! Bấy giờ ta sẽ làm một nhà đại phú hào vậy.
            Người vợ không nói gì nữa, cứ ngồi ghé một bên cái bàn, dưới bóng đèn mà vá cái áo rách. Hàn Bán Thiên cũng tựa án thiu thiu, ngủ đi lúc nào không biết.
            Chợt nghe ngoài cửa có tiếng người lát sát (1):
            - Mừng ông đã phát tài. Ông đã trúng Hồng thập tự số thứ nhất. Chúng tôi báo tin cho ông.
            Anh ta còn đương bỡ ngỡ, chưa biết thực hư, liền thấy mấy người nhà ngân hàng xe bạc đến, xếp vào đầy nhà, trồng trắng xoá đều là thứ bạc mới đúc. Người nhà ngân hàng giao cho anh ta nhận đủ bốn vạn đồng bạc, rồi cất mũ lui ra. Anh ta theo ra mà đóng cửa. Bấy giờ đêm đã khuya, không nghe gà kêu chó cắn, anh sợ hàng xóm có người dòm hành (2), liền gài hết các chốt cửa lại và lấy ván mà chặn. Mình cứ đi đi lại lại chung quanh đống bạc. Mừng rỡ dị thường, chân nhảy tay múa như người phát điên phát dại.
            Anh ta lại nghĩ: nay mình đã có một cái tài sản to tát như thế này, cũng phải tiêu dụng như thế nào cho hợp với phương pháp văn minh của những nhà lý tài bên Âu Mỹ. Nghĩ rồi liền lấy giấy bút mà làm một cái "dự toán biểu", liền phục xuống bàn mà viết:
1. Như léo xéo.
2. Dòm dỏ.
            Bốn vạn đồng bạc chia làm ba lô: lô thứ nhất một vạn để làm của công ích; lô thứ hai hai vạn để làm của cơ nghiệp; lô thứ ba một vạn để làm của dưỡng lão. Trong ba lô ấy có chín khoản như sau:
1 - Cúng vào các hội thiện 3.000$
Công ích 2 - Lập trường nghĩa thục 4.000$
3 - Mua phiếu quốc trái 3.000$
4 - Tậu ruộng vườn ao 5.000$
Cơ nghiệp 5 - Làm nhà ở 5.000$
6 - Vào hội thương 10.000$
7 - Lập trại biệt thự 3.000$
Dưỡng lão 8 - Sắm đồ trang sức 3.000$
9 - Mua hầu non 4.000$
Cộng 40.000$
            Anh ta vừa viết đến khoản thứ chín, người vợ đứng ngay lên, trừng con mắt mà trông anh ta. Anh ta vội vàng cầm lấy tay vợ vừa cười vừa nói:
            - Mình ơi, mình chớ có nghi ta, chớ nên ghen gổ (1), dù ta có lấy năm hầu bảy thiếp, thì cái ái tình ta với mình cũng không có giảm đi chút nào. Chẳng qua cũng để là đồ "xa xỉ phẩm". Vì ta vẫn chủ trương cái nghĩa nhất phu nhất phụ; Việc gì mà mình lo.
            Người vợ giận lắm nói rằng:
            - Có khi anh này hóa điên hay là mê ngủ. Hai vợ chồng bơi chải cả ngày còn lo chưa đủ được một ngày hai bữa, lại còn có con nhà vô phúc nào, bạc mệnh nào còn vào đây ngồi khóc với mình nữa hay sao?
            Thôi! Hãy đưa cái áo ngoài của anh đây cho tôi, để đi gửi lấy mấy đấu gạo mà thổi bữa cơm sáng.
1. Gây gổ vì ghen.
            Anh ta nghe người vợ nói sực tỉnh, thấy mình vẫn ngồi tựa vào cái bàn. Đống bạc trắng xóa lúc này đã đi đâu mất cả. à, chuyện chiêm bao.
            Hàn Bán Thiên tỉnh dậy rồi, người vợ cười mà nói:
            - Cái chiêm bao tốt lành của anh cũng có giá trị đấy, có thể dùng làm tư liệu một bài "đoản thiên", sao chẳng chép mà bán cho mấy nhà biên tập sở tạp chí, kiếm năm ba đồng bạc mà tiêu xài?
            Anh chồng cũng nhếch mép mà cười, gật đầu nói rằng: "Phải".

Tạp chí Nam Phong, số 49, Tháng 7-1921

Câu chuyện gia tình - Nguyễn Bá Học

Câu chuyện gia tình
Nguyễn Bá Học

            Ngán thay! Cái thị dục loài người càng lớn, thì sự đua tranh trong xã hội càng gớm ghê: đường sinh nhai càng khó khăn thì cảnh đoàn viên trong gia đình càng tiêu táp. Tưởng những nhà cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu sum họp một nhà, chia bùi xẻ ngọt, đã có phúc là nhường nào; lại ái ngại thay cho những nhà cốt nhục như sâm thương (1), gia đình như băng thán (2). Kia những kẻ gieo bút tòng quân, theo thầy học nghề, hoặc lên rừng lách núi mà kiếm ăn, hoặc
vượt bể ra ngoài mà buôn bán, phép nước nặng hơn tình nhà, công danh thiết hơn ân ái, đã đành thế bách hình khu (3), nên phải chia tình cắt ái; lại còn những kẻ thiếu niên khách khí, ham ăn ham chơi, quá nỗi nên mê, ưa mới nới cũ, đã làm tổn phí bao nhiêu là nước mắt khóc thầm của vợ con, tấm lòng ân hận của cha mẹ, nỗi hờn giận của anh em, tình yếm bạc của thầy bạn, mà cái hạnh phúc sum họp trong gia đình đã nên một vật rất hiếm hoi đang buổi văn minh còn non nớt!
---------------------------------------------
1. Sao hôm và sao mai. Nghĩa bóng: cách chia, không bao giờ gặp mặt.
2. Băng lạnh và than hồng. Nghĩa bóng: sự mâu thuẫn, đối lập.
3. Tình thế bức bách, hình hài xua đuôi
---------------------------------------------
            Hãy nghe câu chuyện gia tình của một bà già này, dù cảnh ngộ không lấy gì làm ly kỳ, mà tình trạng thực đủ làm chứng cái khốn nạn chung trong xã hội.
            Một ngày mùa đông, buổi sáng mới hửng mặt trời, ngọn cỏ còn đầm đầm giọt sương, đường đi nhêm nhếp1 trơn như mỡ; có một bà già tay cắp mẹt hoa, vừa đi vừa lẩm bẩm:
            - Trời chẳng thương ai, cứ mưa gió mãi. Hoa tươi rụng cả, còn hoa tàn bán cho ai, lấy gì mà mua quà cho cháu.
            Trông bà già có nét mặt tinh anh và nghiêm nghị không phải là người quê mùa. Tôi đến mà hỏi:
            - Bà bao nhiêu tuổi? Con cháu ở đâu mà bà còn phải lẫm cẫm như thế?
            Bà già trông lên mà nói rằng:
            - Già đã gần bảy mươi tuổi. Con già đi vắng cả, già phải ở nhà giữ cháu. Độ này trời mưa mãi, ngồi lâu càng buồn, hôm nay hửng trời, kiếm mớ hoa đi bán. Thầy mua cho già thì may lắm.
            Tôi nói:
            - Bà bán cả mớ hoa này cho tôi. Sớm ngày trời còn lạnh bà vào đây mà ngồi cho ấm, người già cả không nên phạm
sương tuyết.
-------------------------------
1. Như lép nhép, nhem nhép.
-------------------------------
            Nói rồi, tôi dắt bà già vào ngồi bên lò sưởi. Tôi cũng ngồi một bên mà hỏi chuyện:
            - Tôi thấy bà lại nhớ đến mẹ tôi thuở xưa, mẹ tôi nuôi tôi vất vả cũng như bà, bây giờ tôi không còn có mẹ nữa. Con bà làm nghề gì? Nhân sao mà đi vắng?
            Bà già đang ngồi, xoa hai bàn tay trên bếp lửa, sa sầm nét mặt mà nói:
            - Già là một người rất không may ở đời này. Già ở hóa (1) đã ba mươi năm nay, nhà nghèo, chỉ bới đất nhặt cỏ, nuôi hai con đi học. Ngày quên ăn, đêm quên ngủ, trông thấy con là ngọc giải phiền, không nỡ một lúc nào mà mẹ con xa vắng nhau. Con lớn đi học chữ nho đã đậu tú tài, con nhỏ đi học chữ Tây cũng đã đi làm việc thương chánh. Thầy nghĩ già đã tốn bao nhiêu là mồ hôi nước mắt; ai chẳng bảo trồng cây đến ngày ăn quả, thế mà già có con cũng như không. Nói đến đây, bà già lắc đầu ba bốn lượt, rồi cứ đăm đăm trông xuống cái mẹt hoa.
            Tôi đứng dậy rót cho bà già một chén nước mà nói rằng:
            - Tôi tưởng cái buồn trong trí khôn bà đã nặng nề lắm, bà hãy nói rõ chuyện cho tôi nghe, hoạ tôi có thể giải đỡ cho bà chút nào chăng.
            Bà già nói:
            - Già gặp thầy là buổi mới, có đâu dài chuyện cho rườm lỗ tai.
            Tôi nói:
            - Tôi cũng muốn nghe. Bà cứ nói.
            Bà già uống cạn chén nước, rồi nói rằng:
            - Con lớn già đã có khoa danh mà chưa làm nên sự nghiệp, cứ giữ tiếng cười cho danh giáo, không dám cày ruộng cũng không dám đi buôn, con còn nhỏ, mẹ thì già, nhà thanh bạch tám chín miệng ăn chỉ trông vào mười ngón tay người vợ. Mấy năm trước còn dạy mươi lăm đứa học trò; từ khi bãi thi1, người trong làng không ai cho con đến học nữa. Nước đến chân bây giờ mới nhảy, song ngoại nghề làm thầy dạy học, cũng không biết lấy gì làm sinh nhai. Năm nay có người đón đi ngồi bảo trẻ (2) làng xa, còn thầy mang theo một tay nải đầy những sách cũ; không biết còn đem theo cái văn tự vô dụng ấy chực gieo vạ vào đâu nữa.
            Tôi nói:
            - Sao bà nói thế, văn tự nào là văn tự vô dụng? Người ta đi học cho biết đạo làm người, chứ không đi học để mà kiếm ăn. May gặp được thì hiển thân dương danh, chẳng may ở nhà, cũng để giữ gìn phong hóa. Nếu cứ biết kiếm ăn mới gọi là đi học, có khi những người lắm tiền nhiều bạc, đều là đại thánh, đại hiền.
            Bà già cứ tủm tỉm mà nói rằng:
            - Già là đàn bà không dám nói đạo thánh, chỉ biết làm người ai cũng phải có bổn phận: làm con phải đền ơn cha mẹ, làm chồng phải giúp vợ, làm cha phải nuôi con, ở đời phải biết tranh cạnh, phải biết biến thông, dù không có tài có đức để ấm tí (3) cho mọi người, cũng không chịu mang tiếng hư sinh để đà luỵ đến kẻ khác. Người không như thế học mấy cũng là người đần. Như con già ra ngoài không gánh vác gì với xã hội, ở nhà cũng không no ấm cho vợ con. Như thế, thầy bảo hữu dụng hay vô dụng?
            Tôi nói:
            - Bà biết nhẽ này, chưa hay nhẽ khác: người ta không ai giống ai; có kẻ làm thợ, có kẻ làm thầy; mỗi người có một thời, mỗi thời có một việc. Kìa những kẻ đã làm nên công cao nghiệp lớn, lúc nhỡ thời cũng phải phong trần, huống chi đang lúc thế cô (4) đổi thay nào đã biết ai hay, đã biết ai dở. Như thầy tú nhà bà biết giữ đạo ông cha như thế là hiếu, biết dạy bảo con trẻ thế là nhân, biết yên nghèo giữ phận thế là trí, không tham danh trục lợi thế là hiền; dù không hay tháo vát, mang tiếng vô tài, song đối với nhân quần cũng không phải là phường mối mọt. Thôi, bà ơi! Không nhà ai được trọn vẹn, có hay mấy cũng có người dở. Bà đã được một thầy làm nên, thì một thầy chịu kém cũng là phải.
------------------------------------------------
1. Bỏ thi chữ Hán, vào năm 1918 (thi Hương) và 1919 (thi Hội).
2. Ngồi dạy trẻ.
3. Che bóng, che chở.
4. Cũng như thời thê
------------------------------------------------
            Bà già nghe nói khác nét mặt mà nói rằng:
            - Nhà thầy nhạo báng già làm chi; già đã nói: già có con cũng như không, nếu có ai ra gì già đã không phải lầm than như tình cảnh nhà thầy đã trông thấy. Việc học hành già không biết ai tấn tới mà ai đoạ lạc; song cái gia đình hạnh phúc đến bây giờ thực đã hỏng cả mọi điều. Một người cứ gàn gàn dở dở, đã đành là người hủ lậu, còn một người cũng ngông ngông nghênh nghênh lại càng khó chịu. Tự khi ra khỏi nhà đến giờ tính nết đổi hẳn ra một người khác. Lúc ở nhà thật là hiếu hữu, bây giờ động nói thì giở lý giở luật, ra con người vô tình; khi ở nhà thật là thuần hòa, giờ bầy động việc thì cậy thế cậy quyền ra con người táo tợn; khi ở nhà ăn kham ở khổ, đến bây giờ học thói xa xỉ, tưởng thế là văn minh; khi ở nhà nhịn bạn nhường thầy, đến bây giờ cậy trí khoe tài, cho ai cũng là mọi rợ; thực con già đẻ ra, mà già cũng không thể nào ưa được.
            Tôi nói:
            - Có khi bà chưa xét cho kỹ đó mà thôi. Tính chất người ta hay theo học hành mà biến hóa: như người nhà quê ít học, tính còn chất phác; khi ra tỉnh có học vấn hóa ngay ra người văn hoa. Lạ gì trước mình hay cẩu thả, nay thấy người ta giữ luật theo phép thì tưởng là vô tình; trước mình hay dụ dự (1), nay thấy người ta quả quyết nhanh trai, thì tưởng là táo bạo; trước mình hay bỏn sẻn, nay thấy người ta rộng rãi thì cho là xa hoa; trước mình hay a dua, nay thấy người ta khẳng khái thì cho là kiêu ngạo. Tính đã khác nhau, tự nhiên tình sinh nghi kị, kỳ thực học nào cũng phải lấy luân lý làm trọng, có lẽ nào ra khỏi cửa mà đã mất cái gia đình giáo dục đi.
------------------------------
1. Như do dự, trù trừ.
------------------------------
            Bà già nói:
            - Thầy nói khí cao quá, chưa phải là những điều con tôi mơ tưởng đến. Chẳng qua mới nghe lý mới học mới, thì tưởng trí thức mình đã cao hơn ông cha, mà sinh ra lòng kiêu ngạo; mới nghe nghĩa bình đẳng thì tưởng dân ngu được địch thế với quân tướng, con ở được kháng lễ với chủ nhà, mà trên dưới hỗn hào, không còn có lễ nghĩa gì để giữ lấy phong hóa nữa; mới tập thói tự do thì tưởng của ai cũng có thể chiếm cứ, gái nào cũng có phép chơi chung và hoang dâm tủng dục không còn có liêm sỉ gì để nuôi lấy lương tâm nữa. Cũng vì thế mà mẹ con mất ân, vợ chồng mất nghĩa, anh em như mâu thuẫn, thân thích như người dưng, không ai thương ai, không ai mến ai, cảnh tượng trong một nhà nhạt như nước bèo, lạnh như giá tuyết.
            Bà già nói đến đây, lấy một tay vịn lên cái ghế, nghiêng đầu mà thở dài. Tôi nói:
            - Bà hãy ngồi yên mà nghỉ, chớ nói vội cho khỏi mệt.
            Bà già nói:
            - Hôm nay ấm trời, già thấy tinh thần cũng khỏe; để già nói nốt câu chuyện gia tình. Thầy là người có văn chương, cũng nên đem vào nhật trình (1) để làm gương cho thiên hạ.
            - Bà cứ nói.
            - Người con thứ già mới ra làm việc còn chân nâng (2), vợ cũng không chịu đi theo chồng, cứ xin ở nhà mà nuôi mẹ. Nàng dâu già cũng là con một nhà quý hóa từ thuở còn để cút, vẫn đi học với con già cùng một thầy. Hai đứa con trẻ yêu nhau dị thường, ngày chung sách, tối chung đèn, ai trông thấy cũng phải quở quang là một đôi kim đồng ngọc nữ. Vì thế hai nhà định hôn, đến năm mười ba tuổi thì cưới.
            Năm nay hai mươi ba tuổi, đã được hai con; vợ chồng chưa hề có một điều gì sếch mếch.
Con già làm việc ở tỉnh, cứ ngày nghỉ thì về thăm mẹ không sai lệ thường. Về sau dần dần mới có bè có bạn, những lúc nói cười lả lớn (2) đã thấy nhiều điều khó nghe; song nể bạn và chiều con, già cũng không nỡ chấp trách. Đến bây giờ xét ra cho kỹ thì cái phong ba trong gia đình, thực đã sinh ra từ đó.
------------------------
1. Báo hàng ngày.
2. Nói cái cảnh tạm bợ chưa được nhất định
1. Như xích mích.
2. Như ngả ngớn.
------------------------
            Một hôm đứa con dâu hốt hoảng chạy đến mà nói: nó có của riêng một trăm đồng bạc giấy để trong hòm áo. Nay khóa còn mà bạc mất.
            Già nghe nói ngơ ngác: nhà không có người lạ biết nghi cho ai. Trông đứa con dâu mặt càng nhợt, tay càng run, miệng muốn nói mà lại không nói.
            Già hỏi: "Có phải con sốt rét hay không?" Nó nói không. Già hỏi: "Sao con sợ? Điều gì con cứ nói? " Nó nói: chính nó đã trông thấy chồng nó lẻn vào buồng, lấy cái thìa khóa riêng trong túi mở hòm mà lấy bạc. Nó sợ quá cứ đứng nép một bên. Chồng nó lẻn ra khỏi nhà rồi đi mất. Khi nó vào soát lại cái hòm áo thì bao nhiêu đồ nữ trang đã không cánh mà bay đi mất cả. Nói rồi, nó cứ lấy tay bưng mặt mà khóc.
            Già nghe nói như trời nghiêng như núi đổ, cứ ngao ngán không biết nghĩ làm sao. Con mình làm gì mà túng bấn? Nếu có mắc tai hại gì sao không nói với vợ hay với mẹ? Sao tự mình đã phạm điều thiết đạo1, toan đổ tội cho ai? Hay đã thua cờ thua bạc, hay đã say trai đắm gái, hay đã nghe ai xui khiến? Thôi, con mình còn ngựa con sáo đá2, mình không biết phòng sau giữ trước, thực mình đã xô con mình ngã xuống vực sâu.
            Hôm sau già vừa lên đến tỉnh đã thấy người quen mách bảo: "Con bà độ này hay đua theo chúng bạn rượu chè, cờ bạc, nghe đâu dan díu với một người làng chơi đã mấy tháng nay, say mê lắm".
            Già tìm đến ngay nhà con già ở. Đến nơi, con ra mừng rỡ và hỏi: "Mẹ ở nhà đến ngay đây, không vào chơi đâu chớ? ở nhà có sự gì lạ không và mẹ có việc gì hỏi con không?". Già nói: "Để mẹ ngồi nghỉ, sẽ có câu chuyện nói với con". Con nói: "Con không có thì giờ mà chờ mẹ được. Xin phép mẹ cho con đi chừng bốn mươi nhăm phút sẽ về". Nói rồi ra đi. Già gọi thằng ở mà hỏi. Mới biết tối nào con già cũng đi với một vài người bạn ba bốn giờ sáng mới về và độ này hay sinh ra gắt gỏng.
            Một lúc lâu, đứa con về. Già ghé lại sẽ nói: "Con có thật lòng trả lời, để cho mẹ hỏi. Có phải con đã đua theo chúng bạn, cờ bạc đĩ bợm mà quên cả mẹ con và vợ con đi không? Có phải con đã thua lừa mắc lận, mà phải phạm điều thiết đạo hay không? Có phải con đã liều mình vào đường tội lỗi, để ô nhục đến danh tiếng ông cha con không? Xưa nay mẹ vẫn cho con trẻ dại, mà dung thứ cho con, con có biết không? Nay con đã uống phải thuốc độc mà hóa ra người điên, để làm cớ lo phiền cho mẹ và mất lòng trông cậy cho vợ, con có cam lòng hay không?".
------------------------
1. Trộm cắp.
2. Ngựa con háu đá.
------------------------
            Đứa con nghe nói, lúc so vai, lúc bĩu miệng, rồi nói rằng: "Những sự mẹ nghe ai nói đều không thật cả, con chưa hề có lấy của ai là của con không có phép được lấy, con chưa làm sự gì can phạm đến tiếng ông cha; mẹ nói những chuyện hồ đồ không lấy gì làm chứng cứ, con không phục".
            Già nói: "Vậy mẹ con cũng phải có chứng cứ hay sao? Con đã làm cho mẹ lo con dại, vợ sợ chồng hư, như thế đủ làm chứng cứ. Con phải biết rằng: mẹ chỉ mong cho con nên người chân chính, vợ chỉ mong cho chồng nên người vẻ vang, sao con nỡ đem tình thân yêu mà chia cho kẻ khác; đem của hữu dụng mà lạc phải đường tà. Không thế, thì một trăm đồng bạc, và những đồ tư trang của vợ con, con đã đem đi đâu mất cả?".
            Đứa con nói: "Ai đã nói với mẹ điều ấy?" Già nói: "ấy vợ con đã nói".
            Đứa con nói: "Mẹ có tin lời nói nó không?".
            Già nói: "Chẳng những tin mà lại thương tình. Vì dâu mẹ đã hết lòng thương mẹ".
            Đứa con nói: "Quân này đã gian lại ngoan. Dám đổ cho mình những điều chẳng chơi, đã cáo gian lại làm cho người ta mất danh giá. Không có lẽ người mất của thấy kẻ gian mà lại nín lặng; chẳng qua là gái đĩ già mồm, đã hai con còn chưa hết lòng chồng, mặt mũi nào trông thấy nhau nữa".
            Già nói: "Thôi con nói thế đã đủ. Trước mẹ còn khuyên cho con biết hối, vì không muốn trong nhà có một đứa con càn rỡ như thế. Nay đã trầm mê ám chướng, bệnh quỷ phải có thuốc tiên. Mẹ không cho con xa mẹ một ngày nào, phải xếp dọn mà về nhà lập tức".
            Đứa con nói: "Xin mẹ thứ cho con điều ấy. Nay con đã là người làm việc, đi hay ở mình không được tự do, vả cứ tuổi con bây giờ, theo luật cũng có quyền được tự chủ một nửa".
Nghe con trả lời, già cứ há miệng không nói sao được nữa, giận quá, đứng phắt dậy mà về. Ra khỏi nhà vào một nhà người chị em mà nghỉ. Nghĩ đứa con mình bây giờ đã hóa ra một con thú dữ, song còn mong mê có lúc tỉnh, cứ cho người đến tìm, nhưng nó cũng không đến nữa.
            Bấy giờ già ở tỉnh, giận cũng vô ích, oán cũng vô ích, bất đắc dĩ phải trở về nhà. Vừa đến nhà thì thấy hai đứa con dâu, chị em đang ngồi trò chuyện, vừa nói vừa khóc.
            Con dâu lớn nói rằng: "Nếu có anh Tú ở nhà, hẳn không để cho mẹ phải âu sầu lo nghĩ, vì đã biết mà giữ em. Chú nó cũng là người thông minh có chí lớn, chỉ hiềm thiếu niên chưa từng trải, sao cho khỏi mắc kẻ xui dại, song dại rồi mới có khôn. Đã bước chân vào đường giao thiệp, thế tất phải có chúng có bạn, có ăn có chơi, kiếm thì ít mà tiêu thì nhiều, sao cho khỏi mắc công mắc nợ. Vả lại xa nhà vắng bạn, trong những lúc giăng khuya hoa sớm, sao cũng phải có người trò chuyện cho giải cái lữ hoài. Thím phải biết rằng cá cả1 không ăn rêu, thuồng luồng không ở cạn, người hay tiêu tiền ấy là những người kiếm ra tiền. Như anh Tú nhà này có một hào buộc cho thủng thắt lưng thì có đời nào mà kiếm ra một đồng kẽm. Chị em mình là phận đàn bà chỉ biết trên thờ mẹ dưới nuôi con ở cho trọn đạo; còn nông nỗi chồng dở chồng hay, không đến ngữ mình phải lành chanh lành chói (2)".
            Nghe lời con dâu nói, dù là những lời miễn cưỡng song cũng có lý, làm cho già tan nước mắt ra tiếng cười. Từ bấy giờ cũng cứ gượng gạo làm vui, cho con dâu mình nó khỏi tủi. Được ít lâu nghe tin đứa con phải đau vào nhà thương, rồi cũng tự xin đổi đi một tỉnh khác.
-----------------------------------------------
1. Cá lớn.
2. ý nói: lanh chanh xen vào.
-----------------------------------------------
            Nghe rồi tôi nói:
            - Lời nói bà là nhẽ thật, gia tình bà là sự thật; song bà không nên thấy con mình hư hỏng, mà nghi cả mọi người.
            Không nên thấy một nhà mình kém vui, mà nghi cả sự học hành trong nước.
            Bà già vội vàng nói rằng:
            - Có đâu, có đâu. Già vẫn nghe nói: sự học cũ là nền văn hóa của nước ta, từ mấy nghìn năm đến giờ, người ta có luân lý, có cương thường, có chính trị, có lề thói cũng là bởi đó, còn học mà hư bại là người. Ai bảo cứ chăm chỉ câu văn cho khéo, còn tình dân kế nước không nhận là việc học trò. May mà thi đỗ thì ra làm cha mẹ dân, không đỗ xoay về làm thầy như thầy cúng, thầy dò, thầy bùa, thầy địa, đều là nghề nói dối mà kiếm ăn, như thế mà cứ chỗm chệ lên bậc thượng lưu, phép nào mà nước không nghèo, dân không dại. Còn học mới là học về thực nghiệp (1), học cho mở mang trí thức, học cho rộng đường làm ăn, chính là việc rất cần trong nước ta. Ai bảo chỉ đua ăn đua chơi gọi là cải lương, chẳng những làm cho chậm bước văn minh mà lại phụ lòng bảo hộ. Già thấy tình cảnh trong một nhà mà cũng lo thay cho hàng xứ.
            Nói rồi vừa nghe chuông đánh mười giờ. Bà già vội vàng nhặt lấy tiền hoa, rồi từ giã mà về.
            Tôi đưa bà già ra khỏi nhà cứ yên ủi năm bảy lần, và trông theo bà già mãi. Những lời bà già nói đến bây giờ còn phảng phất trong trí khôn.

Tạp chí Nam Phong, số 10, tháng 4 - 1918
1. Chỗ này tác giả có thêm một câu "Nhờ có nước Đại Pháp mở đường dắt lối", chứng tỏ ông vẫn trông mong vào vai trò "khai hóa" của Pháp lúc ấy đối với việc làm cho đất nước giàu thịnh theo con đường xây dựng chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên xét lại mạch văn, chúng tôi thấy câu này có vẻ được đưa vào sau khi tác phẩm đã hoàn chỉnh. Vì vậy, xin tạm đem xuống chú thích, để bạn đọc nghiên cứu.
21/3/12

Câu chuyện một tối của người tân hôn - Nguyễn Bá Học

Câu chuyện một tối của người tân hôn
Nguyễn Bá Học

            Người bạn tôi ở góa đã sáu bảy năm, tuổi ngót bốn mươi, mới tục lấy một người con gái. Hôm sau lấy tình thân mật, tôi cười mà hỏi:
            - Đêm qua cái quang cảnh tân hôn thế nào?
            Bạn tôi nét mặt tần ngần, có ý cảm thương. Tôi coi lấy làm lạ.
            Hồi lâu, bạn tôi thở dài mà nói:
            - Tôi không muốn giấu bác chuyện này, vả cũng không có hề gì mà phải giấu. Người thân nhân tôi cũng là con nhà tai mặt, về sau sa sút, mới phải đi làm thuê trong nhà máy sợi, gọi là "con gái nhà máy", với nhà tôi từ xưa vốn là nhà thế nghị (1), xa cách nhau đã hơn mười năm, nay lại được sum họp một nhà, bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa, tưởng cái ý vị đoàn viên hôm ấy càng đằm thắm lắm là phải. Sao mà trong lúc đứng ngồi, lui tới, tân nhân cứ thời thời (2) giấu một tay tả, như có sự gì bí mật, không có thể để cho ai biết mà tiết lộ ra ngoài. Tôi lấy làm nghi, cầm lấy tay mà hỏi. Tân nhân càng hoảng hốt thất thố, cứ dựa mình vào vách. Thừa lúc vô ý, tôi kéo tay mà xem, thì thấy bàn tay chỉ còn có ba ngón. Thân nhân tinh thần thê thảm, nói thật là vì máy kẹp phải tay, nhân kể nguyên uỷ thâm thường vừa cho đến sáng. Thương ôi! Người tân nhân tôi khổ thật, mà thiên hạ trầm luân trong khổ ấy biết là bao nhiêu!
            Tôi (Thuật giả tự xưng) nghe chuyện càng cảm càng thương, dù đó là sự không may riêng của một người, mà cũng là cái dấu thương tâm chung cho đồng loại. Nhân thuật lời tân nhân nói như sau này:
            "Than ôi! cái khổ cảnh của thiếp sao nỡ để cho chàng nghe, song thiếp cũng không dám giấu chàng mà không nói. Trong mấy năm nay trên thờ mẹ già, dưới nuôi cháu mồ côi, một thân thiếp vừa làm con gái, vừa làm con dâu; ngày ngày còn phải đi làm thuê làm mướn để hồ khẩu (3) một nhà, ngày không được ngồi, đêm không được ngủ, dù người sắt cũng phải đau lòng. Hồi tưởng những ngày cha anh tôi còn, đang như cây ngọc đầy sân, hạt châu trên án, nào bao lâu vật đổi sao dời, nay đã thành ra cảnh mộng.
            "Sau khi cha tôi đã mất, liền bị mấy lần (4) tàn phá, mẹ tôi đem chúng tôi về ở làng Cổ Sư, là nơi mẫu quán. Anh tôi đi dạy học làng xa, cũng mất ở đó. Chị dâu tôi ở nhà nhân sản nạn mà chết, để lại cho mẹ tôi một chút con thơ, sự bất hạnh trong gia đình đến thế là cực.
--------------------------------------------------------
1. Chơi thân lâu đời.
2. Luôn luôn.
3. Giúp đỡ miệng ăn.
4. Nguyên in: mất lần.
--------------------------------------------------------
            "Bấy giờ tôi mới có 17 tuổi, mẹ tôi đã ngoài 50 tuổi, bình thời tinh thần linh mẫn, như người ba bốn mươi. Mới trong hai năm khóc con khóc dâu mà tóc bạc hồ hết, mắt càng loá, tay càng run, như người bảy tám mươi tuổi. Thiếp đã lo gia biến lại thương mẹ già, cũng muốn chia cay sẻ đắng, lấy chữ cần che chữ chuyết(1), để mẹ con nương náu qua thời. Tiếc thay! Từ xưa cha tôi làm quan, không tập cho chúng tôi theo đường thực nghiệp; chỉ tưởng những nỗi một người đội ơn vua, cả nhà ăn lộc nước, lấy phấn sức làm thanh cao, cho doanh sinh là trục mạt. Để cho con em tập thói kiêu xa, quen thân biếng nhác, chỉ xu hướng về sự phù hoa, không có thể suy ra thực dụng. Đến bây giờ trí vụng, tài hèn, cơ hàn thiết thân, còn giữ sao cho được phong thể!
            "Sau tôi đến nhà một bà láng giềng, kể cảnh ngộ cho bà nghe, và xin bà bày tỏ cho tôi một lối mà đi làm mướn. Bà nói: "Đã lâu nay, trong vùng này có nghề gì là làm ăn được. Từ khi có máy sợi, máy dệt, thời bao nhiêu khung cửi, guồng sợi đều gác lên xà nhà, từ khi có máy rượu máy xay, thời khó nhọc nhất là nghề đâm xay nuôi lợn, cũng không làm cho đủ mà ăn được. May thuê vá mướn là nghề của con gái nhà nghèo, mà từ khi có máy khâu, thời còn ai hỏi đến đường kim mũi chỉ nữa. Tội nghiệp thay! Làm thân con gái, gặp buổi nghèo nàn như con ngày nay, trừ một cách bán cái sỉ nhục đi mà kiếm ăn thời không còn phương kế gì là tự cứu được. Này, có một lối là vào làm công trong nhà máy, suốt ngày dùng hết sức, hai tay hai mắt cũng chỉ đủ cung một cái dạ dày. Còn đến điều xảy ra nguy hiểm trong việc làm, thực chưa có pháp luật nào bảo hộ bênh vực cho kẻ khổ công cả".
            "Tôi nghe nói lại càng ngao ngán, trong thích lý(2) đã không có cha chú nào tí hộ(3) ngoài xóm làng lại cũng gặp buổi gian nan. Thôi! Đã sinh ra làm đời dân vô cốc(4), còn tránh sao cho khỏi kiếp lầm than. Thà chịu một thân mình nắng dãi mưa dầu, còn hơn là ngồi mà trông thấy một nhà đói rét. Tôi xin bà dẫn lối cho tôi vào nhà máy sợi.
            "Bà đưa ngay tôi đến một người cai con gái. Người cai cũng nói cho nghe các chương trình về việc làm trong nhà máy. Công nhất mỗi ngày là 25 xu, công nhì 20 xu, công ba 17 xu, còn con gái mới vào làm việc chưa quen, công ăn mỗi ngày 14 xu, lâu lâu sẽ lên hạng nhì, hạng nhất. Chỉ giờ làm việc có điều hơi ngặt, mỗi ngày phải làm 15 giờ; từ 6 giờ sáng cho đến 9 giờ tối, trừ cho nửa giờ ăn. Ai đến làm trễ giờ thời phải phạt.
--------------------------------------------------------
1. Lấy chăm chỉ thay cho vụng về.
2. Thân thích.
3. Giúp đỡ.
4. Không có thóc gạo.
--------------------------------------------------------
            "Nghĩ mà chán thay! Thân giá một người khổ công hèn hạ đến thế là cực: cả ngày lao động tổn phí bao nhiêu là tinh lực, mà một giờ không đáng được một xu. Cũng là vì việc có ít người thời nhiều, cho nên người ta thắt buộc người mình, bói rẻ còn hơn là ngồi rỗi. Tưởng những thuở cha anh mình đang đắc ý, cứ lập thói xa xỉ, huy hoắc tiền của như đất bùn; nghĩ đâu những nông nỗi con em sau này phải đi làm thuê làm mướn cho người ta, cực khổ không bằng thân trâu ngựa. Hôm sau, tôi dậy từ lúc 4 giờ sáng, thổi cơm cho mẹ và cháu ăn rồi, 5 giờ tôi tự làng ra đi, vừa đến 6 giờ thời vào làm nhà máy. Việc làm ở máy con (xe cúi thành sợi), cũng là việc giản dị, chỉ phải đứng không được ngồi.
            "Các chú đốc công trong nhà máy, lại là những người Hoa kiều, các chú ngôn ngữ bất đồng, chỉ nghe những tiếng xì xồ, tiếng roi vọt, đánh mắng người ta mà mình đã khiếp. Tính các chú sạch sẽ, thấy người ta ăn mặc rách rưới cũng ghét; tính các chú mạnh mẽ, thấy người ta yếu đuối cũng ghét; hễ một lời không hiểu là chửi mắng theo ngay; hễ một bước sai lầm là roi vọt theo liền. Tội nghiệp thay! Cũng là một loại người, sao nỡ coi nhau như thù nghịch. Cũng vì nhà mình nghèo, cho nên thân mình yếu; vì thân mình yếu cho nên người mình hèn. Ôi! Các chú ăn của ta, ở đất ta, sao nỡ ngược đãi người ta. Đối với nhân đạo thời các chú có phụ với lương tâm; song cứ lẽ tự nhiên, thời thực là mình có điều tự thủ (1).
            "Cơ cực nữa cái lúc ăn. Người đem cơm cho con gái, cứ phải đứng chực ở ngoài hàng rào. Chờ đến giờ các chú gọi từng tên, như điểm số tù, cho ra nhận, lấy cơm vào ngồi bên chỗ làm mà ăn.
--------------------------------------------------------
1. Như bảo thủ
--------------------------------------------------------
            Còn hàng quà hàng nước đi lại đi qua đều phải phạt.
            "Từ khi tôi vào làm trong nhà máy, không còn được trông thấy mặt trời. Từ 4 giờ sáng, còi nhà máy gọi lần thứ nhất, tôi trở dậy mà nấu ăn, đến 5 giờ còi gọi lần thứ hai, tôi bắt đầu ra đi, đến 6 giờ đến nơi vào làm, lại cho đến 9 giờ tối ra về, 10 giờ đến nhà, dọn dẹp cho đến 12 giờ thời đi ngủ.
            "Nghe nói các nước văn minh trong thế giới, đều có hạn chế giờ làm giờ nghỉ cho những kẻ khổ công, có đâu ép uổng người ta làm quá sức mình mất cả đạo dưỡng sinh đến như thế.
            "Tính các chú lại hay cợt nhợt, thấy con gái sạch sẽ hay thương hay yêu, khi ra bẹo má, khi vào nắm tay, con gái nhà máy là cái quà của các chú. Chị nào vô ý chống cự lại thời các chú nói với ông chủ phải đuổi, mất việc làm ngay. Bấy giờ tôi mới hiểu lời bà láng giềng nói "bán cái sỉ nhục đi mà kiếm ăn" là vì thế.
            "Một hôm trước ngày phát tiền công, theo lệ, tôi đang lau các máy chỗ mình làm cho sạch sẽ, thấy một chú nhăn nhở đi lại, tôi đã sợ, đứng nép vào một bên. Bỗng chốc thấy có tay ai mó vào mình tôi, giật mình tôi ngã xô vào cái máy đang chạy. Nghe một tiếng "soọt", thấy máu ở tay toé ra, đau buốt lên tận óc, tôi kêu lên một tiếng thời liền ngã ra, không còn biết gì nữa.
            "Đang bàng hoàng sợ hãi, thân hình tiều tuỵ, cứ đi vơ vẩn bên đường không biết đâu là làng đâu là nhà. Chợt thấy những lũ đông người, kẻ thời đang chen chen chúc chúc trong đám chèo hát, kẻ thời đang cười cười nói nói trong cuộc tỉnh say, tôi lại gần mà trông thời là những người có quen biết với cha anh tôi khi trước cả. Tôi cứ kêu cứ gọi, mà không có một người nào ngoảnh lại mà nhìn tôi. Cũng có người đứng lại mà hỏi, thấy con nhà khốn khó cũng ra ý ngậm ngùi, rồi có bọn khác lại kéo lại lôi, thời lại xô tôi ngã xuống một bên đường mà đi mất.
            "Nhớ ngày nào cha anh tôi còn sống, với những người này vốn là đồng chí, hay luận bàn về việc tiến hóa cho quốc dân, nào khai thương điếm, nào là lập công xưởng, nào là chấn hưng thổ hóa (1), nào là bảo thủ lợi quyền; rút cục đến bây giờ vẫn để con em nình chết mòn sống tủi dưới những tay chuyên lợi, tay cường quyền; thậm chí điên nguy không ai cứu ai, thân cố cũng không ai nhìn ai, những bọn này chẳng qua là mượn hai chữ "đồng bào" để làm cái mặt nạ, xu thời xu thế. Tôi càng kêu càng khóc, họ càng làm thinh, thành ra một lũ vừa câm vừa điếc.
            "Tôi đương thiêm thiếp, nghe thấy tiếng gọi văng vẳng bên tai, bừng mở mắt, thấy mẹ tôi đang đứng một bên năn nỉ mà nói: "Mẹ đây, con có biết không, con? Mẹ nghe tin con phải máy kẹp mất tay, người ta đưa con vào nhà thương từ trưa đến nay, mẹ lật đật đến đây, con có biết không, con?". Tôi mới bàng hoàng tỉnh lại, thấy mình đã mất hẳn hai ngón tay: "Mệ ôi! Mười mấy đồng xu, con đã bán rẻ cái mệnh con, may mà con còn trông thấy mẹ đây, biết bao giờ trả cái tủi nhục này cho được!".
            "Tôi phải ở lại nhà thương hai tuần lễ nữa, bình phục rồi lại về nhà, không còn đi làm con gái máy sợi nữa.
            "Ngày chàng cho băng nhân lại hỏi chính là ngày mẹ tôi đang phải chứng đau tức kịch lắm. Mẹ tôi cứ bối rối mà nhận lời. Tôi nghe nói thất kinh rụng rời, vì mẹ đang đau cháu còn dại, chưa biết ỷ thác (2) vào đâu. Nghĩ mình thiếp đã vô đức vô tài, lại mang lấy tiếng tàn tật vào thân, dù trượng phu có đức bao dung, song tự mình cũng lấy làm hổ thẹn lắm. Mẹ tôi gạt nước mắt mà nói: "Mẹ nay đã già, con cũng đã lớn, trước sau cũng phải về nhà người, dữ kỳ mẹ con tạm thời lẩn quẩn với nhau mà cùng khốn, sao bằng gửi thân vào nơi có đức để phòng khi hoãn cấp mà dựa nương. Vả mẹ nay bệnh ngày một nặng, biết có nay, nào biết có mai, mong cho con được yên vợ yên chồng thời mẹ nhắm mắt dưới cửu toàn cho đành dạ". Tôi nghe bấy nhiêu điều, không còn muốn cưỡng lời mẹ tôi nữa. Than ôi! Sự mình càng nói càng đau, dẫu người đá cũng sa châu nghìn hàng. Trời đã rạng đông, xin chàng đi nghỉ...".
Tạp chí Nam Phong
số 46, Tháng 4 - 1921.
--------------------------------------------------------
1. Như nội hóa.
2. Nhờ cậy.
--------------------------------------------------------