Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng
27/6/12

Thơ khó - Xuân Diệu

Thơ khó
Xuân Diệu

            Ai nấy đều nghe nói đến Mallarmé, người chủ trương rằng thơ phải khó; Mallarmé đã cố ý làm cho thơ của ông tối tăm, bí hiểm; ông đã giấu nghĩa của thơ ông để thiên hạ đi tìm. Người ta vẫn kể mẩu chuyện này về Mallarmé: nhân thấy có người hiểu được một bài thơ mà ông đã quyết tâm làm cho thật khó, ông bèn nói: “Thế là ta chưa thành công” và chữa lại bài thơ cho sâu xa tột bậc. Và ngày nay, bao nhiêu người đương nghĩ vỡ trán để mong hiểu một bài thơ của Valéry!
            Hai nhà thi sĩ kia làm thơ khó và dụng ý, quyết tâm làm thơ khó. Đấy là cả một chủ nghĩa, cả một lý thuyết; cười cợt hay chế giễu sự “bí hiểm” của hai ông, việc ấy rất dễ làm, và chỉ tỏ ra rằng ta có một trí não tầm thường, nông nổi. Chúng ta không hiểu, tốt hơn là ta cứ dừng xem tự và nói: “Đây là thơ Mallarmé, thơ Valéry, đừng động tới!”
            Cái khó của hai ông là cái khó cao kỳ; về ý tưởng đã đành, về hình thức càng nhiều hơn nữa. Chúng ta không hiểu, nhưng khi hiểu được câu nào, thì câu ấy lồ lộ một vẻ đẹp nguy nga. Thơ của hai ông thuộc về lối thơ khó vì rất cố gắng, rất xếp đặt, nhất là có cái đặc biệt: dụng làm cho tối nghĩa.
**
            Còn có một cách khó thứ hai: người thi sĩ làm thơ rất tự nhiên, rất vô tâm, thế mà thơ lại có tính cách khó khăn. Thực ra người làm thơ không cố ý bao giờ; trong khi làm, người thi sĩ quên cả người đọc và chỉ thấy có thơ, chỉ đuổi theo những hình sắc trong trí tưởng, chỉ thu lấy những âm điệu của tâm tư, vội vàng nhón chân lên hái những hoa lạ. Người thi sĩ tìm cái đẹp, chứ có tìm cái khó đâu! Khó hiểu hay dễ hiểu đó là lời bình phẩm của người, chứ trong khi làm, người thi sĩ không ngờ rằng thơ mình lại “khó hiểu”.
            Vả lại, có những điều dễ nói và những điều khó nói: những ý thông thường, hễ nói ra là ai cũng hiểu được và hiểu ngay, còn những ý sâu sắc thì bao giờ cũng phải có sự cố gắng. Lời nói, cũng có ngôi thứ, có bậc, có độ. Vì như những bông hoa, có những hoa vừa tầm tay hái, có những hoa phải vươn cả mình lên mới ngắt được và có những bông hoa phải qua đèo, leo núi, khó nhọc lắm mới mang được về. Và cũng ví như những loài kim: đất bằng thì chân nào mà không dẫm lên được, ai cũng biết, cũng thấy; những vàng ngọc, châu báu thì phải đào sâu.
            Nhiều bài thơ khó chỉ vì nói những điều khó nói, những điều ít ai để ý những chuyện không thông thường. Ta chớ ngạc nhiên rằng tình yêu lại có thể làm đầu đề cho những bài thơ khó: người thi sĩ đã đi tìm kiếm những tình cảm chưa ai đào đến và mong nó ra ánh sáng cho ra trông.
**
            Cái tính cách cốt yếu của thơ là sự khó. Đó là quan niệm mới nhất, mà cũng đúng nhất. Vì sao? Vì thơ thực là thơ thì phải cho “thuần túy”, người thi sĩ gắng sức đi tìm cái thơ thuần túy (la poésie pure), nghĩa là đi thu góp những cái tinh hoa, những cái cốt yếu, cái lõi của sự vật. Vì vậy, thơ phải súc tích, phải sắc lại như một thứ thuốc nấu nhiều lần. Những sự vật thường thường vẫn nhạt, vẫn loãng, thi sĩ đem kết lại, đọng lại, tụ lại, làm nên những câu thơ đậm đà; tài liệu thì vẫn lấy trong đời thường, trong cuộc sống hằng ngày, trong những sự rung động của trái tim của xương thịt: nhưng khi đã đem vào thơ, thì tài liệu biến đi, và thành ngọc châu. Vì sao thơ khó? Vì thơ đi xa văn xuôi, thơ ở trong một thế giới riêng: thơ vẫn là sự sống nhưng đây là sự sống đọng lại, kết tinh lại, biến thành cái đẹp. Khó vì nói những điều khó, phải suy nghĩ, phải nghiền ngầm: khó vì nói một cách khác với cách nói thường.

            Một ví dụ tráng lệ nhất của lối thơ khó mà không cốt lý làm cho khó để thiên hạ đừng hiểu, của lối thơ khó một cách rất vô tâm là thơ Baudelaire. Trừ ra dăm ba bài thực bí hiểm, thơ Baudelaire không quyết ý làm cho tối tăm, cho khó khăn: ta thấy khó chỉ vì ta chưa xem kĩ đó thôi, vì ta chưa quen vì ta đọc còn vội. Baudelaire làm thơ để nói tâm hồn mình; chắc rằng khi làm, ông không nghĩ đến độc giả, ông chỉ nghĩ đến thơ; trái lại, tôi chắc khi làm thơ, Mallarmé thỉnh thoảng lại tự hỏi: “đã được chưa? Chỗ này người đọc sẽ đối phó ra sao “sẽ xử trí thế nào? Sẽ nghĩ cách này, cách khác?…”. Cho nên thơ Baudelaire vẫn hiểu được, và có thể hiểu được rất chóng: thơ Baudelaire chỉ “dường như là khó” chứ không khó đến nỗi ai nấy đều phải khoanh tay chịu hàng.

Ngày nay ra ngày thứ Bảy, 14 Janv, 1939 số 145
19/3/12

Trở lại với “Tiếng Thu” - Trần Đăng Khoa

Trở lại với “Tiếng Thu”
Trần Đăng Khoa

Cách đây ít năm, trong cuốn sách “Chân dung và đối thoại”, tôi có bàn về bài thơ “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư. Đằng thẳng mà nói, bài viết ấy chẳng có gì mới mẻ. Nghĩa là tôi không đưa ra được một phát hiện gì mới về Tiếng Thu, mà chỉ lẩn mẩn tầm chương trích cú. Tôi dẫn Hoài Thanh để bác lại cách hiểu thơ rất máy móc và sống sít của một nhà phê bình, cũng nhân thể bác bỏ luôn những ý kiến cho rằng Tiếng Thu là bài thơ Lưu Trọng Lư đã sao cóp của Nhật Bản. Tuy nhiên, trong bài viết, tôi không dẫn tên nhà phê bình, vì tôi biết ông là giáo sư, còn phải lên bục giảng. Tôi không muốn các em sinh viên nhìn ông khác đi. Âu đó cũng là cái tình của tôi đối với ông vậy. Tuy nhiên, những vấn đề ông xới ra thì không thể không bàn. Sau khi cuốn sách ra, ông phê bình mà tôi ưu ái không nhắc tên ấy đã phản đối tôi rất quyết liệt. Một nhà thơ cũng bảo tôi đừng phong thánh cho bài thơ này, vì Lưu Trọng Lư đã sao cóp của Nhật Bản. Gần đây, một nhà nghiên cứu tự cho mình thuộc hàng đầu ngành cũng vẫn nói như thế. Rồi mới đây nhất, trong cuốn sách tập hợp những câu chuyện tầm phào về văn nghệ sĩ, một người làm sách cũng vẫn nói bằng một giọng như vậy. Thật là oan cho Lưu Trọng Lư. Ông đã mất rồi, nên không thể thanh minh được. Và nếu còn sống, tôi nghĩ Lưu Trọng Lư cũng chả thèm thanh minh, bởi ông chấp gì cái lý sự đó. Tác phẩm của ông sẽ thay ông mà sống trong khi các vị kia dù vẫn còn sống cũng chẳng ai biết ở xứ mù tăm nào. Nhưng có điều, cùng với sức sống của bài thơ, cái điều ngang trái không đáng có ấy ấy vẫn tiếp tục diễn ra. Bắt đầu là một người vu lên, chỉ do lòng đố kỵ hay hiềm khích cá nhân gì đó, thế rồi sau bao người hùa theo, nói theo, rồi nói mãi, đến nỗi cái sai dần dần thành có lý. Ai nói khác đi thì hùa nhau mạt sát, quy chụp, thậm chí đẩy luôn người ta sang phía "địch" để dễ đối xử. Tất nhiên ở trường hợp thơ Lưu Trọng Lư thì không có nỗi cay nghiệt như vậy.
Cái hay của Tiếng Thu, tôi đã bàn trong bài viết Lưu Trọng Lư và bài thơ Tiếng Thu rồi. Ở đây, xin phép không nói lại. Ta chỉ lưu tâm đến cái nghi án của bài thơ này thôi. Có thật Lưu Trọng Lư sao cóp bài thơ đó của Nhật Bản không?
Người đầu tiên vu cho Lưu Trọng Lư cái việc làm rất không lấy gì làm đẹp này là ông Nguyễn Vỹ trong cuốn "Văn thi sĩ tiền chiến". Cứ như ông Nguyễn Vỹ thì Tiếng Thu chính là bài Tanka của thi sĩ Nhật Bản nổi tiếng Sarumaru ở thế kỷ VII. Nguyên văn bài Tanka thế này:
Oku yama ni
Monoji fumi wake
Naku shika no
Koe kiku zo
Aki wa kanashiki
Cũng theo ông Nguyễn Vỹ, bài thơ nổi tiếng này đã được hai nhà thơ Pháp dịch sang tiếng Pháp. Bản của nhà thơ Michel Revon in trong cuốn Anthologie des poètes japonais (Ed. Hachette), nguyên văn như sau:
Combien triste est l'automme
Quand j'entends la voix
Du serf qui brame
En foulant et dispersant les feuilles des érables
Dans les profondeurs de la Montagne
(Mùa thu buồn làm sao
Khi tôi nghe tiếng
Của con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)
Trong những nơi sâu thẳm của núi.)
Bản dịch thứ hai là của nhà thơ Karl Petit, in trong cuốn La poésie japonaise (Ed. Seghers), mà theo ông Nguyễn Vỹ là Karl Petit đã dịch đảo ngược, nhưng lại đúng với nguyên văn bản tiếng Nhật:
Aux profondeus de la Montagne
Ecartant et foulant les feuilles d' e'rable
Le cerf  brame
Et  à  l'entendre ainsi
Ah! que l'automne m'est lourdement triste!
(Ở những nơi sâu thẳm của núi
Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích
Con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)
Và nghe thấy điều đó như thế
Chao ôi, mùa thu với tôi buồn nặng trĩu ).
Còn bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư thì nguyên văn như thế này:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô...
Tất cả là như vậy đấy. Mới hay Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư và Tanka của nhà thơ Nhật Bản Sarumaru là hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỷ nay, người ta cứ a dua nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã sao cóp của nước ngoài. Cái nghi án văn chương rất oan nghiệt ấy cứ bám riết lấy Lưu Trọng Lư, cho cả đến khi ông đã nằm dưới ba thước đất. Đó là một điều rất đỗi đau xót. Người khảo sát văn bản này, một nhà thơ trẻ biết tiếng Pháp nhưng không dám tin ở khả năng ngoại ngữ của mình, đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh, thời ông còn minh mẫn, nhờ thẩm định lại. Tế Hanh là một thi sĩ tài đức, người rất giỏi tiếng Pháp, đã dịch nhiều thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh đã kinh ngạc kêu lên: "Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có gì liên quan đến Tiếng Thu. Sao lại đổ vấy cho anh Lư sao cóp?". Sở dĩ có nghi án ấy, là vì Nguyễn Vỹ. Sau khi phê phán Lưu Trọng Lư lấy thơ Nhật Bản, Nguyễn Vỹ đã đưa ra bằng cớ là bản dịch của mình, nhưng thực ra, Nguyễn Vỹ đâu có dịch, ông lấy luôn bài thơ Lưu Trọng Lư tráo vào rồi kêu ầm lên là đã bắt được kẻ gian. Những người nhẹ dạ, u mê tin theo thì chúng ta chả trách làm gì, nhưng những nhà thơ từng được coi là tầng lớp trí thức, những nhà phê bình nghiên cứu có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi lẵng nhẵng nói theo, mà cứ nói đi nói lại mãi. Đấy mới thực sự là chuyện lạ ở thời đại bùng nổ thông tin này...
Nguồn: Tạp chí Hồn Việt