Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sơn Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sơn Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
17/2/12

Yêu Cho Được - Sơn Nam


Yêu Cho Được
Sơn Nam

            Cặp rằng Hực ngồi uống trong quán, tại chợ Ngã Năm. Bỗng đâu từ ngoài cửa, một thanh niên bước vào, kéo ghế ngồi, gọi hủ tiếu. Như bẽn lẽn, sợ sệt, thanh niên nọ day mặt vào vách.
            Cặp rằng Hực nhận ra: đó là thằng Cưng, thuộc vào hàng thanh niên đa tình, đẹp trai, đắt mèo nhứt trong xóm. Thằng Cưng đã nhiều lần đến tò vè cô Huệ, con gái cặp rằng Hực. Ðôi bên dường như tâm đầu ý hiệp lắm.
            Ðể chận đứng những hậu quả có thể xảy ra, cặp rằng Hực nói đổng, với giọng hách dịch thường lệ:
            - Bọn hậu sinh quá dở...
            Rồi uống thêm một hớp rượu, nhìn thẳng vào mặt Ba Lự, người chủ quán:
            - Phải vậy không ông chủ? Tôi nói chuyện... đầu trúng, đầu trật, ông cu;4ng nên trả lời với tôi chớ?
            Ba Lự đành nén giận, tránh mọi việc gây gổ với cặp rằng Hực. Hắn là tay cường hào nhứt nhì tại chợ này.
            - Dạ phải. Ông nói đúng.
            Cặp rằng Hực quắc mắt:
         - Cái gì mà phải, cái gì mà đúng. Tôi không ưa kẻ nịnh hót, tôi muốn làm bạn với người ăn ngay nói thẳng.
            Ba Lự nói tiếp, giọng thản nhiên:
            - Ông cặp rằng nóng quá, tôi nói chưa hết lời. Bọn hậu sanh quá dở vì... chúng nó thiếu kinh nghiệm trường đời. Tuy nhiên, chúng nó hay hơn người lớn tuổi. Thí dụ, chúng nó biết cầm lái xe hơi, biết đánh nghề võ, biết...
            Lời nịnh hót ấy khiến cặp rằng Hực khoái chí. Sẵn dịp ông ta tấn công thằng Cưng, gọi là cảnh cáo để nó sợ, không dám ve vãn con gái ông ta nữa:
            - Nhiều thằng hậu sanh bày mưu kế để o mèo. Tụi nó muốn qua mặt người trưởng thượng...
            Ông ta chỉ vào ngực mình, nói tiếp:
            - Cặp rằng Hực này hồi đó o mèo đủ trăm cách. Tụi hậu sanh làm sao o mèo bằng... thằng này.
              - Nghĩa là sao?
             - Nghĩa là đám hậu sanh quá dở. Hễ o mèo dở thì có ngày bị trói, đóng gông hoặc bị đánh lỗ máu đầu.
            Rồi cặp rằng Hực gọi to.
            - Phải thẳng Cưng ngồi ăn hủ tiếu đó không? Lại đây uống rượu cho vui mậy...
            Vốn là tay giàu bản lĩnh, thằng Cưng đứng dậy, đến gần cặp rằng Hực. Từ bốn tháng qua, nó tư tình với cô Huệ, nói chuyện riêng được bốn lần, gởi tho tình được năm lần và nắm tay người đẹp hàng chục lần. May thay, chưa lần nào cặp rằng Hực bắt gặp quả tang, thằng cưng nghĩ thầm:
            - Bắt quá ông ta nói bóng nói gió, mắng chó mắng mèo. Nếu muốn hành hung hoặc bắt bớ, ông ta đã hành động kiểu khác.
            Cặp rằng Hực ra vẻ ta đây là bậc cha chú, rót rượu vào ly, thúc giục từng chặp:
            - Uống đi mầy Cưng. Ðừng e ngại. Bữa nay, tao dạy mầy cách o mèo. Mầy còn non tay ấn lắm. Hồi còn nhỏ, tao khôn khéo hơn mầy nhiều.
            Thế rồi cắp rằng Hực kể lại một giai thoại gay cấn nhứt do ông ta đóng vai chánh, hồi hai mươi năm về trước. Ông ta có người tình nhân trẻ đẹp. Cô ấy bị gả ép làm vợ bé của viên cai tổng già nua nhưng nhiêù tiền nhiều bạc. Khi rước dâu, cắp rằng Hực đứng chàng ràng trước mặt người yêu. Viên cai Tổng mắng nhiếch: “Mầy là đồ con nít.” Cặp rằng Hực đáp: “Tôi không chịu thua ông đâu, mặc dầu tôi trẻ tuổi.” Viên cai tổng cười gằn: “Tao đố mầy...” Về nhà, cặp rằng Hực thức liên tiếp năm sáu đêm, hình vóc ốm o, cặp mắt sâu hoẳm theo kiểu Câu Tiễn nằm gai nếm mật để tìm cách... trả mối thù... tình!
            Thuật đến đó, cặp rằng Hực uống thêm rượu rồi vỗ vai thằng Cưng:
            - Mày biết tao làm cách nào để ăn nằm với vợ bé của ông cai tổng không?
            Thằng Cưng đáp:
            - Dạ, cháu chưa gặp cảnh đau xót ấy.
            - Nếu gặp mầy làm sao? Thí dụ như nay mai con mèo của mầy bị gả ép cho người khác.
            Thằng Cưng nổi giận, nói lầm bầm:
            - Một là tôi trốn bỏ xứ. Hai là tôi... đâm cho chết người tình địch.
            Ba Lự giựt mình: Người chủ quán nên tránh chuyện gây gổ trong quán. Ông ta đỡ lời dùm thằng Cưng:
            - Mầy ăn nói nghe sanh tử quá! Làm thế nào mầy không bỏ xứ, không đâm chém mà gần gũi được người yêu cà. Nếu chịu thua thì mầy xin thọ giáo với ông cắp rằng... cho vui!
            Thằng Cưng đáp:
            - Tôi chịu thua.
            Lại thêm một cơ hội để cặp rằng Hực khoe tài khoe trí. Ðại để, viên cai tổng bố trí cẩn thận, theo dõi mọi hành động của cô vợ trẻ tuổi. Ban đêm, ông cai lắng nghe từng tiếng chó sủa, từng tiếng khua động ở mái ngói, ở nhà bếp và nhà... tiểu tiện. Bất cứ khách lạ nào muốn nói chuyện với cô vợ đều phải trình diện với ông cai, và nói thật lớn tiếng cho ông cai nghe rõ. Ngày qua tháng lại, ông cai tổng vẫn... canh phòng nghiêm ngặt. Ðến hôm đó, có người chị ruột của cô vợ bé đến kêu cửa:
            - Xin ông cai cho cô Tư về thăm nhà. Con Năm đau nặng lắm, sợ chị không nổi đêm nay.
            Cô Tư - vợ bé ông cai - liền thỏ thẻ với chồng:
            - Mình cho em về thăm con Năm. Nó là em út trong gia đình. Từ hồi về ăn ở với mình tới nay, emc hưa gặp mặt nó. Bây giờ, nó đua nặng, dầu gì đi nữa, em cũng phải về gặp mặt nó lần chót.
            Thế là ông cai đồng ý cho vợ về thăm với điêù kiện có ông đi theo... bén gót.
            Ðến nơi, cô vợ trẻ đẹp vào buồng để nói chuyện, rót nước an ủi đứa em gái. Ông cai tổng ngồi ngay cửa buồng, day mặt ra ngoài để canh chừng. Cửa buồng khép he hé. Ông cai tỏ ra đứng đắn, chẳng muốn nhìn cô Năm – Cô em vợ - đang nằm sóng sượt. Nhưng hỡi ơi! Cô vợ bé bèn thừa cơ hội ấy mà chun xuống gầm giường của cô em.
            Ba Lự cười vang:
            - Thế là cô vợ bé được phỉ nguyền ước ao với chàng trai đa mưu, đa tình đang nằm dưới gầm giường, chờ sẵn.
            Cặp rằng Hực gật đầu:
            - Ðúng vậy! Tôi bố trí kế hoạch đó. Tôi năn nỉ cô Năm đến gãy lưỡi, tôi đòi tự tử nên cô Năm đồng ý cho tôi rình sẵn. Tôi nói rõ: từ năm sáu đêm trước, mỗi đêm tôi nằm sẵn dưới gầm giường để chờ đợi... một vài phút trả thù ấy. Thật ra, tôi đâu có ăn nằm với người yêu cũ. Tôi muốn giữ thể diện làm trai, thực hiện lời thách đố hôm trước. Vì vậy gia đình cô Năm không là khó dễ...
            Nói xong câu chuyện, cặp rằng Hực đứng dậy:
            - Mầy Cưng. Có giỏi như tao thì hãy có mèo. Nếu ngu ngốc hơn, mầy nên trốn đi xứ khác.
            Rồi ông ta day lại chủ quán:
            - Ba Lự à! Nhớ ghi tiền rượu, thủng thỉnh tôi trả. Rượu bữa nay uống... “hét,” gắt cổ quá.
            Ba Lự nhìn theo cặp rằng Hực rồi lật sổ: tổng cộng số nợ của tên “ác bá” đó đã lên tới mười lằm đồng cộng thêm hai cốc nữa là mười lăm đồng hai cắc, một số tiền to tát hồi bấy giờ.
            Vì số tiền ghi sổ đã lâu tới mức to tát mà câu chuyện lại tiếp tục như sau: Ba Lự gọi thằng Cưng đến nói rỉ vào tai:
            - Mầy làm như vầy, như vầy... cho bõ ghét. Nhà cặp rằng Hực trống hoang, ban đêm chỉ có con Huệ ngủ phía gần nhà bếp. Ta bố trí rồi.. Mầy ráng chờ ngày lành tháng tốt rồi làm như vầy, như vầy... cho thàng cha cặp rằng đó hiểu rằng: hậu sinh khả úy, đám con nít đời nay o mèo giỏi hơn thằng chả gấp bội.
            Ðã tám giờ tối. Thằng Cưng trèo rào, chạy đến cửa nhà bếp của cặp rằng Hực. Tư bề vắng lặng. Bầy cho săn đã chạy ra ngoài vườn, giành nhau miếng da trâu... thủm thủm mà thằng Cưng đã buộc vào gốc dừa.
            Tuy hay biết trước. Huệ vẫn phập phồng trong dạ, mở cái ống khoá rồi kéo nhẹ cánh cửa. Thằng Cưng bước vào buồng của người yêu. Huệ xanh mặt, không dè chàng trai trẻ này táo bạo đến mức ấy. Mẹ nàng ngủ chưa say, cha nàng bận việc, đi thăm lẫm lúc hồi trưa.
            Rủi cha về thình lình, nàng ăn nói thế nào? Lại còn tánh mạng người yêu. Nhứt định cha nàng sẽ đánh chàng gãy xương sống rồi quăng cho xhó xé, nhu lời ông đã hăm he trước.
            Huệ khoát tay làm dấu đuổi người yêu ra ngoài.
            Thằng Cưng lạnh lùng cúi mình, khom lưng bò xuống gầm giường. Nó muốn nói thầm với người yêu:
            - Nếu ổng về bất tử, anh sẽ chun xuống sàn. Hồi xưa, ổng o mèo, ngủ trộm với người yêu bằng cách đó.
            Chàng chun trở ra nhưng Huệ vẫn chưa hiểu tất cả những gì chàng muốn nói.
            Bỗng nhiên, bà cặp rằng ho khúc khắc. Rồi bà im lặng. Quá nóng ruốt, thằng Cưng toan... hành động gấp. Nó nghiêng mình sát vai người yêu... Huệ chợt rú lên nhưng nàng ngạc nhiên vì thằng Cưng nghiêng mình để thổi tắt ngọn đèn con cóc.
            Hốt hoảng nàng chạy ra sau hè.
            Thằng Cưng mừng thầm, bước ra, nắm tay Huệ. Huệ dừng dằng nhưng rốt cuộc, thằng Cưng cõng nàng lên vai mà chạy ra sau vường, giống hệt những chàng trai đa tình, liều lĩnh ở vài bộ lạc còn theo chế độ mẫu hệ.
            Nó ngồi xuống, kéo tay Huệ:
            - Em đừng sợ.
            Huệ nói hơ hãi:
            - Thôi, em vô nhà.
            - Kỳ quá vậy. Hồi ở trong nhà, em đòi chạy ra vườn. Ra tới vườn, em lại đòi trở vô.
            Huệ lắc đầu:
              - Ðiều này, chắc em chết quá. Em đâu muốn ra tới ngoài vườn như vầy.
              - Vậy em muốn đi đâu?
           - Em muốn ra ngoài sau hè để năn nỉ anh. Ba em về bất tử lắm. Nhiều khi, ổng về vào lúc chín, mười giờ khuya.
            Thằng Cưng ngồi vuốt ve người yêu rồi giải thích sơ qua kế hoạch. Vừa rồi, ở lẫm lúa Na Rộn, trâu bò mắc toi, chết khá nhiều. Cặp rằng Hực tới đó xem xét tình hình để báo cáo lại với điền chủ là Tây Rôbe.
            Huệ vẫn thắc mắc:
            - Anh đừng... làm ẩu! Thôi, em muốn vô nhà. Ở ngoài này muỗi cắn gần chết. Hồi nào tới bây giờ, ba em đi Na Rộn coi lẫm lúa rồi về nhà nội trong đêm đó. Ổng ngán đám tá điền.
            Thằng Cưng chẳng biết nói sao. Ba Lự đã căn dặn, khuyên nó đừng tiết lộ bí mật, dẫu là với người yêu. Ðêm về khuya, đôi uyên ương vẫn thề non hẹn biển ở ngoài vườn.
            Phía mé sông, lâu lâu có một chiếc ghe thương hồ lướt qua bạn ghe hò hát, chúng tavọng cổ nghe não ruột. Huệ giựt mình.
            - Coi chừng ổng về.
            Thằng Cưng cãi lại:
            - Ổng còn ở Na Rộn.
            - Sao anh biết?
            - Xưa nay, hễ mang bệnh toi bệnh dịch thì trâu bò chết liên tu bất tận suốt tuần lễ. Khi có con trâu hoặc con bò nào chết, luôn luôn người cặp rằng ra lệnh xẻ thịt, phân phát cho đám tá điền.
            Huệ vẫn chưa hiểu:
              - Rồi ông Tây Rôbe ở Sài Gòn sẽ kiện thưa, cách chức ba em.
            - Anh nói chưa hết. Thịt trâu, thịt bò thì tá điền được quyền ăn nhưng cặp rằng phải giữ lại miếng da và cặp sừng để làm bằng chứng, trình cho chủ điền thấy rõ.
              - Nếu chủ điền vắng mặt?
              - Thì hương chức làng lập vi bằng. Ba của em vẫn đưa tờ vi bằng đó cho ông Tây Rôbe xem. Ðiệu này, ba của em còn ở Na Rộn chừng vài ngày... và vài đêm nữa.
            Huệ thở dài. Theo sự hiểu biết của nàng, bầy trâu gần hàng trăm con. Qua trận mắc toi mắc dịch này, ít lắm cũng hao bớt một phần ba. Tây Rôbe vốn là kẻ gắt gỏng, hà tiện, tiết của. Ông ta sẽ khiển trách hoặc cách chức mấy người cặp rằng... Nàng lẩm bẩm:
            - Vái trời cho trâu bò chết vài con thôi.
            Thằng Cưng cười dòn:
           - Nếu chết vài con thì ba em đã về rồi. Anh vái trời cho trâu bò chết hết... để chúng ta mỗi đêm mỗi gặp nhau... Nhưng làm sao có chuyện đó được.
            - Anh này nói bậy bạ quá. Thôi, em vô nhà.
            - Vô làm gì? Ở nói chuyện chơi mà em.
            - Em mệt lắm. Hay là nãy giờ, ba em đã về tới, ổng rình trong nhà. Buông tay em ra.
            Dưới ánh trăng tà, mãi đến đầu canh tư, đôi uyên ương vẫn còn dan díu. Thằng Cưng thỉnh thoảng chạy vào nhà rồi trở ra ngoài vườn:
            - Em đừng sợ, ổng chưa về. Ai biểu em ra ngoài này cho muỗi mòng đỉa vắt nó cắn. Hồi nãy anh tắt đèn...
            Cặp rằng Hực chưa về thật.
            Sau khi hay tin trâu bò ở lẫm bờ Na Rộn chết toi chết dịch, ông ta hoảng sợ đến tận nơi điều tra sự thật. Từ Ngã Năm đến Na Rộn, đường không xa lắm nhưng sông rạch quanh cảm ơn, hai bên đầy lau sậy. Thằng Trạo chèo vất vả suốt hai tiếng đồng hồ. lúc tới lẫm Na Rộn, bọn ta điền cho hay:
            - Có một con trâu bỏ ăn, sắp chết.
            Cặp rằng Hực mừng thầm vì tai hoạ xảy ra không to tát như lời đồn đãi. Ông ta lên bờ, tìm nơi uống rượu, nói đổng với bọn tá điền:
            - Chết hai con càng tốt. Chết một con xẻ thịt ra ít quá. Tá điền thì đông, ai ăn, ai nhịn! Chết một hai con trâu, ông Rôbe chẳng rầy rà gì đâu?
            Côn trâu mắc toi vẫn chưa chết. Cặp rằng Hực cằn nhằn, ngồi uống rượu suông. Trong khi đó, thằng Trạo dựa lưng vào vách ngủ khò.
            Vào khoảng sáu giờ chiều, con trâu mắc toi mới chịu chết. Ðám tá điền bu lại, xẻ thịt, lột da. Cặp rằng Hực ngồi chờ đợi để nhậu cho kỳ được một đĩa thịt trâu xào lăn.
            Nhậu xong, ông ta bỗng áy náy. Con mắt bên trái giựt lia lịa:
            - Cái gì vậy kìa?
            Rồi thúc hối thằng Trạo:
            - Về mầy! Về gấp!
            Thằng Trạo trố mắt:
            - Về... uổng quá!
            - Trước sau gì mình cũng về, thôi thì về phứt. Mầy tiếc mớ thịt trâu hả. Ðể tao biểu tụi nó xẻ cho mầy một thẻo.
            Ðến mười giờ khuya, thằng Trạo bắt đầu gay chèo, khoát nước. Cặp rằng Hực nằm trong chiếc tam bản mui ống, ông ta chép miệng... Hơi rượu xông lên mặt, ông ta buồn ngủ nhưng làm sao ngủ được. Trong phút giây, ông ta ngồi ngổm dậy, bò ra trước mũi tam bản. Nguy rồi, có lẽ vụ trâu chết toi ở Na Rộn là một âm mưu đen tối của bọn thằng Cưng, để thừa cơ hội... Ông nghĩ thầm:
            - Tương kế tựu kế. Nó tưởng mình đi vắng nhà suốt đêm. Mình về bất thình lình cho nó biết mặt.
            Rồi thét to:
            - Mầy Trạo! Chèo mau lên!
            Chiếc tam bản phóng tới. Sau mỗi nhịp chèo, thằng Trạo nhún chân, mũi tam bản ngóc lên cao rồi hạ xuống... Bầu trời đen nghịt như sắp chuyển mưa.
            Cặp rằng Hực tìm cách thúc hối:
            - Bữa nay mầy chèo giỏi hơn mọi lần. Ráng lên. Tao cho mầy năm cắc nếu mầy chèo về tới nhà vào khoảng đầu canh tư.
            Thằng Trạo đáp:
            - Dạ, ông vững bụng. Tôi dư sức.
            Cặp rằng Hực vào trong mui nằm, suy nghĩ. Ðúng rồi! Sau trận thách đố ở quán rượu Ba Lự, thằng Cưng tìm cách trả thù. Giờ phút này có lẽ nó tư tình với con Huệ. Nhưng nó lầm to. Trong vòng một tiếng đồng hồ nữa, ông bắt tại trận. Thằng Cưng sẽ bị đóng trăn, bị đánh bầm mình mẩy. Ông sẽ vu cáo là ăn trộm.
            Nhưng từ sau lái, bỗng nhiên thằng Trạo la hoảng:
            - Trời ơí ghe phá nước!
            Nước chảy ào ào...
          Thằng Trạo buông chèo, kê bàn chânv ào ván để chận lại. Nếu chậm trễ, chiếc tam bản sẽ chìm.
            Cặp rằng Hực la hoảng:
            - Sao vậy?
            Thằng Trạo đáp:
            - Dạ, chắc tụi tá điền nó phá. Lúc mình sơ ý, nó khoan cho lái tam bản lủng lỗ rồi lấy đất sét trét sơ sài. Bây giờ, ông lên bờ cho tam bản nhẹ bớt. Nó gần chìm rồi!
            Tức tối làm sao! Cặp rằng Hực ngồi chồm hổm trên bờ rạch. Ông ta muốn chạy bộ về chợ ngã Năm nhưng địa thế không cho phép. Ðường bộ quá sình sụp. Còn ngồi ở đây mà chờ thì biết tới giờ phút nào.
            Chiếc tam bản từ từ chìm xuống, thằng Trạo hì hục đỡ, rinh lái tam bản vô bờ... chờ khi trời sáng rõ, vả lại vì chiếc tam bản bị khoang tất cả... năm sáu lỗ, ở khoảng giữa. Nó ướt loi ngoi nhung cười thầm trong bụng.
            Nó là cháu của chủ quán Ba Lư.
            Ba Lự hứa tặng cho nó một đồng bạc. Và trước khi lên đường, thằng Cưng năn nỉ nó:
            - Ráng dùm tao, nghe Trạo. Tao thương con Huệ quá chừng. Ráng... ở dọc đường suốt đêm. Nếu ông cặp rằng Hực đuổi mầ, mầy cứ theo tao đi núi Sập kiếm nghề khác, sướng hơn. Thí dụ như nghề bắn đá, đập đá. Mầy sẽ khoét lỗ trong đá, nhét thuốc nỗ vô như bây giờ mầy khoan ghe, trét đất sét.

Xóm Cù Là - Sơn Nam


Xóm Cù Là
Sơn Nam

            Xin tạm giải thích cái địa danh ấy. Dân trong xóm sống vui vẻ tập trung tại Ngã Tư, nơi gặp gỡ tự nhiên của hai con rạch cong queo và dùng đến ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Miên, tiếng Triều Châu.
            Các vị bô lão cho biết: xưa kia, vài người mộ đạo đã cất ngôi chùa tại Ngã Tư. Một vị tướng nhà Nguyễn có tá túc tại chùa, dâng cho chùa một tượng Phật nhỏ mà ông đã thỉnh tại xứ Cù Là, lúc bôn ba hải ngoại. Các vị bô lão còn nói rõ: gọi là Cồ Là mới đúng sách vở, Cồ Là tức là xứ Miến Ðiện giáp ranh Xiêm La.
            Nhân vật nổi danh nhứt ở xóm Xù Là tên là Trần Hanh. Ông ta là chức cai tổng, có ruộng đất khá nhiều. Ðiền đất được giao cho người khác bao thầu, với số lúa phỏng định là mười ngàn giạ. Do đó, ông không tiếp xúc trực tiếp với đám tá điền. Vợ lớn của ông chết sớm để lại cậu Hai và cô Ba. Ông cai tổng Hanh ít khi có mặt tại xóm Cù Là. Dường như ông thăm viếng luân phiên ba bốn nàng hầu thiếp ở những vùng xa cách xóm Cù Là hàng ba bốn chục cây số.
            Về mặt khai phát đất hoang, giúp đỡ dân chúng thì ông cai tổng Trần Hanh đã ghi thêm vài nét hơi đậm trên bản đồ xóm Cù Là. Ông mướn người đào kinh, xẻ ngang thửa ruộng, giúp tá điền chở lúa dễ dàng từ đồng rượng đến lẫm lúa: đó là “kinh Thầy Cai Hanh”. Lại còn con lộ gọi nôm na là “lộ Thầy Cai Hanh”. Só là vào năm 1936, thầy Cai mua được chiếc xe hơi du lịch hiệuÐờlahay. Ðiều ấy làm hãnh diện cho toàn thể dân chúng trong vùng. Trong lúc thầy cai còn do dự, chưa biết làm cách nào đem xe đến tận nhà tại ngã tư Cù Là, dân chúng thúc hối:
            - Thầy cứ mua. Tụi tôi sẵn sàng ra sức đắp con lộ từ đường xe của nhà nước vô tới nhà thầy.
            Chỉ trong vòng bốn hôm, con lộ bề ngang hai thước, bề dài hơn tám thước được hoàn thành, cao nghệu như bờ đê. Chiếc xeÐờlahay trông oai vệ làm sao! Nó giống hệt chiếc xe bò, với bốn bánh có từng cây căm tua tủa. Thùng xe hình vuông trước mũi có chưng hình đầu con đầm mọc cánh, màu bạc, khi đổ xăng là vặn con đầm ra. Ngày nay, xe hơi biến hoá tiến đến những hình dáng huê dạng hơn, giống như con rùa, con chim, con cá nược. Các bạn dưới hai mươi tuổi cứ tra các quyển tự điển là gặp kiểu xe cổ lỗ“vang bóng một thời” ấy.
            Chiếc xe ấy bị hư, trước khi thầy Cai Hanh chết. Và thầy cai Hanh chết tại xóm Cù Là, trước khi việc tống táng người chết được nâng lên hàng tiểu công nghệ với những cửa hiệu chuyện nghề bao thầu quan tài, tẩn liệm. XeÐờlahay hư máy, nằm tại nhà, không được ai mua theo kiểu“ve chai”. Và việc tống táng thầy cai Hanh – lúc bấy giờ - trở nên rắc rối. Nếu hồi còn sống thầy cai đào kinh, đắp lộ điểm tô nét nhỏ trong bức địa đồ xóm Cù Là thì lúc chết – sau khi tắt thở - được vài phút, thầy cai bắt đầu đóng vai trò lịch sử trong xóm nhỏ, với cái xác nặng hơnbảy mươi ký lô (chi tiết này rất quan trọng). Muốn mô tả lại, không gì tốt hơn là dùng phương pháp...“chép sử” ngày qua ngày mà các phóng viên mặt trận hồi Ðệ Nhị Thế Chiến thường áp dụng.
            Ngày thứ nhứt: Vào khoảng bốn giờ chiêù, cai tổng Trần Hanh tắt thở. Già thì chết, con người ai cũng chết một lần. Ông mang bệnh nan y - bệnh đau ruột - từ lâu, ông hy vọng được kéo dài thời gian sống, nhờ kỹ thuật điều trị của các bác sĩ Tây và ta ở Sài Gòn. Ðến giờ chót, cái chết ấy quá đột ngột, một sự đột ngột nho nhỏ nằm trong cái phạm vi bình thường to lớn.
            Ông nhắm mắt, sau khi làm “xung” chừng ba phút. Chẳng ai khám nghiệm thi hài ông, nhưng cậu Hai (con trưởng nam) quả quyết:
            - Ổng bị đứt ruột. Năm ngoái, ông bị cắt khúc ruột, bác sĩ Tây ở Sài Gòn nối hai khúc bằng một ống cao su. Vì mệt mỏi và quên thay ống nên cái ống ấy tuột ra, hai khúc ruột không nối liền được. Trễ rồi!
            Cậu Hai leo lên cái giường nệm, sờ vào ngực cha. Ngực đã lạnh ngắt. Cậu đánh diêm quẹt và đốt ngọn đèn sáp giữa ban ngày.
            Cô Ba cằn nhằn:
            - Làm gì vậy? Chưa tẩm liệm tại sao anh đốt đèn cúng vái? Nên giữ đúng tục lệ ông bà, kẻo xảy ra...
            Cậu Hai nói gằn:
            - Mầy đừng làm bộ. Lát nữa mầy biết. Mầy là em tao, chưa khôn hơn tao đâu.
            Cô Ba gạt nước mắt:
            - Anh đừng nói vậy! Anh đuổi tôi hả?
            Nói xong, cô Ba bước ra khỏi phòng, khóc thật to, khóc quá to. Bọn gia nhân an ủi cô với những câu thường lệ. Cô vào phòng riêng lấy xâu chiềa khoá mở tủ, lục lạo rồi khoá tủ. Ðâu đó xong xuôi, cô ra khỏi cổng, hơi bí mật.
            Bên giường nệm của cha, cậu Hai đi tới đi lui, tay cầm ngọn đèn sáp. Cậu đốt vào đầu ngón tay, vào lòng bàn chân của cha. Hỡi ơi! Da thịt người chết... đã chết thật. Nó không phồng lên, giộp da, chứa đựng nước giữa da và thịt. Bàn chân người chết không cựa quậy, mất tất cả cảm giác khi ngọn lửa châm vào.
            Cậu Hai tắt ngọn đèn sáp. Ông đại hương cả đến, gương mặt thiểu não. Lẽ dĩ nhiên, ông đại hương cả sẵn lòng giúp đỡ cậu Hai trong việc tẩn liệm và tống táng. Trong một phút xúc động, cậu Hai ngỏ ý rót rượu dâng cho ông hương cả và lạy tạ, cám ơn ông trước khi ông ban ơn. Ông đại hương cả nói:
            - Cậu Hai nên lo“giàn ngoài”. Lúc bình sinh, ông cai tổng giao thiệp rộng, quen biết nhiều người, có ơn nghĩa qua lại. Ðây là đám tang của người làm“chức việc”. Tất cả hương chức hội tề mười làng trong tổng sẽ tới bái điếu, quan chủ quận, quan chánh tham biện chủ tỉnh nữa.
            - Cháu hứa... báo hiếu tận tình.
            Nói cong, cậu Hai trao cho ông đại hương cả một số tiền để mua sắm các dụng cụ cần thiết. Cậu ra khỏi cổng, trong khi cô Ba từ ngoài cổng bước vào sân nhà. Hai anh em lườm nhau, không nói.
            Tư Tề là người chuyên lo tống táng ở xóm Cù Là. Năm ấy, Tư Tề gần năm mươi tuổi. Tư Tề lo tống táng, không lấy tiền thù lao. Dưới quyền ông ta, có gần hai mươi cậu thanh niên lực lưỡng, bọn này được tập dượt kỹ lưỡng về kỹ thuật khiêng quan tài ra khỏi nhà, đưa quan tài lên nhà vàng rồi hạ huyệt... một cách êm thắm.
            Tư Tề mừng rỡ, đến nhà bọn đệ tử, thúc hối:
            - Tụi bay chiều nay tới nhà tao để tập dượt. Ông cai tổng Hanh là người quá mập. Tụi bây dư hiểu: khi chết rồi, vài ba ngày sau, cái xác con người nặng thêm gấp đôi, gấp ba. Lại còn cái quan tài bằng cây trai Phú Quốc. Nặng lắm phải đủ mười sáu đứa mới mong khiêng nổi. Nếu làm xong phận sự, bọn mình được thưởng và được tiếng... thơm lây. Quan chủ quận, quan chánh tham biện và hương chức hội tề của mười làng trong tổng này tới chứgn kiến đó. Cô Ba tới gặp mặt tao, nhờ tao lo dùm. Chôn thật gấp. Chắc là ngày mai, ngày mốt.
            Bọn đệ tử của Tư tề chưa phải làđô tuỳ (đạo tỳ) chuyên nghiệp. Tư Tề muốn bắt chúng nó tập dượt suốt đêm. Trước khi thực hiện kế hoạch, ông ta vào quán mua năm lít rượu đế, đưa ra tấm giấy bạc“con công” – năm đồng - số tiền to tát thời bấy giờ. Bỗng nhiên, cậu Hai bước vào quán, nói to:
            - Tư Tề! Tiền đâu nhiều dữ vậy?
            Tư Tề hơi sửng sốt. Mọi khi, cậu Hai tỏ ra rộng lưỡng đối với kẻ dưới.
            Tư Tề đáp, thật thà:
            - Dạ, của cô Ba gởi cho tôi. Tôi mua rượu để anh em đạo tỳ tập dượt gấp.
            Cậu Hai bỉu môi, cười dòn:
            - Cô Ba ngu dại quá, xài tiền không nhằm chỗ.
            Người trong quán ngồìm. Tại sao cậu Hai tỏ ra keo kiệt lúc tang gia bối rối? Số tiền năm đồng bạc này chưa phải là nhiều, chưa xứng đáng với công lao của Tư Tề. Cậu Hai nói tiếp, không nhìn vào mặt Tư Tề:
            - Cho nó uống rượu, ăn vài miếng thịt vụn là nó khiêng dùm. Tụi dưng quan, tụi đô tùy ưa rượu thịt. Hễ thấy có đám ma là mừng như kiến, như ruồi thấy mật mỡ. Không mời, tụi nó cũng năn nỉ mà bò tới...
            Bị chạm tự ái. Tư Tề nói bâng quơ:
            - Vậy thì tụi nầy nằm nhà ngủ chơi...
            Cậu Hai bước ra khỏi quán.
            Chờ khi cậu Hai khuất dạng. Tư Tề lắc đầu nói ba hoa với cử toạ:
            - Ðể cho xác cai tổng Hanh hôi thúi tại nhà... mới hả giận tôi. Bà con nghĩ coi. Cô Ba tử tế bao nhiêu thì cậu Hai phách lối bấy nhiêu.
            Lão chủ quán mỉm cười:
            - Rắc rối lắm. Cậu Hai có tâm sự riêng. Thôi, ông về đi. Chừng nào họ cần tới mình thì mình tới.
            Ngày thứ nhì: Xác cai tổng Trần Hanh còn nằm trên giường trong khi ông đại hương cả đi ra đi vào, thúc hối:
            - Cậu Hai đừng làm vậy! Ông cai nhắm mắt rồi, con cháu nên sống thuận thảo. Không khéo, ông cai trở mình dưới mộ. Ổng trở mình, cậu ơi!
            Cậu Hai đáp:
            - Tức mình lắm, bác ơi. Trước khi nhắm mắt, ba tôi còn giấu hai mươi lưỡng vàng trong tủ, do con Ba giữ chìa khoá. Hồi khuya này, con Ba cho biết: trong cái hộp vàng không còn... lưỡng nào cả. Tôi hỏi tại sao? Con ba gẫy gỗ với tôi...
            Cô Ba chạy vào:
            - Anh đừng nói bậy. Anh là con trưởng nam. Ba để tất cả của cải cho anh. Em là gái, nào biết chuyện gì?
            - Mầy không đưa vàng ra thì tao không đồng ý tẩn liệm.
            Cuộc trang chấp kéo dài cho đến hừng sáng. Cậu Hai đành nhượng bộ. Mãi xế chiều, bao nhiêu nguyên liệu tẩn liệm đã chuẩn bị đầy đủ. Cái quan tài bằng cây trai đã nằm giữa nhà, nơi phòng khách. Ông đại hương cả thở dài:
            - Khổ quá. Chờ đợi quá lâu, bác e rằng nó bay mùi.
            Cậu Hai thấy ngoài sân, nơi che rạp, đã xuất hiện quá nhiều thân hào. Họ chờ đợi để phúng điếu bằng... tiền bạc. Số tiền nầ, nhứt định cậu nắm giữ. Cậu nói:
            - Xin bác điều khiển tẩn liệm.
            Ông đại hương cả nói:
            - Phải tẩn liệm cẩn thận. Bác coi rồi... Ðiệu này khó xong.
            Bên cạnh quan tài, một số gia nhân lo quết một mớ ổ muối, quết thành bột mĩn, đem trộn với cháo nếp. Họ dùng thứ“xi măng” ấy trét vào đáy quan tài, nơi mấy tấm ván ráp với nhau. Trong đáy hòm, còn đổ thêm một lớptòng chỉ (nhựa thông). Hằng trăm cái kèn đã cuốn sẵn chất đống. Kèn là những gói giấy bên trong chứa gòn. Gòn là chất rút nước, thứ nước từ xác chết xảy ra khi bị biến chất...
            Ông đại hương cả lật quyển lịch để xem ngày, xem giờ. Ðã từng sống nhiều năm, ông đại hương cả dư biết sự tranh chấp giữa hai đứa con ông cai tổng Trần Hanh. Cô Ba muốn làm lễ tống táng thật sớm để rồi sau đó, cô ra chợ Rạch Giá, với số vốn hai chục lượng vàng và khá nhiều bạc mặt do ông Cai tổng để lại. Cậu Hai muốn kéo dài thời gian, để quàn cái quan tài lại nhà hòng làm áp lực với cô Ba. Ðồng thời, vì phương tiện giao thông và phương tiện báo tin khó khăn, cậu Hai tin chắc: “nếu quàn suốt nửa tháng thì vẫn còn vô số thân bằng quyến hữu đến điếu. Tổng cộng số tiền ấy... tính đổ đồng mỗi người năm đồng...”
            Theo phe nào bây giờ? Ông đại hương cả nói, lưỡng lự:
            - Ngày nào cũng tốt, ngày nào cũng xấu. Khi nào cậu Hai và cô Ba đồng ý thì tôi xem giờ để chôn cất. Bởi vì trong ngày tốt có giờ xấu, ngày xấu nhưng nếu động quan nhằm giờ tốt thì mọi sự bằng an.
            Xác ông cai tổng đã buộc lại, tấn ém kỹ lưỡng. Số kèn bông gòn dường như dư dùng vì xác ông cai choán gần trọn cái lòng quan tài. Bọn gia nhân trèo lên nắp quan tài, nhún nhảy để ém xuống, trước khi đóng bốn cái khoá sắt: nó giống như bản lề cửa. Nắp quan tài trở thành cái cửa không bao giờ mở ra được vì có đóng bản lề ở hai bên. Ðinh đóng thật chắc, được kiểm soát cẩn thận. Rồi thì nhang đèn cháy không dứt. Dưới quan tài ngay đầu và chân ông cai tổng, bọn gia nhân thay phiên nhau ngồi, đốt liên miên nào vàng bạc, nào bạch đàn, huỳnh đàn. Trước quan tài, đỉnh lư trầm toả khói, bức ảnh ông cải tổng được chưng trên bàn thờ. Qua làn khói người ta thấy dường như bức ảnh biết cười, biết nhăn nhó... mờ mờ nhân ảnh.
            Ngày thứ ba: Cô Ba rót rượu mời ông đại hương cả ngõ ý thúc hối:
            - Ðể như vầy, cháu đau khổ quá. Thấy cái quan tài, cháu cầm lòng không đậu... Anh Hai của cháu muốn quàn cái quan tài chờ khi nào cháu đem mấy chục lượng vàng ra chia với ảnh, chừng đó ảnh mới cho động quan. Làm sao có đủ vàng? Ba cháu đâu thương con gái bằng con trai...
            Ông đại hương cả gật gù:
            - Cháu đừng lo. Chôn sớm mà!
            Cô Ba chắp tay, cảm tạ tấm lòng ông đại hương cả. Ðến trưa, ông đại hương cả ngủ lim dim chợt nghe tiếng gọi. Ông mở mắt nhìn. Đó là thầy hương quản làng Giục Tượng. Thầy ta đến làm lễ điếu, mặc áo dài, đội khăn đen trông thật chỉnh tề nhưng gương mặt tái mét:
            - Ông đại hương cả! Mệt quá. Tôi nín thở mà lạy. Nó... có mùi rồi.
            - Thôi đừng nói, thầy có thể qua nhà khác mà ở tạm cho khoẻ khoắn, chờ ngày dudua đám...
            - Chừng nào lận?
            - Ðừng lo. Cũng gần ngày rồi.
            Ðột nhiên, bọn gia nhân nói lên một lượt rồi rời bỏ phòng khách.
            - Ðứt néo!
            Cậu Hai lắc đầu, đến cầu cứu với ông đại hương cả:
            - Bác... giúp cháu. Ðứt néo là làm sao! Tụi gia nhân này... chó chết quá.
            Vừa lúc ấy, cậu Hai bắt gặp một thứ mùi khó chịu. Ông đại hương cả lấy khăn che mũi:
            - Ðứt néo là cái quan tài xì hơi.
            Cậu Hai cằn nhằn:
            - Tại trét không cẩn thận.
            - Cháu đừng nói bậy mà anh em chòm xóm họ giận. Xưa nay hễ lúc quàn quan tài trong nhà mà anh em xích mích gây gỗ để chia của thì người chết trở mình trong quan tài, sanh ra chuyện đứt néo. mấy cái bản lề còn nguyên nhưng nó xì hơi ở dưới đáy quan tài, nó xì hơi và nó xì ra... nước!
            Cậu Hai bước tới nghiêng mình lên bên quan tài. Nước nhểu nhểu từ đáy quan tài xuống nền gạch, thứ nước xanh lè và sôi bọt.
            - Trời! Làm sao bây giờ bác? Tất cả mười làng, hai ngày rày, mới có năm làng tới điếu. Còn năm làng nữa, ở xa xôi. Nhứt là mấ người bà con ở ngoài Hòn Tre, sóng gió bất thường, làm sao họ vô trong đất liền được? Ðứa em gái tôi thì ngỗ nghịch. Hổm rày tốn hao khá nhiều. Tiền mua quan tài, tiền rượu thịt... Nếu không gom góp tiền bà con đi điếu thì khó bề xoay xở...
            - Cậu đừng lo. Người ta chạy tứ tán hết rồi. Ở đây thanh vắng. Cậu lại gần quan tài kiếm cái nùi giẻ, chùi cho khéo léo. Cậu nhớ nghiêng mình, lom khom... cho thiên hạ tin lời của tôi.
            Ðám khách khứa ăn uống đã kéo nhau đến gần mé sông để đổi gió. Ông đại hương cả gọi:
            - Bà con ơi! Hế rồi! cứ vào đây cho ấm cứng. Bà con dư biết: hễ xảy ra chuyện đứt néo thì con cái le lưỡi mà liếm để chịu tội với người trong quan tài. Cậu Hai là đứa con chí hiếu dám làm chuyện ấy.
            Các quan khác vào trong. Họ thấy cậu Hai và cô Ba đang quỳ lạy, xin lỗi cha. Theo lệnh ông đại hương cả, bọn gia nhân đem thêm bạch đàn, huỳnh đàn, cây tóc... quăng vào lư đồng. Khói bay cuồn cuộn, trở thành bức trường thành ngăn cản luồng ám khí từ quan tài bốc ra. Tuy màn khói khá dày, khá thơm nhưng thỉnh thoảng vài người“thính hơi” đã nín thở. Dường như luồng ám khí tuôn ra từng đợt.
            Ðêm ấy, quan khách chạy tán loạn, đâu vào khoảng canh tư. Ông đại hương cả giải thích với cậu Hai:
            - Hễ đứt néo một lần thì nó đứt hoài, độ ba giờ đứt một chập. Ðốt trầm hương là chuyện tạm thời, có lỡi gần nhưng có hại xa. Mùi trầm hương đánh tan, che khuất làn hơi ô uế, đã đành. Ngặt nó nóng quá, làm cho người trong quan tài mau“trở mình”. Cháu lo liệu là vừa. Ngày mai này, nếu đốt trầm hương tới xế trưa thì hơi lửa, hơi nắng dồn lại, ắt không chịu nổi.
            Ngày thứ tư: Tư Tề nằm trằn trọc, đau khổ như kẻ có tài nhưng chưa được dịp thi thố. Ông ta uống rưọu khan, một mình. Nếu cậu Hai đừng ăn nói hỗn hào thì ông ta đã tình nguyện biểu diễn, là lễ động quan. Ông ta nhớ những giờ phút oai hùng đã qua: đám đô tùy cắm cây nhang trong miệng quỳ xuống lậy như con ếch, theo hiệu lịnh. Rồi ông ta xung phong phá quàn. Cái quan tài quàn trong nhà lâu ngày thì luôn luôn có ma quỉ kéo níu. Ông ta làm phận sự“dưng quan,” tức là giành giựt cái quan tài, chống bọn ma quỉ, để đem quan tài ra khỏi nhà. Trên nắp quan tài ông ta yêu cầu chủ nhà đặt một miếng vàng bạc, trên miếng vàng bạch, có chén rượu tràn đầy. Dưới sự điều khiển âm thầm của ông ta, bọn đô tùy khiêng quan tài , khiêng ngay ngắn, không lắc qua lắc lại. Chén rượu không bao giờ nghiêng, rượu nằm im trong chén, miếng giấy bạc vẫn khô ran. Khó nhưng mà dễ! Cứ rót rượu đầy chén vì chén đầy thì ít lúc lắc. Và lúc cầm ngọn đèn sáp để múa men đánh với bọn ma quỉ, ông ta đã khéo léo cho nhểu một giọt sáp vào chén. Giọt sáp ấy đóng vai trò những nhánh cây mà ngưòi gánh nước giếng thường bỏ vào thùng, để nước ít xao động.
            Phèn la và trống nổi lên inh ỏi!
            Tư Tề thức dậy, tức giận:
            - Úy! Mình tẩy chay đám ma này rồi! Ai dám lãnh công việc động quan...
            Vài người đi rộn rịp trước nhà Tư Tề. Họ bàn tán:
            - Hay lắm. Bà con lối xóm dám liều mạng, bất chấp bịnh tât, tới nhà ông cai tổng lo dùm cậu Hai. Ðể lâu ngày, hơi độc bay ra, cả xóm phải mắc dịch. Ở đầu xóm, cách xa năm bảy trăm thước mà... mùi bay nhức đầu. Cái hòm bị đứt néo liên miên, chảy nước vàng nước xanh... linh láng.
            Tư Tề chạy ra sau hè đi xem “người ta không mời mình tới làm gì.” Trên con đường lộ xe, tức là con lộ mang tên thầy Cai, hàng chục thanh niên xỏ đòn ngang, đòn dọc để khiêng quan tài. Mỗi cây đòn dài chừng năm sáu thước, xỏ qua xỏ lại trên vòng dây. Cái quan tài trở thành cái bánh xe, mỗi cây đòn là một cây căm tua tủa. Gió thổi mạnh. Bọn người khiêng quan tài và bọn người đưa đám đều tỏ ra khôn ngoan, hiểu tình thế.
            Cái quan tài di chuyển theo hướng gió xuôi, vì vậy, mùi ô uế luôn luôn bay về phía trước. Ðôi khi gió trở ngọn, bọn đô tùy dừng chân, xoay tròn một chỗ. Ðám quan khách cũng xoay tròn để tránh hơi ô uế. Hễ đi được vài chục bước, bọn dod6 tùy như bịn rịn, để quan tài xuống đất. Quan tài bằng cây trai, chứa đựng một người to xác đâu phải là nhẹ. Khi quan tài vừa dudụng mặt đất là bọn đô tuỳ và quan khách chạy dang xa. Cái quan tài nằm cô độc như cục đá, thiếu bóng cây tùng, con cò còn hạc. Lát sau, bọn đô tùy xáp vô, khiêng quan tài lên. Gió lại thổi. Bọn đô tùy xoay trở theo hướng gió. Họ di chuyển theo đường gãy đường con để tránh các hiểm hoạ mất vệ sinh. Lúc thì đầu quan tài đi trước, lúc thì chân quan tài đi trước.
            Sau rốt, gần tới huyệt. Cái quan tài được di chuyển theo bề ngang, như con cua bò. Một tràng pháo nổ đì đẹt, vài tiếng súng nổ, ấy là mấy người lính mã tà do làng sở tại phái đến làmlễ hạ gộng.
            Từ Tề lủi thủi đến nhà ông cai tổng Trần Hanh, không vui, không hối hận. Gian nhà vắng vẻ quá. Tại gian nhà để xe hơi, Tư Tề nghe tiếng lụp cụp. Năm sáu đứa bé xúm nhau trèo vào xe, cầm tay lái, lúc lắc. Chúng nó bắt chước ông cai tổng hồi thời nào: đạpga xăng , bóp kèn nhưngga xăng không rồ, kèn thì kêu te te. Tư Tề quát to:
            - Tụi bây không sợ ổng bắt hả?
            Khi lũ trẻ chạy tán loạn. Tư Tề đến nhà xe, nhìn trước nhìn sau rồi vặn cái nắp đậy bình xăng, cái nắp có gắn hình đầu con đầm mọc cánh. Tư Tề nhủ thầm:
            - Xe hư rồi, để cái hình này cũng vô ích. Mình đem về để dành, lén lén coi chơi. Vài chục năm nữa, mình gắn nó lên hòn non bộ, coi cũng sướng.