Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Somerset Maugham. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Somerset Maugham. Hiển thị tất cả bài đăng
30/5/12

Trở về - Somerset Maugham

Trở về
Somerset Maugham
           
            Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được trạm trổ trên cổng bằng những chữ số đẹp đẽ: 1673. Ngôi nhà màu xám ẩn mình dưới bóng cây, cùng với chúng từ lâu đã hòa vào phong cảnh như một bộ phận không thể tách rời. Khu vườn được chăm nom cẩn thận và nối với đường cái nhờ một hàng cây du tuyệt đẹp, có thể khiến cho bất cứ điền trang nào cũng trở nên lộng lẫy. Những người sống trong đó cũng chắc khoẻ, cương nghị và nhiều thế hệ, tất cả những người đàn ông trong gia đình đều sinh ra và chết tại đó. Ông năm mươi tuổi, còn vợ ông thì kém đâu một hai tuổi. Cả hai là những người tuyệt vời, trung thực và sung sức. Con cái họ, - hai trai ba gái, đều khoẻ mạnh và đẹp đẽ. Họ xa lạ với những tư tưởng đang thịnh hành - không coi mình là trai thanh gái lịch, biết và bằng lòng với những vị trí của mình trong xã hội. Tôi chưa từng gặp một gia đình nào bền vững hơn thế. Tất cả họ đều vui tính, cần cù và tốt bụng. Lối sống gia trưởng và hoà thuận của họ mang vẻ đẹp hoàn chỉnh của giao hưởng Bethoven hoặc tranh Tixian. Họ hạnh phúc và xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc của mình. Nhưng người chủ trang trại không phải là ông Gióocgiơ Mêđâu (“Ngữ ấy nước mẹ gì” - trong xóm người ta nói vậy) mà là mẹ ông. “Một người đàn ông mặc váy chứ không ngoa” - người ta nói về bà như thế. Đó là một người đàn bà khoảng bảy mươi tuổi, cao, cân đối, tóc hoa râm. Mặc dù khuôn mặt đã chằng chịt những vết nhăn, đôi mắt bà vẫn còn sắc sảo và sống động. Ở trong nhà cũng như ở ngoài đồng, lời nói của bà là pháp luật. Nhờ có bản tính hài hước, bà cai quản một cách chuyên quyền nhưng vẫn không hà khắc. Những câu pha trò của bà khiến ai cũng phải bật cười và nhắc đi nhắc lại. Bà nắm vững các thủ thuật làm ăn. Khó có ai có thể qua được mặt bà. Đấy là một tính cách không phải tầm thường. Ở bà, lòng nhân hậu dung hòa với nghệ thuật giễu cợt - đó quả là một trường hợp hiếm hoi. Một hôm, tôi đang trên đường về nhà thì bà Gióocgiơ giữ lại (Người quen gọi vợ Gióocgiơ là “bà Gióocgiơ”. Chỉ có mẹ chồng của bà mới được gọi một cách kính cẩn là “bà Mê đâu”). Bà ta đang rất xúc động vì lý do gì đó.
            - Ông thử đoán xem, ai đã đến nhà chúng tôi hôm nay? - Bà ta hỏi tôi.
            - Bác của Gióocgiơ Mêđâu đây. Ông biết không, ông bác ở Trung Quốc ấy mà.
            - Không lẽ? Tôi tưởng ông ấy chết rồi.
            - Tất cả chúng tôi đều tưởng vậy.
            Câu chuyện về ông bác của Gióocgiơ tôi đã được nghe hàng chục lần và bao giờ nó cũng khiến tôi thích thú vì trong đó phảng phất hương vị một huyền thoại cổ. Lúc này, cơ hội được gặp nhân vật của nó làm tôi hồi hộp. Sự tình là hơn năm mươi năm về trước, bác của Gióocgiơ Mêđâu và Tôm, em trai ông, cùng theo đuổi bà Mêđâu, khi đó còn là cô Emili Grin. Đến khi Emili lấy Tôm, ông Gióocgiơ (bác và cháu cùng tên) xuống tàu đi biệt. Người ta biết rằng ông tới sống ở một nơi nào đó trên bờ biển Trung Quốc. Trong khoảng hai mươi năm, thỉnh thoảng ông có gửi quà về. Sau đó ông bặt vô âm tín. Khi Tôm Mêđâu chết, bà vợ goá của ông ta viết thư báo cho Gióocgiơ nhưng không thấy trả lời. Cuối cùng mọi người cho rằng ông đã chết. Nhưng cách đây mấy hôm họ rất đỗi kinh ngạc khi nhận được một bức thư từ Poocsmut. Tác giả bức thư, bà chủ một nhà trọ dành cho thủy thủ, báo tin rằng đã mười năm nay ông Gióocgiơ Mêđâu mắc bệnh thấp khớp phải ở tại đó, và bây giờ, cảm thấy chẳng còn sống được bao lâu nữa, ông muốn nhìn lại ngôi nhà, nơi mình đã sinh ra. Anbơts, cháu gọi Gióocgiơ bằng ông, đã lái chiếc xe “Pho” đi Poocsmut đón ông. Chiều nay họ sẽ về tới nơi.
            - Ông thử hình dung, - bà Gióocgiơ nói, - bác ấy xa nhà đã hơn năm mươi năm rồi. Bác ấy thậm chí chưa biết mặt ông nhà tôi, mà ông ấy thì đã sang tuổi năm mươi mốt.
            - Thế mà Mêđâu nghĩ gì về chuyện này? - Tôi hỏi.
            - Bà ấy thì ông biết quá rồi còn gì. Bà ấy ngồi cười một mình và chỉ nói: “Lúc ra đi ông ấy đẹp trai, nhưng không hay bằng ông em”. Đấy, chính vì thế mà bà ấy chọn bố ông Gióocgiơ nhà tôi. Bà ấy còn nói: “Bây giờ có lẽ ông ấy đã nguôi ngoai”. Bà Gióocgiơ mời chúng tôi ghé sang chơi và làm quen với ông lão. Sự ngây thơ của một người đàn bà nông thôn chưa bao giờ đi quá London khiến bà ta nghĩ rằng một khi chúng tôi đã cùng đến Trung Quốc thì nhất định sẽ có chung những mối quan tâm. Dĩ nhiên tôi nhận lời. Khi tôi đến, gia đình bà tụ tập đông đủ. Tất cả quây quần trong gian bếp cũ kỹ, rộng thênh thang, có sàn lát đá, bà Mê đâu ngồi trên ghế bên bếp lửa, vẻ trang nghiêm và mặc chiếc áo lễ dài bằng lụa khiến tôi thấy ngồ ngộ. Ông con trai cùng vợ con ngồi quanh bàn. Một ông già lưng còng ngồi phía bên kia lò sưởi. Ông gầy đến nỗi lớp da khoác lên bộ xương trông bùng nhùng như một chiếc áo vestông tàng quá khổ. Mặt ông nhăn nheo và vàng bủng, miệng hầu như chẳng còn chiếc răng nào. Tôi bắt tay chào ông.
            - Rất vui mừng là ngài đã về đến đây. - Anbơts, đứa cháu họ của ông nói với tôi. - Khi chúng tôi về tới cổng, ông ấy bắt tôi dừng xe và tuyên bố là muốn đi bộ.
            Tôi nằm liệt giường đã hai năm nay. Người ta phải bế tôi đặt vào ôtô. Tôi đã tưởng chẳng bao giờ còn đi được nữa. Nhưng vừa trông thấy chúng, thấy những cây dù ấy mà - tôi chợt nhớ ra rằng cha tôi ngày trước yêu chúng lắm - và bỗng cảm thấy lại có thể cử động được đôi chân. Tôi đã bước dọc hàng cây này năm mươi hai năm về trước để ra đi và bây giờ lại tự mình trở về dưới hàng cây đó.
            - Úi dào, chuyện ngớ ngẩn! - Bà Mêđâu nhận xét.
            - Điều này bổ ích đối với tôi. Đã mười năm nay chưa bao giờ tôi thấy mình khoẻ khoắn và sảng khoái như thế. Tôi sẽ sống lâu hơn em đấy, Emili ạ.
            - Ông đừng quá trông mong vào điều đó.
            - Bà ta trả lời. Đã lâu lắm rồi không có ai gọi bà Mêđâu bằng tên… Có lẽ vì thế mà tôi cảm thấy hơi khó chịu, tựa hồ như ông đã cho phép mình cư xử quá suồng sã với bà già. Bà ngước nhìn ông, trong đôi mắt thấp thoáng một nụ cười cợt, còn ông trong khi nói chuyện với bà chỉ cười gằn, để lộ hai hàng lợi móm. Nhìn hai ông bà già nửa thế kỷ xa nhau, tôi nghĩ đến bấy nhiêu năm dài đằng đẵng ông yêu bà, còn bà yêu người khác và bỗng nhiên thấy trong lòng trào dâng một tình cảm lạ lùng. Tôi muốn biết họ còn nhớ chăng những gì từng cảm nhận, những gì đã từng nói với nhau. Tôi muốn biết, phải chăng bây giờ ông già ngạc nhiên là chỉ vì bà lão này mà ông đã từ bỏ ngôi nhà của cha ông, từ bỏ cái tài sản mà mình có quyền thừa kế để suốt đời lang bạt nơi đất khách quê người.
            - Ngài đã lấy vợ bao giờ chưa, ngài thuyền trưởng Mêđâu? - Tôi hỏi.
            - Không, đó không phải việc của tôi. - Ông nói bằng một giọng run run và nhếch mép. - Tôi hiểu đàn bà quá rõ.
            - Ông chỉ nói mồm vậy thôi, - bà Mêđâu phản ứng lại, - chứ thực ra hồi trẻ chắc ông phải có đến nửa tá vợ da đen.
            - Emili, em nên biết rằng đàn bà Trung Quốc da vàng chứ không phải da đen.
            - Lúc mới trông thấy ông tôi đã nghĩ ngay: đúng là ông ấy mắc bệnh vàng da.
            - Tôi đã nói, Emili ạ, rằng ngoài em tôi sẽ không lấy ai. Ông nói điều này không mảy may xúc động hay giận dỗi, bình thản như khi người ta nói: “Tôi đã nói rằng tôi sẽ đi hai mươi hải lý”. Thậm chí trong lời nói của ông còn thoáng chút hài lòng.
            - Nếu lấy vợ có khi ông đã phải ân hận cũng nên. - Bà nói.
            Tôi trò chuyện một lát với ông già về Trung Quốc.
            - Tôi biết các cảng Trung Hoa còn rõ hơn các ngài biết trong túi mình có thứ gì. Tất cả nơi nào tàu bè vào được tôi đều đã đến. Ngài có thể ngồi đây suốt ngày trong nửa năm trời tôi cũng không kịp kể cho ngài nghe hết dù một nửa những gì đã từng nếm trải.
            - Tôi thấy vẫn còn một việc ông chưa làm nổi. - Bà Mêđâu nói, trong mắt vẫn ánh lên nụ cười mỉa mai nhưng phúc hậu. - Ông chưa giàu lên được.
            - Tôi đâu phải loại người ki cóp làm giàu. Kiếm tiền rồi xài hết, đó là phương châm sống của tôi. Tôi chỉ có thể nói một điều: Nếu bây giờ phải bắt đầu lại cuộc đời mình thì tôi sẽ sống y như cũ. Cũng chẳng có nhiều người dám nói thế đâu.
            - Đúng vậy. - Tôi nhận xét. Tôi ngước nhìn ông một cách thán phục. Đó chính là ông già móm mém, thân hình rúm ró vì bệnh thấp khớp, trong túi chẳng có lấy một xu, nhưng ông đã sống một cuộc đời tuyệt diệu vì biết cách hưởng thụ nó. Khi tôi chào tạm biệt ông, ông già mời tôi hôm sau lại đến. Nếu tôi muốn nghe chuyện Trung Hoa, ông sẽ kể cho nghe bao nhiêu cũng được.
            Sáng hôm sau, tôi quyết định sang thăm dò xem ông già còn muốn gặp mình không. Tôi chậm rãi đi dọc hàng du đẹp đẽ. Tới bên vườn, tôi nhìn thấy bà Mêđâu đang hái hoa. Nghe tôi chào, bà ta đứng thẳng dậy. Trong tay bà đã có cả một ôm hoa trắng. Tôi ngoảnh về phía ngôi nhà và thấy các cửa sổ đều buông rèm. Điều này làm tôi ngạc nhiên: bà Mêđâu ưa thích ánh sáng trời. “Đến lúc được chôn cất sẽ còn đủ thời gian mà nằm trong bóng tối. - Bà thường nói vậy.
            - Thuyền trưởng Mêđâu có khoẻ không? - Tôi hỏi.
            - Ông ấy bao giờ cũng là một anh chàng nông nổi. - Bà trả lời.
            - Hôm nay, khi Lidi đem trà lên thì ông ấy đã chết rồi. - Chết rồi?
            - Vâng, ông ấy chết trong giấc ngủ. Tôi đang hái hoa để cắm vào phòng ông ấy đây. Tôi mừng là ông ấy được chết trong ngôi nhà cũ. Mọi người trong gia đình Mêđâu đều cho rằng họ phải chết đúng ở nơi này. Đêm vừa rồi, rất khó thuyết phục ông già đi ngủ. Ông kể mãi những sự kiện trong cuộc đời dằng dặc của mình. Ông hết sức vui sướng được trở về ngôi nhà cũ, tự hào đã đi hết hàng cây chẳng cần sự giúp đỡ của ai và nói khoác rằng sẽ sống thêm hai mươi năm nữa. nhưng số phận đã tỏ ra từ tâm đối với ông ấy: cái chết đã đặt dấu chấm hết rất đúng lúc. Bà Mêđâu ngửi bông hoa trắng đang cầm trên tay.
            - Tôi mừng là ông ấy đã trở về. - Bà nói.
            - Sau khi tôi lấy ông Mêđâu, còn Gióocgiơ ra đi, chưa bao giờ tôi hoàn toàn tin chắc rằng sự lựa chọn của mình là đúng.
8/4/12

Chuỗi hạt trân châu - William Somerset Maugham

Chuỗi hạt trân châu
William Somerset Maugham
Hiếu Tân dịch

            “Không biết diễm phúc nào cho tôi được ngồi gần anh thế này?” Laura nói khi chúng tôi ngồi ăn tối.
           
“Để rồi xem. Tôi đặc biệt muốn có cơ hội được nói chuyện với anh. Tôi có câu chuyện muốn kể với anh”
            Nghe thế tim tôi hơi lịm đi.
            “Tốt nhất là cô hãy nói về bản thân cô”. Tôi trả lời. “Hay thậm chí nói về tôi”
            “Ồ nhưng tôi phải kể anh nghe câu chuyện này. Tôi nghĩ là anh có thể sử dụng nó”
            “Nếu cô phải kể thì đúng là cô phải kể rồi. Nhưng trước hết ta hãy ngó qua thực đơn đã”
            “Anh không muốn tôi kể ư?” Cô nói giọng có vẻ hờn dỗi. “Tôi nghĩ anh phải thích thú mới đúng”
            “Tôi thích chứ. Có lẽ cô đã viết một vở kịch và muốn đọc nó cho tôi nghe”
            “Câu chyện này xảy ra cho mấy người bạn của tôi. Nó hoàn toàn thật”
            “Thế thì chẳng hấp dẫn lắm đâu. Một câu chuyện thật không bao giờ hoàn toàn thật như một câu chuyện bịa”
            “Thế nghĩa là sao?”
            “Không có nghĩa gì lắm” Tôi thú nhận. “Nhưng tôi nghĩ nghe nó có vẻ hay”
            “Tôi muốn anh để tôi kể tiếp”
            “Tôi đang dỏng tai lên đây. Tôi sẽ không ăn món xúp này, nhiều mỡ quá”
            Cô liếc tôi rồi ngó qua tờ thực đơn. Cô buông một tiếng thở dài.
            “Thôi được, nếu anh từ chối món này thì tôi cũng phải bỏ thôi. Tôi không thể tùy tiện với vóc dáng của mình”
            “Tuy thế, liệu có món xúp nào tuyệt vời hơn món xúp mà cô cho quá nhiều kem vào không?”
            “Borscht” Cô thở dài “Đấy là món xúp duy nhất mà tôi thật sự thích”
            “Thôi. Cô kể câu chuyện của cô đi và ta hãy quên đồ ăn cho đến khi món cá được mang ra”
            “Ờ chuyện xảy ra đúng lúc tôi có mặt ở đó. Tôi đang ăn tối với gia đính Livingstone. Anh có biết vợ chồng Livingstone không?”
            “Không. Tôi không nghĩ là có biết họ”
            “Ấy, anh có thể hỏi họ và họ sẽ xác nhận từng lời tôi nói. Họ yêu cầu nữ gia sư cùng ngồi ăn tối với họ, bởi vì có bà đã bỏ về giữa chừng – anh thấy người ta mất lịch sự như thế đấy– khiến cho bàn ăn còn lại mười ba người. Nữ gia sư là Cô Robinson, một thiếu nữ rất dễ thương, trẻ, anh biết không, độ hai mươi hai mốt gì đó, và khá xinh. Cứ như tôi chẳng bao giờ tôi thuê một nữ gia sư trẻ và xinh đẹp. Ai mà biết được”
            “Nhưng người ta bao giờ cũng hy vọng có cái tốt nhất”
            Laura chẳng để ý gì đến nhận xét của tôi.
            “Chuyện có thể xảy ra là cô ta suốt ngày mơ tưởng đến các chàng trai trẻ thay vì phải chuyên chú vào bổn phận của mình, và khi cô ta vừa quen với cung cách của nhà mình thì cô ta xin ra và đi lấy chồng. Nhưng cô Robinson này được giới thiệu rất tốt, và tôi phải nhận rằng cô ấy là một người rất dễ thương và đáng kính trọng. Tôi tin rằng cô ấy là con một mục sư.

            “Trong bữa tiệc có một người đàn ông, tôi nghĩ chưa bao giờ anh nghe tiếng ông ấy, nhưng ông ấy là người cực kỳ nổi tiếng trong lĩnh vực của mình. Ông ấy là bá tước Borselli và ông ấy biết nhiều về đá quý hơn bất kỳ ai trên thế giới. Ông ấy ngồi cạnh Mary Lyngate, bà này rất hãnh diện về chuỗi hạt trân châu của mình và trong câu chuyện bà hỏi ông ấy nghĩ thế nào về chuỗi hạt mà bà đang đeo. Ông ấy bảo nó rất đẹp. Bà ta có vẻ hơi tự ái khi nghe thế, và bảo nó trị giá tám ngàn bảng Anh.
            “ ‘Vâng, nó phải có giá đến thế’ Ông ấy nói.
            “Cô Robinson ngồi đối diện với ông ấy. Trông cô ấy tối nay rất xinh. Tất nhiên tôi nhận ra bộ váy cô ta đang mặc là bộ váy cũ của Sophie, nhưng nếu anh không biết cô Robinson là gia sư anh không bao giờ ngờ điều đó.
            “ ‘Chuỗi vòng đeo cổ của tiểu thư đẹp quá’ Ông ấy nói.
            “ ‘Ồ, nhưng đó là gia sư của bà Livingstone’ Mary Lyngate nói.
            “ ‘Tôi không thể  không nói lên cảm nghĩ của mình’ ông ấy nói ‘Cô ấy đang đeo một trong những chuỗi hạt trân châu đẹp nhất của cỡ ấy mà tôi chưa bao giờ được nhìn thấy trong đời. Nó phải đáng giá đến năm mươi ngàn bảng Anh’
            “ ‘Vớ vẩn’
            “ ‘Tôi xin thề với bà đấy’
            “ Mary Lyngate nhoài người lên. Bà ta có một giọng nói the thé nhức óc.
            “ ‘Cô Robinson, cô có biết bá tước Borselli vừa nói gì không?’ bà ta giải thích ‘Ông ấy nói rằng chuỗi hạt trân châu cô đang đeo có giá năm mươi ngàn bảng đấy’
            “ Đúng lúc đó có quãng ngừng ngắn trong cuộc trò chuyện và mọi người đều nghe thấy câu đó. Tất cả chúng tôi quay lại nhìn cô Robinson. Cô hơi đỏ mặt lên và cười:
            “ ‘À, tôi mua được món hời’ cô nói ‘bởi vì tôi đã trả mười lăm siling để mua nó’
            “ ‘Chắn chắn là thế rồi’
            “ Tất cả chúng tôi đều cười. Tất nhiên điều đó là phi lý. Tất cả chúng tôi đã nghe câu chuyện về những bà vợ đánh lừa chồng rằng chuỗi hạt châu là giả trong khi nó là thật và cực đắt.    Chuyện này xưa như trái đất.
            “Cám ơn” Tôi vừa nói vừa nghĩ ra một câu chuyện kể của mình.
            “Nhưng sẽ là vớ vẩn khi nghĩ rằng cô gia sư vẫn cứ là gia sư khi cô ta có chuỗi hạt trân châu trị giá năm mươi ngàn bảng. Rõ ràng bá tước Borselli đã lầm lớn. Thế rồi một sự việc lạ lùng xảy ra.  Sự trùng hợp ngẫu nhiên đã cho thấy quyền năng của nó”
            “ Không phải thế” tôi bác lại “Cô đã đọc cuốn sách đáng yêu có tên gọi là Từ điển cách dùng từ Tiếng Anh chưa?”
            “Tôi xin anh đừng ngắt lời tôi khi tôi kể đến đoạn gay cấn nhất.
            Nhưng tôi vẫn phải ngắt lời cô lần nữa, vì có món cá hồi nướng vỉ vừa được nhẹ nhàng đưa vòng qua bên trái tôi.
            “Bà Livingstone đã đãi một bữa tiệc ngon tuyệt trần”
            “Món cá hồi này có béo không?” Laura hỏi
            “Rất béo” Tôi trả lời và lấy một miếng lớn.
            “Xạo’ Cô ta nói.
            “Tiếp tục” Tôi nói “ Quyền năng của sự trùng hợp ngẫu nhiên sắp chơi một vố”
            “À, đúng lúc đó người quản gia ghé xuống cô Robinson và nói thầm gì đó vào tai cô. Tôi thấy cô ta hơi tái mặt đi. Thật sai lầm là cô ta đã không đánh phấn, vì đâu có biết chuyện ngẫu nhiên quái ác gì sẽ xảy đến. Rõ ràng là cô ta có vẻ hoảng hốt. Cô ta nhoài người lên.
            “Bà Livingstone, Dawson nói có hai người đang ở tiền sảnh muốn nói chuyện với tôi ngay bây giờ”
            “ ‘Được, thế thì cô đi đi’ Bà Livingstone nói.
            “Cô Robinson đứng lên ra khỏi phòng. Tất nhiên cùng một ý nghĩ thoáng qua đầu óc của mọi người, nhưng tôi nói ra đầu tiên.
            “ ‘Tôi hy vọng người ta không đến để bắt cô ấy’ tôi nói với Sophie Livingstone. ‘Như thế sẽ là điều khủng khiếp đối với chị, bạn thân mến ạ’.
            “ ‘Ông có chắc nó là chuỗi hạt thật không, Borselli?’ bà hỏi
            “ ‘Ồ, hoàn toàn chắc’
            “ ‘Cô ấy khó lòng có can đảm đeo nó tối nay nếu nó là đồ ăn trộm’ Tôi nói.
            “Sophie Livingstone tái nhợt đi dưới lớp son phấn và tôi thấy bà ấy đang nghĩ không biết hộp nữ trang của bà có sao không. Tôi chỉ có một chuối hạt kim cương nhỏ, nhưng tôi bất giác sờ lên cổ để chắc nó vẫn còn đấy.              
            “ ‘Ôi, nhưng cô ấy có những lời giới thiệu rất tốt’ Sophie nói.
            “ ‘Người ta bao giờ chả nhận xét tốt.’ Tôi nói.”
            Tôi thấy nhất định phải ngắt lời Laura một lần nữa.
            “Hình như cô đã không quyết định có cái nhìn sáng sủa hơn trong vụ này” Tôi nói.
            “Tất nhiên tôi không biết điều gì xấu về cô ấy và tôi có đủ lý do để nghĩ cô ấy là một cô gái rất dễ mến, nhưng quả thật đáng rùng mình khi phát hiện ra rằng cô ta là một kẻ trộm khét tiếng và là thành viên lừng danh của một băng lừa đảo quốc tế.”
            “Cứ y như ở trong phim. Tôi sợ rằng một chuyện cực kỳ như thế chỉ có thể xảy ra ở trong phim”
            “Ờ, chúng tôi nín thở chờ đợi trong nghi ngờ. Tôi chờ nghe một cuộc ẩu đả ít nhất cũng là những tiếng kêu thét bị bịt lại. Tôi nghĩ sự im lặng này rất đáng ngại. Rồi cửa mở ra và cô Robinson bước vào. Tôi nhận thấy ngay chuỗi hạt không còn trên cổ cô nữa. Tôi thấy cô tái xanh và kích động. Cô trở lại bàn, ngồi xuống, mỉm cười và ném lên đó__”
“Lên đâu?”
            “Lên bàn. Anh ngốc. Một chuỗi hạt”
            “ ‘Đây chuỗi hạt của tôi’ cô ta nói.
            Bá tước Borselli nhoài người lên nhìn.
            “ ‘Nhưng đây là chuỗi hạt giả’ Ông nói.
            “ ‘Tôi đã bảo ông nó là giả mà’ Cô ta cười.
            “ ‘Đây không phải là chuỗi hạt mà cô đeo lúc trước’ Ông nói
            “ ‘Cô ta lắc đầu và cười một vẻ bí hiểm. Mọi người chúng tôi tò mò. Tôi đã không biết rằng bà Livingstone rất thích thú vì cô gia sư đã trở thành trung tâm chú ý của mọi người như thế, và tôi tưởng có một vẻ nghi ngờ chua chát trong thái độ của bà khi bà đề nghị cô Robinson tốt nhất hãy giải thích mọi việc. Vâng, cô Robinson nói khi cô ra tiền sảnh cô thấy hai người đàn ông nói họ từ Tiệm Jarrot đến. Cô đã mua chuỗi hạt của cô ở đấy, với giá mười lăm siling. Cô đã mang nó gửi lại vì cái móc bị lỏng và mới lấy nó về chiều hôm nay. Hai người đàn ông kia nói người đã đưa nhầm chuỗi hạt cho cô. Có ai đó đã đem gửi một chuỗi hạt thực để xâu chuỗi lại và người bán hàng đã nhầm. Tất nhiên tôi không thể hiểu có ai lại ngu ngốc đến mức đem chuỗi hạt thật có giá trị đến tiệm Jarrot, họ đâu có quen với những loại công việc như thế, và họ không biết phân biệt ngọc trai thật với giả, nhưng anh biết có những người đàn bà ngu ngơ thế đấy. Dù sao đó cũng là chuỗi hạt mà Cô Robinson đã đeo, và nó trị giá năm mươi ngàn bảng Anh. Tất nhiên cô trả lại chuỗi hạt cho họ – cô còn có thể làm gì khác, tôi nghĩ thế, dù có phải tiếc đứt ruột, và họ trả lại chuỗi hạt của cô cho cô, rồi họ nói rằng mặc dầu tất nhiên họ không có bổn phận gì – anh biết cái lối ngu ngốc, rỗng tuếch khi người ta cố làm ra vẻ trịnh trọng – họ được lệnh, như một sự an ủi, hay anh muốn gọi là gì cũng được, biếu cô một tấm séc ba trăm bảng. Cô Robinson quả thực đã đưa nó ra cho chúng tôi xem. Cô tỏ ra hết sức tự đắc”
            “Ồ, chẳng phải là một sự may mắn bất ngờ sao?”
            “Anh có thể nghĩ thế. Nhưng kết cục thì hóa ra cô ta hỏng”
            “Ô, chuyện thế nào?”
            “Ờ khi đến thời gian nghỉ hè cô ta nói với Sophie Livingstone rằng cô đã quyết định đi Dauville một tháng và tiêu cho hết ba trăm bảng. Tất nhiên Sophie cố thuyết phục cô ta đừng làm thế và khuyên cô nên gửi số tiền ấy vào ngân hàng tiết kiệm, nhưng cô ta không nghe. Cô ta nói từ trước đến giờ cô chưa bao giờ có một cơ hội như thế và sau này cũng sẽ không có lại lần nữa, nên cô quyết định sẽ sống ít nhất bốn tuần lễ như một bà công tước. Sophie quả thật không thể làm gì hơn nên đành để cô đi. Bà ấy bán cho cô Robinson những quần áo cũ của bà ấy, những quần áo mà bà đã mặc qua và bây giờ bà ta mắc cỡ đến chết với chúng, bà ấy nói bà ấy cho cô ta nhưng tôi không nghĩ là bà ấy thật sự làm thế, tôi chắc bà ấy đã bán rất rẻ, và cô Robinson lên đường, chỉ có một mình, đi Dauville. Anh thử đoán xem sau đó chuyện gì đã xảy ra?”
            “Tôi chẳng có một ý niệm gì” Tôi nói “Chắc cô ấy đã sống một thời gian đế vương”
            “Ờ một tuần trước khi đến hạn trở về, cô ta viết cho Sophie nói cô đã thay đổi kế hoạch, đã chuyển sang làm nghề khác và xin bà Livingstone tha thứ nếu cô không trở lại. Tất nhiên Sophie tội nghiệp giận điên lên. Sự thật là ở Dauville Robinson đã cua được một chàng Argentine giàu có và đã tếch đi Paris với chàng ta. Cô ta ở Paris từ bấy đến giờ. Chính tôi đã gặp cô ta ở Florence với những vòng vàng lên đến tận khuỷu tay và những chuỗi ngọc trai quấn quanh cổ. Cô nói vợ chồng cô có ngôi nhà ở Rừng Bulônhơ và tôi biết cô có một chiếc Rolls Royce. Cô ta đã đá anh chàng Argentine vài tháng sau đó để cặp một gã Hylạp, tôi không biết bây giờ cô ta sống với ai, nhưng dù đoán già đoán non thì cô ta cũng là người sang trọng bậc nhất Paris rồi”
            “Tôi kết luận rằng khi cô nói cô ta đã hỏng, thì cô dùng từ này theo nghĩa thuần túy kỹ thuật” Tôi nói.
            “ Tôi không biết anh định nói gì” Laura nói “Nhưng anh không nghĩ anh có thể viết một truyện từ câu chuyện này sao?”
            “Đáng tiếc là tôi đã viết một truyện ngắn về chiếc vòng cổ ngọc trai rồi. Người ta không thể cứ viết mãi về một chiếc vòng cổ ngọc trai.”
            “Tôi cũng đang dự định tự mình sẽ viết truyện này. Chỉ có điều tất nhiên tôi sẽ thay đổi cái kết của nó”
            “Ồ, cô sẽ kết thúc nó như thế nào?”
            “Ờ tôi sẽ để cho nàng đính hôn với một viên chức nhà băng, chàng bị thương trong chiến tranh chẳng hạn chỉ còn một chân hay mất một nửa khuôn mặt, và họ cực kỳ nghèo túng, không có triển vọng gì cho cuộc hôn nhân của họ trong nhiều năm, và có thể chàng đã bỏ tất cả tiền tiết kiệm ra để mua một ngôi nhà ở ngoại ô và họ đã dự định làm đám cưới khi chàng trả xong khoản trả góp cuối cùng. Rồi đúng lúc đó nàng lấy cho chàng ba trăm bảng, chàng không thể nào tin nổi, họ vô cùng hạnh phúc và chàng khóc trên vai nàng. Rồi chàng cười như một đứa trẻ. Và họ có ngôi nhà ở ngoại ô và họ cưới nhau, và bà mẹ già của chàng sống cùng với họ, và ngày ngày chàng đến nhà băng, và nếu nàng giữ gìn cẩn thận chưa vội có con thì nàng vẫn có thể đi ra làm gia sư hàng ngày, và chàng thì thường xuyên ốm yếu – vì những vết thương của chàng, anh hiểu không – và nàng săn sóc chàng và mọi thứ thật lâm ly, ngọt ngào và êm ái”
            “Nhưng sao tôi nghe có vẻ cải lương quá”
            “Đúng, nhưng nó có tác dụng giáo dục đạo đức”.
22/2/12

Kiến và ve sầu - Somerset Maugham


Kiến và ve sầu
William Somerset Maugham
Prusten dịch

Khi còn nhỏ, tôi thường được nghe kể những câu chuyện ngu ngôn của La Fontaine và người ta không bao giờ quên giải thích cho tôi rất cẩn thận về ý nghĩa của câu chuyện. Trong số đó có chuyện Kiến và Ve sầu mà người lớn thường dùng để thuyết phục bọn trẻ rằng trong thế giới không hoàn hảo này người chăm chỉ luôn được đền bù và những kẻ lười biếng sẽ bị trừng trị. Trong câu chuyện ngụ ngôn đáng trân trọng này - tôi xin được kể lại một giai thoại rất phong nhã nhưng không chính xác mà hầu như ai cũng biết – Kiến làm việc cần cù suốt mùa hè để tích đồ dự trữ cho mùa đông trong khi Ve sầu suốt ngày chỉ ca hát dưới ánh nắng mặt trời. Khi mùa đông đến, Kiến có đầy đồ dự trữ còn Ve sầu thì chẳng còn gì để ăn nữa, nó phải đến nhà Kiến xin ăn. Và đây là câu trả lời của Kiến:
- Chị đã làm gì trong suốt mùa hè?
- Ngày đêm tôi ca hát, cho mọi người cùng nghe.
- Chị hát à? Vậy giờ hãy nhảy múa đi.
Chưa bao giờ tôi thích coi trọng bài học của câu chuyện này, có lẽ không phải vì tính chống đối mà là bởi tính trẻ con hay coi nhẹ những lời giáo huấn. Lúc đó tôi đứng về phía Ve sầu và mỗi khi nhìn thấy một con kiến tôi không thể ngăn mình lấy chân di lên nó. Cái phản ứng đơn giản ấy – sau này tôi hiểu là hoàn toàn thuộc bản năng của con người - là để thể hiện sự phản đối với lẽ thường.
Một ngày nọ khi nhìn thấy George Ramsay ngồi ăn trưa một mình trong nhà hàng tự nhiên tôi lại nghĩ tới câu chuyện ngụ ngôn ấy. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một gương mặt buồn đến vậy. Đôi mắt vô hồn nhìn thẳng về phía trước. Như thể tất cả những bất hạnh trên thế giới này đều trút xuống đầu ông ta. Ông ta làm cho tôi cảm thấy thương hại và tôi đã đoán ngay được rằng ông em trai bất hạnh của ông ta đã lại gây chuyện rồi. Tôi đến tận bàn bắt tay ông ta hỏi thăm.
- Tôi đang rất buồn. - Ông ta nói.
- Lại là Tom ư?
- Đúng thế, lại là nó. – Ông ta nói và thở dài.
- Tôi không hiểu tại sao ông không bỏ mặc hắn đi. Ông đã làm tất cả cho hắn. Từ lâu rồi ông vẫn biết là vô phương cứu chữa với hắn rồi cơ mà.
Tôi nghĩ rằng không một gia đình nào mà không có chuyện. Đã hai mươi năm nay rồi Tom đã gây khó khăn cho gia đình mình. Mọi sự đã khởi đầu rất tốt đẹp: Tom làm nghề kinh doanh, đã có vợ và hai con. Gia đình Ramsay rất có tiếng tăm và người ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng Tom sẽ có một sự nghiệp đáng nể và sẽ là một người có ích cho xã hội. Thế nhưng một ngày anh ta tuyên bố một cách tự nhiên rằng mình không thích công việc và cuộc sống hôn nhân không phù hợp với mình. Rồi anh ta bỏ công việc, bỏ vợ ra đi, bỏ ngoài tai mọi lời khiển trách. Số tiền tiết kiệm đã cho phép anh ta sống hai năm hạnh phúc, du lịch khắp các thủ đô Châu Âu. Anh ta làm tất cả những gì mình thích. Thỉnh thoảng tin tức về anh ta đến tai gia đình và họ rất phẫn nộ. Họ lắc đầu và tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi anh ta hết tiền. Và họ đã nhanh chóng biết được điều đó: anh ta bắt đầu vay mượn tiền.
Đó là một người đàn ông quyến rũ và không biết ngại ngùng là gì. Chưa bao giờ tôi thấy một ai mượn tiền dễ đến thế. Anh ta thường xuyên mượn được tiền của bạn bè và chẳng khó khăn gì trong việc mở rộng tầm quan hệ của mình. Anh ta luôn nói rằng không thể chịu được mức sống tối thiểu, chi tiêu cho những việc xài sang mới làm cho anh ta thích thú. Để có thể sống được như vậy, anh ta tính dựa vào anh trai mình: George.
Thực ra lừa phỉnh George chẳng dễ dàng gì. Đó là một người đàn ông đạo mạo, khô khan và dửng dưng trước những lời lẽ nịnh bợ. Một hai lần George đã tin vào những lời hứa hối cải của Tom và đã cấp cho anh ta những khoản tiền đáng kể để giúp hắn làm lại từ đầu. Với những khoản tiền đó Tom đã mua xe ôtô và sắm một bộ sưu tập đồ trang sức rất đẹp. Khi George nhận ra rằng em trai mình sẽ chẳng bao giờ quy thuận và chẳng thèm quan tâm tới nữa thì Tom bắt đầu chuyển sang tống tiền anh trai mình một cách trơ trẽn. Đối với một người đáng kính như George thì quả thật là không hay chút nào khi thấy em trai mình đứng đằng sau quầy bar pha cocktail mỗi khi đến quán ăn mình ưa thích hay làm người lái taxi đỗ trước cửa câu lạc bộ của mình. Tom nói rằng những công việc này chẳng có gì là xấu nhưng nếu như George có thể cho anh ta vay hai trăm bảng thì anh ta sẽ sẵn sang hy sinh công việc của mình vì danh dự gia đình. Và George luôn phải chi tiền.
Thậm chí có một lần Tom đã suýt phải ngồi tù và George lại được gọi đến. George đã nghiên cứu rất kỹ càng hồ sơ, thực sự không xứng đáng với danh dự của em trai mình. Quả thực là Tom đã vượt quá giới hạn cho phép. Tom vẫn luôn sống lông bông, cẩu thả và ích kỷ nhưng cho đến lúc ấy anh ta vẫn chưa bao giờ làm gì bất lương – với George nghĩa là bất hợp pháp – nhưng lần này nếu bị kiện ra tòa thì chắc chắn là sẽ bị kết án. Khi chỉ có một người em trai duy nhất làm sao người ta có thể để cho em mình bị cầm tù được! Người đã bị Tom lừa, một gã Cronshaw nào đó, là một người hay thù oán. Hắn nhất quyết muốn kiện ra tòa, hắn nói Tom là một tên vô lại cần phải bị trừng trị. Để cho vụ việc trôi qua êm thấm George đã phải rất mềm mỏng và chi ra năm trăm bảng. Chưa bao giờ tôi thấy George giận giữ đến vậy khi ông ta biết được rằng Tom và Cronshaw đã cùng nhau đi Monte-Carlo ngay sau khi lấy được tiền và đã sống một tháng vương giả tại đó.
Hai mươi năm ròng Tom chơi cá cược đua ngựa, lui tới những sòng bạc, tán tỉnh và nhảy với những cô gái đẹp nhất, ăn trong những nhà hàng sang trọng nhất và ăn mặc sành điệu. Anh ta lúc nào cũng rất chải chuốt. Đã bốn mươi sáu tuổi rồi nhưng người không biết thì đoán anh ta không quá ba nhăm. Anh ta nói chuyện rất có duyên và ngay cả những người biết rõ những tính xấu của anh ta cũng phải cảm thấy thú vị. Anh ta tràn đầy sức sống, luôn vui vẻ và có sức quyến rũ không ai bằng. Chưa bao giờ tôi cảm thấy hối tiếc những khoản mà anh ta vẫn đều đặn vay tôi để trang trải cho nhu cầu cuộc sống. Khi tôi cho anh ta vay năm mươi bảng mỗi lần tôi có cảm giác như mình có nợ với anh ta. Tom Ramsay giao du với tất cả mọi người và tất cả mọi người giao du với anh ta. Người ta không thể tán thành lối sống của anh ta nhưng cũng không thể không thấy anh ta dễ mến.
George đáng thương, chỉ lớn hơn người em trai vô dụng của mình có một tuổi lại có vẻ của một ông già sáu mươi. Từ một phần tư thế kỷ nay ông ấy chưa bao giờ nghỉ ngơi quá hai tuần một năm. Ngày nào ông cũng có mặt ở văn phòng từ chín rưỡi sáng và không bao giờ về nhà trước sáu giờ tối. Đó là một người thanh liêm, chăm chỉ và đạo mạo. Ông ấy có một bà vợ đức hạnh, bốn cô con gái và ông luôn là người chồng chung thủy, người bố tốt nhất thế giới. Ông không bao giờ quên để dành một phần ba thu nhập của mình và dự định sẽ nghỉ hưu ở tuổi năm mươi lăm, về sống ở ngôi biệt thự nhỏ của mình ở nông thôn chơi golf và vui thú điền viên. Cuộc sống của ông chẳng có gì chê trách được. Ông rất vui khi thấy mình đã già vì nghĩ rằng Tom cũng già đi cùng lúc. Ông xoa tay nói:
- Mọi thứ còn được như thế chừng nào nó còn trẻ và còn sức quyến rũ. Nhưng ta chỉ hơn nó có một tuổi, bốn năm nữa là nó sẽ bước vào tuổi năm mươi rồi. Cuộc sống của nó sẽ chẳng còn dễ dàng nữa. Ta cũng sẽ ở vào cùng tuổi đó nhưng với ba mươi nghìn bảng tiết kiệm. Từ một phần tư thế kỷ nay ta vẫn luôn nói rằng cuối cùng nó sẽ trắng tay. Lúc đó để xem nó thấy thế nào. Để xem lao động hơn hay chơi bời hơn chứ.
George đáng thương! Lúc này đang ngồi cạnh ông ấy tôi thực sự thông cảm với nỗi khổ tâm của ông ấy. Tôi tự hỏi không biết Tom đã lại gây ra điều ô nhục gì nữa đây. Trông George thực sự rất đau khổ.
- Ông có biết điều gì vừa xảy ra không? George hỏi tôi.
Tôi nghĩ đến điều kinh khủng nhất: cuối cùng Tom đã bị cảnh sát bắt giữ chăng?
George tỏ ra rất uất hận.
- Ông cũng công nhận rằng tôi đã luôn chăm chỉ, đứng đắn, trung thực và đàng hoàng chứ? Tôi đã suốt một đời lao lực, tằn tiện để hy vọng có thể nghỉ ngơi với một chút đỉnh thu nhập từ các khoản đầu tư chắc chắn. Tôi đã luôn làm những gì mình phải làm, sống đúng như những gì Chúa dạy.
- Đúng thế.
Mặt George đỏ rực lên.
- Cách đây mấy tuần hắn ta đã cưới một bà đáng tuổi mẹ hắn. Bà ta vừa chết để lại cho hắn ta toàn bộ gia tài: năm trăm nghìn bảng, một chiếc du thuyền, một căn nhà ở London và một căn nhà ở nông thôn.
Và George đấm bàn thùm thụp với nắm tay siết chặt và nhắc đi nhắc lại:
- Không công bằng! Thật không công bằng một chút nào! Rất không công bằng!
Tôi đã không ngăn được mình phá lên cười khi tôi nhìn thấy cơn giận lôi đình trên mặt ông ấy. Tôi cười rũ rượi đến nỗi suýt ngã khỏi ghế.
George chẳng bao giờ tha thứ cho tôi, nhưng Tom thường mời tôi dự những bữa tối thịnh soạn trong ngôi nhà sang trọng của ông ta trong khu phố Mayfair và đôi khi ông ta vẫn mượn tôi những khoản tiền nhỏ, nhưng đó chỉ là theo thói quen, chẳng bao giờ ông ta vay tôi quá một bảng.
21/2/12

Cao chạy xa bay - Somerset Maugham


Cao chạy xa bay (Escape)
William Somerset Maugham
Nguyễn Tất Thành dịch

            Từ trước tới nay tôi vẫn tin rằng hễ khi một người phụ nữ đã rắp tâm lấy một người đàn ông thì không gì có thể cứu nổi anh ta ngoài việc bỏ của chạy lấy người ngay lập tức. Thực tế, không phải lúc nào người ta cũng làm được như vậy, bởi vì có một lần, một người bạn của tôi khi thấy mối nguy cơ tất yếu đang lù lù hiện ra đầy đe doạ trước mắt, anh ta liền xuống tàu từ một hải cảng nào đó (tất cả hành lý của anh lúc đó chỉ vẻn vẹn có một chiếc bàn chải đánh răng mà thôi, điều đó chứng tỏ rằng anh đã ý thức sâu sắc tới mức nào về mối nguy cơ và sự cần thiết phải hành động tức thời không chậm trễ ấy), và anh đã bỏ ra cả một năm trời đi chu du vòng quanh thế giới. Nhưng khi thầm nghĩ rằng mình đã thoát nạn (anh ấy cho rằng phụ nữ hay thay lòng đổi dạ, và sau mười hai tháng trời đằng đẵng, chắc chắn nàng đã quên hết chuyện cũ), anh đã lên bờ ở chính cái hải cảng năm xưa, thì người đầu tiên anh thấy đang vẫy tay hân hoan mừng đoán anh từ trên bến cảng lại chính là người phụ nữ bé bóng mà anh đã bỏ trốn.
            Một lần khác tôi được biết có một anh chàng trong tình huống như vậy đã tìm trăm phương nghìn kế để thoát thân. Tên anh là Rô-giơ Cha-rinh. Anh ta không còn trẻ trung gì khi đem lòng yêu Rút Bác-lâu. Hẳn anh đã có đủ kinh nghiệm để khiến mình phải cảnh giác, tuy nhiên Rút Bác-lâu có mọt cái tài trời ban cho (không biết tôi có nên gọi đó là một biệt tài không?), tài này làm đa số cánh tu mi nam tử hết phương tự vệ, và chính biệt tài này đã làm cho Rô-giơ mất cả lý trí thông thường, tính thận trọng và sự khôn ngoan của con người trần tục của anh. Anh đã ngã gục từ loạt đạn đầu. Biệt tài đó chính là tính đa sầu đa cảm của nàng.
            Bà Bác-lâu, - vì chính nàng đã goá hai đời chồng, - có đôi mắt huyền mơ tuyệt vời, cwapjmắt long lanh gợi cảm nhất mà tôi chưa hề được thấy bao giờ. Cặp mắt nàng lúc nào cũng như đẫm lệ, chúng toát lên ý nghĩa rằng cuộc đời này quá sức chịu đựng của nàng, và ta cảm thấy rằng những nỗi khốn khổ, những nối đau thương của nàng thật không ai có thể sánh nổi. Như Rô-giơ Cha-rinh, ví thử bạn là một người đàn ông khoẻ mạnh, lực lưỡng, lại lắm bạc nhiều tiền, thì ắt hẳn bạn sẽ phải tự nhủ rằng: ta phải ra tay chặn đứng những nỗi bất công của cuộc đời đối với con người bé bỏng, yếu đuối đáng thương này. Ôi, được làm tiêu tan nỗi u sầu trên khoé mắt tròn xoe đáng yêu kia của nàng thì thật là một điều kỳ diệu biết chừng nào.
            Qua Rô-giơ, tôi được biết rằng mọi người đã đối xử với Rút Bác-lâu rất tệ bạc. nàng quả là một trong số những con người bất hạnh chẳng hề gặp chuyện gì tử tế bao giờ. Nếu nàng lấy chông, hắn đánh đập nàng, nếu nàng thuê một tay môi giới thì hắn lừa dối nàng, nếu nàng mượn một tay nấu bếp thì hắn lại luôn luôn say mèm. Chưa bao giờ nàng gặp một điều gì may mắn cả.
            Khi Rô-giơ bảo cho tôi biết là cuối cùng anh đã thuyết phục được nàng lấy anh, tôi đã chúc anh hạnh phúc.
            - Tôi hy vọng anh và cô ta sẽ là những người bạn tốt của nhau, - Rô-giơ nói, - Cô ấy có hơi ngại anh, cô ấy cho rằng anh chai đá lắm.
            - Tôi xin thề tôi không hiểu tại sao chị ấy lại nghĩ như vậy.
            - Anh cũng thích cô ấy chứ?
            - Rất thích.
            - Cô ấy đã có một thời sa ngã, thật đáng thương. Tôi cảm thấy sao mà ái ngại cho cô ta thế.
            - Thế à, - Tôi nói.
            Tôi không thể nói ít hơn được. Tôi biết Rút Bác-lâu là một con người dớ dẩn và tôi cho rằng ả đang mưu toan gì đây. Riêng tôi, tôi vẫn tin rằng ả rắn như đanh.
            Lần đầu tiên tôi biết Rút Bác-lâu là khi chúng tôi cùng nhau chơi bài bridge, và khi ả chơi cùng hội với tôi, ả đã đánh lận hai quân bài cao nhất của tôi. Tôi đã đối xử như một người quân tử, nhưng tôi cũng phải thú thực rằng chính tôi, chứ không phải ả, là người đã phải phát khóc lên. Thế rồi, vào khoảng chiều tối hôm đó, khi ả đã thua một số tiền lớn, ả hứa là sẽ gửi séc để trả tôi nhưng không bao giờ trả cả. Tôi chỉ có thể nghĩ rằng nếu lần sau gặp nhau, thì chính tôi chứ không phải ả, là người sẽ mang cái vẻ mặt lâm ly rầu rĩ.
            Rô-giơ đưa Rút Bác-lâu đi giới thiệu với tất cả bạn bè của anh. Anh tặng nàng những đồ trang sức tuyệt đẹp. Anh đưa nàng đi du ngoạn khắp nơi. Họ công bố là lễ cưới của họ sẽ được tổ chức trong một tương lai gần nhất. Rô-giơ rất hạnh phúc. Anh đang làm một việc tốt, đồng thời cũng là việc anh rắp tâm muốn thực hiện. Tuy vậy, nếu Rô-giơ có cảm thấy hơi quá tự mãn một chút (thực ra sự việc không đáng để người ta cảm thấy tự mãn đến mức ấy) thì đó quả là một chuyện hơi lạ và đáng ngạc nhiên.
            Thế rồi bỗng nhiên anh ấy lại ngãng ra. Tôi không hiểu lý do tại sao. Khó có thể vì anh ấy chán ngấy cái lối nói chuyện của nàng, vì nàng có hề biết chuyện trò gì đâu. Có lẽ chỉ vì vẻ mặt đa sầu đa cảm của nàng không còn làm rung động trái tim anh nữa. Anh đã tỉnh ngộ, và một lần nữa, anh lại trở lại con người khôn ngoan, từng trải trước kia. Anh thừa biết rằng Bác-lâu đã quyết chí lấy anh mà anh thì đã thề độc rằng không đời nào anh lại cưới Bác-lâu cả. Anh đang ở trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Giờ vì anh đã tỉnh ngộ cho nên anh đã thấy rõ loại phụ nữ phải đương đầu rồi. Anh biết rõ rằng nếu anh yêu cầu nàng buông anh ra, nàng sẽ (bằng cái cách khêu gợi của mình) bắt anh phải trả một giá đắt cho những tình cảm bị tổn thương của nàng. vả chẳng, đối với một người đàn ông, phụ tình một người phụ nữ nó khó xử thế nào ấy. Mọi người thể nào cũng nghĩ rằng anh ta là một gã trăng hoa tồi tệ.
            Rô-giơ vẫn giữ kín những ý nghĩ của mình không tâm sự với ai cả. Anh không hề để lộ một lời nói hoặc một cử chỉ nào biểu hiện rằng tình cảm của anh đối với Rút Bác-lâu đã thay đổi. Anh vẫn chú ý đến những ước muốn của nàng, anh vẫn đưa nàng đi ăn hiệu, hai người vẫn đi xem hát với nhau, anh vẫn gửi hoa tặng nàng, anh vẫn tỏ ra tình tứ và duyên dáng. Họ đã quyết định là họ sẽ tổ chức lễ cưới ngay sau khi họ tìm được một ngôi nhà phù hợp với họ, bởi vì cả hai hiện vẫn còn đi ở thuê. Và thế là hai người bắt đầu cuộc tìm kiếm nhà cửa theo ý muốn. Các đại lý đã gửi cho Rô-giơ những danh sách nhà cửa để anh xem và anh đã đưa Rút đi xem một số nhà rồi. Thật khó có thể tìm được một ngôi nhà nào làm vừa lòng họ. Rô-giơ đã gửi đơn tới thêm các đại lý khác. Hai người đi xem hết ngôi nhà này đến ngôi nhà khác. Họ xem xét tỉ mỉ, từ căm hầm dưới tầng trệt cho đến gác xép dưới mái nhà. KHi thì chúng quá rộng, khi thì chúng quá hẹp, khi thì chúng quá xa trung tâm, khi thì chúng lại quá gần, khi thì chúng quá đắt, khi thì lại tốn quá nhiều tiền vào các khoản sửa sang chúng, khi thì chúng quá tối tăm, khi thì chúng quá ảm đạm, tiêu điều. Rô-giơ bao giờ cũng tìm ra được một sai sót khiến cho ngôi nhà không phù hợp với yêu cầu. Tất nhiên anh cũng là người khó chiều, anh không thể nỡ lòng bắt Rút thân yêu của anh phải ở trong bất cứ ngôi nhà nào, trừ khi đó là một ngôi nhà hoàn hảo, mà ngôi nhà hoàn hảo phải mất công tìm kiếm mới thấy được. Săn lùng nhà cửa quả là một việc làm rất mệt và rất chán, chẳng mấy chốc Rút đã bắt đầu tỏ ra bực bội. Rô-giơ van xin nàng hãy kiên trì. Chắc chắn ở một nơi nào đó có chính ngôi nhà mà họ đang tìm kiếm, và chỉ cần kiên trì một chút là họ có thể tìm ra được ngay. Họ đã xem hàng trăm ngôi nhà, họ đã leo hàng ngàn bậc thềm, họ đã kiểm tra không biết bao nhiêu căn bếp mà kể. Rút cảm thấy kiệt sức và đã nhiều lần nàng nổi cáu:
            - Nếu anh không tìm được một ngôi nhà ngay – nàng nói, - thì tôi sẽ phải xét lại quyết định của tôi. Vì nếu anh cứ tiếp tục như thế này mãi thì bao nhiêu năm nữa chúng ta cũng chẳng lấy được nhau.
            - Đừng nói thế, em, - anh đáp, - Anh van em hãy kiên trì một chút. Anh vừa mới nhận được một số danh sách nhà cửa hoàn toàn mới do các đại lý mà anh mới biết gửi cho. Ít ra cũng phải có đến sáu chục ngôi nhà trong các danh sách đó.
            Thế là hai người lại lao vào cuộc săn lùng một lần nữa. Họ xem thêm không biết bao nhiêu ngôi nhà, trong hai năm trời họ chỉ toàn đi xem nhà. Rút trở nên ít nói và khinh khỉnh, cặp mắt đẹp, dịu buồn của nàng lại ánh lên một vẻ âu sầu, rầu rĩ. Sức chịu đựng của con người chỉ có hạn. Bà Rút Bác-lâu đã kiên trì hết mức, và cuối cùng bà đã nổi cơn tam bành.
            - Anh có còn muốn cưới tôi nữa không đấy? – Rút hỏi Rô-giơ.
            Có một vẻ cứng rắn khác thường trong giọng nói của nàng, nhưng nó không hề làm thay đổi vẻ dịu dàng trong lời đáp của anh.
            - Tất nhiên là anh vẫn muốn cưới em. Chúng ta nhất định sẽ cưới nhau ngay kkhi chúng ta tìm được ngôi nhà. Nhân thể anh muốn báo cho em biết là anh vừa mới nhận được tin về một ngôi nhà hoạ may có thể phù hợp với chúng ta đấy.
            - Ngay bây giờ tôi không cảm thấy còn đủ sức để xem thêm nhà nữa.
            - Em yêu của anh, anh e rằng trông em có vẻ hơi mệt đấy.
            Rút Bác-lâu năm liệt giường. Nàng không muốn nhìn mặt Rô-giơ nữa, và anh đành phải tới nơi nàng ở để thăm hỏi và tặng hoa. Anh vẫn ân cần và lịch sự hơn lúc nào hết. Ngày nào anh cũng viết thư báo cho nàng hay rằng anh đã lại được thêm tin tức về một ngôi nhà mới nữa để hai người cùng đi xem. Một tuần lễ trôi qua và rồi anh bỗng nhận được bức thư sau đây:
            Anh Rô-giơ,
Tôi cho rằng anh không thực lòng yêu tôi. Tôi đã tìm được một người muốn được quan tâm chăm sóc tôi và hôm nay tôi sẽ lấy anh ta.
            Rút
            Rô-giơ gửi thư trả lời qua một phái viên đặc biệt:
            Em Rút,
            Tin của em làm cho cõi lòng anh tan nát. Anh sẽ chẳng bao giờ hàn gắn nổi vết thương lòng này, nhưng tất nhiên hạnh phúc của em bao giờ cũng phải là mối quan tâm hàng đầu của anh. Anh gửi kèm theo đây bản danh sách nhà mới nữa để em tham khảo, những danh sách này mới tới sáng nay bằng đường bưu điện, và anh tin chắc rằng em sẽ tìm được trong số này một ngôi nhà đúng như ý nguyện của em.
            Rô-giơ