Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
Hiển thị các bài đăng có nhãn Guy de Maupassant. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Guy de Maupassant. Hiển thị tất cả bài đăng
3/3/12

Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ - Guy De Maupassant

Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ
Guy De Maupassant 
Nguyễn Văn Quảng dịch

Ở Ac-tăng-giơi, người ta gọi bà là nữ hoàng Ooc-tăng-xơ. Chẳng ai biết do đâu cả. Có lẽ do bà nói năng rắn rỏi như một sĩ quan chỉ huy? Có thể do bà cao to, quắc thước vẻ hách dịch? Có lẽ do bà thống lĩnh cả một bầy đông đúc gia súc, gồm gà mái, chó đực, bạch yến, vẹt mái, những con vật nuôi thân thiết với các cô gái già? Nhưng bà có nuông chúng đâu, chẳng nựng nịu cũng chẳng âu yếm như vẫn thường thấy phụ nữ thốt ra trên bộ lông óng mượt của chú mèo đang gừ gừ như xay lúa. Bà cai quản chúng đầy uy lực, bà thống trị chúng mà.   
Thực tế, bà là một cô gái già, giọng oang oang đanh thép, cử chỉ khô khan, tâm hồn có vẻ chai sạn. Không bao giờ bà chấp nhận sự trái ý, chuyện thanh minh, sự chần chừ, tính uể oải, sự lười biếng, vẻ mệt mỏi. Không bao giờ nghe bà than thở, luyến tiếc bất cứ cái gì hay ganh ghét bất kỳ ai. Bà vẫn bảo: “Ai lo phận nấy”, với sự đinh ninh của người tin vào định mệnh. Bà không đi nhà thờ, không thích các thầy tu, ít tin vào Chúa, gọi mọi chuyện tín ngưỡng là “món hàng bán rao”. Từ ba mươi năm nay, vẫn ở ngôi nhà nhỏ của mình, phía trước có một nẻo vườn chạy dọc phố, bà vẫn không hề sửa đổi các thói quen, chỉ nhẫn tâm thay các cô hầu khi các cô đến tuổi hai mươi mốt. Khi chó, mèo, gia cầm của mình chết già hay chết nạn, bà chẳng rỏ một giọt nước mắt thương tiếc mà mua con khác thay liền. Bà dùng một cái mai nhỏ chôn những con vật chết trên một luống đất, rồi dửng dưng dẫm lên trên chỗ chôn vài cái.   
Bà quen vài người trong thành phố, toàn thuộc các gia đình viên chức mà đàn ông ngày nào cũng đi Pari. Buổi chiều hay tối, thỉnh thoảng người ta lại mời bà đến uống chén trà. Trong những cuộc hội ngộ ấy, thế nào bà cũng ngủ thiếp đi, gia chủ phải đánh thức để bà ra về. Bà chẳng cho phép ai đưa bà về, dù ngày hay đêm. Bà có vẻ không thích trẻ em. Bà giết thời gian bằng đủ việc của đàn ông: làm mộc, làm vườn, chặt cây bằng rìu hay bằng cưa, sửa chữa căn nhà cũ kỹ của mình và nếu cần thì tự xây trát. Bà cũng có người thân mỗi năm về thăm hai lần. Đó là hai gia đình Xi-mơ và Cô-lông-ben, hai em gái đã có chồng, một lấy người bán cỏ thuốc, một lấy một người hưởng lợi tức đồng niên. Nhà Xi-mơ không có con. Nhà Cô-lông-ben có ba đứa, Henri, Pô-lin và Giô-dép. Henri hai mươi tuổi, Pô-lin mười bảy, còn Giô-dép mới lên ba – cậu này ra đời giữa lúc tưởng mẹ cậu không sinh nở được nữa. Cô gái già không mảy may quyến luyến với họ.   
Mùa xuân năm 1882, nữ hoàng Ooc-tăng-xơ bỗng lăn ra ốm. Láng giềng chạy mời một thầy thuốc, nhưng bà đuổi ông đi. Một thầy tu dẫn xác đến, bà gần như trần truồng tụt xuống giường và đẩy ông ra ngoài. Cô đầy tớ rũ rượi vừa khóc lóc vừa kiếm thuốc nam sắc cho bà uống. Sau ba ngày liệt giường, bà lâm vào tình cảnh rất nguy kịch, đến nỗi bác thợ đóng thùng gỗ láng giềng theo lời khuyên của thầy thuốc oai vệ đi vào nhà bà, yêu cầu bà để ông gọi gia đình hai cô em đến.   
Hai gia đình đáp cùng chuyến tàu khoảng mười giờ sáng, nhà Cô-lông-ben dẫn bé Giô-dép theo. Đến lối vào vườn, cả hai nhìn thấy cô đầy tớ đang ngồi khóc trên một chiếc ghế tựa dựa vào tường. Con chó mực nằm ngủ trên tấm thảm chùi chân ở cửa vào dưới ánh nắng tà nóng nực. Hai con mèo nằm ườn như chết trên bờ hai cửa sổ, mắt nhắm nghiền, chân và đuôi ngay đơ. Một con gà mái to tường lục tục dẫn một đàn con khá đông lông vàng và nhẹ bỗng như bông đi qua khu vườn. Trong một cái lồng phủ cây phiền lộ mắc trên tường, một ổ chim kêu chí chóe trong nắng xuân sớm mai ngột ngạt. Có hai chú không thể rời nhau, lẳng lặng đứng sát bên nhau trong một cái lồng con hình nhà nghỉ nông thôn mắc vào tường.   
Ông Xi-mơ, một người đồ sộ, đến đâu cũng vào trước nhất, vừa thở như kéo bễ vừa gạt tất cả mọi người bất kể đàn ông hay đàn bà ra khi muốn, lên tiếng hỏi:
- Nào Xê-le-xtơ, không ổn hả?
Cô đầy tớ bé nhỏ rên rỉ qua nước mắt:
- Bà không nhận ra con nữa ạ. Thầy thuốc bảo thế là hết…
Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Tức thì bà Xi-mơ và bà Cô-lông-ben ôm chầm lấy nhau mà hôn, chẳng nói năng gì. Hai bà giống nhau ghê, bao giờ cũng bịt đầu bằng những băng vải phẳng lì, khoác khăn san đỏ tía, mặc vải lông Pháo kiểu ca-sơ-mia đỏ rực như than hồng. Xi-mơ quay về phía em rể, một người gày gò, xanh rớt, da vàng, hốc hác đi vì bệnh dạ dày, tập tễnh một cách ghê gớm, rồi ông thốt lên nghiêm trọng:
- Ông nội ơi, đến lúc rồi!
Nhưng không ai dám vào phòng người hấp hối ở tầng trệt. Ngay Xi-mơ cũng ngần ngại. Cô-lông-ben là người đầu tiên quả quyết bước vào, vừa đi vừa nghiêng ngả như cánh buồm, vừa gõ vang đầu can bịt sắt trên nền đá lát. Hai người đàn bà đánh bạo bám theo và Xi-mơ đi sau cùng. Bé Giô-dép ở lại bên ngoài vì mải nhìn con chó.   
Một chum nắng cắt ngang giường, rọi sáng đúng hai bàn tay đang như lên cơn động kinh hết mở ra lại nắm vào không lúc nào yên. Các ngón động đậy như bị một tư tưởng điều khiển, như thể chúng giải thích các vật, chỉ ra các ý nghĩ, tuân theo một tư duy. Còn toàn thân nằm bất động dưới chăn. Khuôn mặt xương xương chẳng mảy may rung động. Đôi mắt nhắm nghiền.   
Mấy người mới vào dàn thành một vòng cung, chăm chú nhìn, môi mím chặt, ngực đau nhói, hơi thở gấp lên. Cô hầu nhỏ theo gót họ, và vẫn nước mắt ngắn nước mắt dài. Sau hết, Xi-mơ hỏi:
- Chính ra thầy thuốc bảo sao?
Cô đầy tớ bập bẹ:
- Ông bảo hẵng để cho bà yên, không phải chạy vạy gì nữa đâu.
Nhưng bỗng nhiên đôi môi của cô gái già bắt đầu mấp máy. Hình như chúng đang phát ra những lời im lặng, những lời ẩn trong cái đầu đang hấp hối này, hai bàn tay mở ra nắm vào còn kịch liệt hơn nữa. Chợt bà thốt ra bằng một giọng thầm thì yếu ớt, tựa như một tiếng nói từ xa vọng lại, từ đáy trái tim luôn khép kín này chăng? Thấy thương tâm quá, Xi-mơ nhón chân đi ra. Cô-lông-ben, chân què, thì ngồi bệt xuống. Hai người phụ nữ vẫn đứng.   
Bây giờ nữ hoàng Ooc-tăng-xơ huyên thuyên nhanh hơn, chả ai hiểu bà nói gì. Bà gọi tên người, nhiều người, toàn những người do bà tưởng tượng ra, bà gọi vô cùng âu yếm. “Lại đây, Phi-líp của mẹ, thơm mẹ đi. Con yêu mẹ chứ, con? Còn con, Rô-dơ ơi, mẹ ra ngoài một lát, con trông em nhé. Nhất là chớ để em một mình, nghe không? Không được nghịch diêm, nghe chưa?” Bà nín bặt mấy giây, rồi giọng cao hơn, như thể là gọi: “Hen-ri-ét!”. Bà chờ một phút rồi nói tiếp: “Con ra gọi bố vào đây mẹ bảo rồi hãy đến công sở”. Rồi bỗng: “Hôm nay em hơi đau, anh thân yêu ạ. Anh hãy hứa với em là không về muộn đi. Hãy thưa với phụ trách của anh rằng em ốm. Anh biết đấy, em mà nằm, để các con lêu lổng là nguy hiểm. Em sẽ làm cho anh một đĩa cơm đường. Các con rất thích món này. Thằng Cle sẽ khoái lắm”. Bà bật cười, tiếng cười giòn tan khúc khích như một thiếu nữ như suốt đời bà chưa hề cười: “Anh nhìn Giăng lìa! Đầu nó đến ngộ! Mặt toàn vết mứt kẹo, cái đồ ở bẩn! Nhìn kìa, anh yêu, con chúng mình có ngộ nghĩnh không!”   
Đổi chỗ luôn luôn cái chân mỏi nhừ sau cuộc hành trình, Cô-lông-ben thì thầm:
- Cô ấy mơ có chồng con. Bắt đầu hấp hối!
Hai bà chị vẫn đứng im, lộ vẻ kinh ngạc. Cô hầu thưa:
- Hai bà phải bỏ mũ và khăn san ra chứ ạ? Mời hai bà ra phòng khách.
Hai bà nín thinh đi ra. Cô-lông-ben tập tễnh bước theo, để người hấp hối lại một mình. Cởi bỏ trang phục đi đường, hai người chị ngồi xuống. Một con mèo rời cửa sổ, vươn vai, nhảy vào phòng, tót lên đầu gối và Xi-mơ và bà liền vuốt ve nó. Họ nghe từ phòng bên tiếng nói của người hấp hối đang sống trong giờ phút cuối cùng cuộc đời mà chắc chắn bà đã từng mong đợi, đang dốc hết sức mơ ra khoảnh khắc mà đối với bà, tất cả sắp chấm dứt.   
Xi-mơ chơi với bé Giô-dép và con chó trong vườn, ông rất vui vẻ, cái vui của một bác lực điền, không còn nhớ gì đến người đang chết nữa. Những bỗng ông trở vào bảo cô đầy tớ:
- Này, cho chúng tớ ăn trưa đi chứ! Các bà muốn xơi món gì đây?
Họ thỏa thuận dùng món chả trứng trộn rau thơm, thịt thăn kèm táo tươi, pho mát và cà phê. Bà Cô-lông-ben lục tục tìm ví, Xi-mơ giữ tay bà lại. Rồi ông quay sang cô hầu:
- Cô có tiền nhỉ?
Cô bé đáp:
- Thưa có.
- Bao nhiêu?
- Mười lăm frăng.
- Đủ đấy. Nhanh lên cô. Tôi đói rồi.
Bà Xi-mơ vừa ngắm những chùm hoa chan hòa ánh nắng và đôi bồ câu yêu nhau trên mái nhà trước mặt vừa buông lời ảo não:
- Thật đau khổ là đến đây trong tình cảnh buồn bã thế này. Hôm nay trời sẽ còn đẹp hơn và dễ chịu lắm.
Bà em chỉ thở dài không đáp. Ông Cô-lông-ben hẳn xúc động vì ông nghĩ đến một cuộc dạo chơi, rên rỉ:
- Cái chân làm khổ tôi quá thể.
Bé Giô-dép và con chó làm náo động cả lên, thằng bé la inh ỏi vì vui thích, con vật sủa như phát rồ. Chúng chơi trò trốn tìm xung quanh ba luống cây, người chạy thục mạng, chó quấn lấy chân.   
Người hấp hối vẫn gọi các con, nói chuyện với từng đứa, tưởng tượng đang mặc quần áo cho chúng, đang vuốt ve chúng, đang dạy chúng đọc: “Nào. Xi-mông, nhắc lại: A B C D. Con phát âm chưa chuẩn, kìa, D D D, rõ chưa? Nhắc lại xem nào!...”.
Xi-mơ thốt lên:
- Những lúc như lúc này, nói gì cũng thấy lạ…
Bà Cô-lông-ben hỏi:
- Quay vào với cô ấy chẳng hơn ư?
Xi-mơ ngăn lại ngay:
- Để làm gì, bởi lẽ còn thay đổi tình cảnh của cô ấy sao được! Ở đây vẫn tốt chứ sao.
Không ai nhấn thêm. Bà Xi-mơ ngắm hai con chim màu xanh lá mạ, mà nãy chúng ta gọi là “không thể rời nhau”. Bà thốt ra mấy lời khen ngợi sự thủy chung phi thường của chúng và chê trách loài người không bắt chước loài vật. Xi-mơ phì cười, chằm chằm nhìn vợ, se sẽ ca một điệu nhạc diều: “Tra-la-la, tra-la-la” như để ám chỉ sự trung thành của bà đối với ông Xi-mơ. Cô-lông-ben lại bị bênh dạ dày hành hạ, gõ gõ can lên nền nhà. Con mèo trên cửa sổ thứ hai đi vào, đuôi cong lên. 
Mãi một giờ, mọi người mới vào bàn ăn. Vừa nếm qua rượu, vốn được yêu cầu chỉ uống rượu Booc-đô hảo hạng, Cô-lông-ben nhắc cô đầy tớ:
- Con ơi, trong hầm không còn thứ nào ngon hơn ư?
- Thưa còn. Có thứ rượu ngon mời các ông các bà lúc các ông các bà mới đến đây ạ.
- Thế thì đi lấy về đây ba chai.
Mọi người thưởng thức thứ rượu tuyệt vời, không phải vì cách nấu đáng khen mà vì đã để hầm mười lăm năm. Xi-mơ tuyên bố:
- Đúng là rượu cho người ốm.
Háo hức muốn có thứ rượu này, Cô-lông-ben lại hỏi cô đầy tớ:
- Còn bao nhiêu thứ này, hả con?
- Ồ, gần như còn nguyên, thưa ông. Bà chủ chẳng uống bao giờ. Còn ối trong đáy hầm.
Ông quay sang người anh rể:
- Anh Xi-mơ này, nếu anh thuận, tôi đổi rượu này cho anh loại khác. Loại này vô cùng hợp với dạ dày tôi.   
Đến lượt con gà mái kéo đàn con đi vào. Hai phụ nữ ném vụn bánh cho chúng để khuây khỏa đi. Người ta tống Giô-dép và con chó đã xơi đủ ra vườn. Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ vẫn lảm nhảm, nhưng giờ bé lắm, không nghe rõ lời. Dùng xong cà phê, mọi người sang xem tình hình người bệnh. Bà có vẻ dịu đi. Họ lại trở ra và ngồi quẩn trong vườn cho tiêu thức ăn. Đột nhiên con chó chạy nháo lên quanh mấy chiếc ghế tựa, mõm ngoạm vật gì. Thằng bé cuống cuồng đuổi theo. Cả hai mất hút trong nhà. Xi-mơ ngủ thiếp đi, bụng phơi trong nắng.   
Người hấp hối bắt đầu nói to. Rồi bỗng thét lên. Hai phụ nữ và Cô-lông-ben hối hả vào xem có chuyện gì. Xi-mơ thức dậy, nhưng tỏ vẻ thản nhiên, không thích những chuyện như thế. Cô gái già ngồi dậy, mắt nhớn nhác. Để thoát khỏi sự săn đuổi của bé Giô-dép, con chó của cô đã nhảy tót lên giường rồi nhảy qua người bệnh. Nấp sau gối, nó nhìn cậu bé chằm chằm bằng đôi mắt rực sáng, trong tư thế sẵn sàng tót xuống chạy tiếp. Nó ngoạm một chiếc giày păng-túp của chủ đã bị cắn tả tơi sau một giờ nó nghịch. Hốt hoảng trước bà già bỗng ngồi bật dậy đằng trước, cậu bé đờ người ra trước giường. Con gà mái vừa vào đôi phút cũng phát khiếp vì tiếng kêu la vội nhảy lên một chiếc ghế tựa. Nó tuyệt vọng gọi đàn con đang kinh hồn bạt vía, chiêm chiếp loạn lên giữa bốn chân giường.   
Nữ hoàng Ooc-tăng-xơ thét lên một tiếng kêu xé ruột: “Không, không, tôi không muốn chết, tôi không muốn đâu! Tôi không muốn, tôi không muốn! Ai sẽ nuôi dạy con tôi? Ai sẽ chăm sóc con tôi? Ai sẽ yêu thương con tôi? Không, tôi không muốn chết! Tôi không…”
          Bà ngã vật ra. Thế là hết.   
Con chó nhảy chồm chồm quanh phòng. Cô-lông-ben chạy lại cửa sổ, gọi ông anh rể.
- Vào nhanh lên! Nhanh lên! Cô ấy đi rồi!
Xi-mơ đứng dậy, vừa đủng đỉnh đi vào vừa lẩm bẩm.
- Mình tưởng còn lâu cơ đấy!

Người đã khuất - Guy De Maupassant

Người đã khuất
Guy De Maupassant 
Nguyễn Văn Quảng dịch

Tôi đã yêu nàng đắm đuối! Vì sao người ta yêu? Có kỳ quặc chăng, khi trên đời ta chỉ nhìn thấy có một người, trong đầu óc chỉ có một ý nghĩ, trong lòng chỉ có một ao ước và trong miệng chỉ có một cái tên: cái tên cứ dâng lên không ngừng, dâng lên như nước nguồn, từ đáy sâu thẳm tâm hồn, dâng lên mãi mãi, và ta gọi, ta gọi đi gọi lại, ta thì thầm không dứt, nơi nơi, như một lời cầu nguyện.   
Tôi sẽ không kể lại câu chuyện của tôi. Tình yêu chỉ có một chuyện, bao giờ cũng một chuyện ấy mà thôi. Tôi đã gặp nàng và yêu nàng. Chỉ có thế. Và tôi đã sống một năm trời trong tình âu yếm của nàng, trong tay nàng, trong sự vuốt ve của nàng, trong ánh mắt nàng, trong những tà áo của nàng, trong lời nàng nói; bị bao bọc, ràng buộc, giam cầm trong tất cả những gì từ nàng mà ra, một cách trọn vẹn đến nỗi tôi không còn biết đêm hay ngày, tôi sống hay chết, ở trên mặt đất cũ kỹ hay ở nơi nào khác nữa.   
Và thế là nàng qua đời. Như thế nào nhỉ? Tôi không biết, tôi không biết nữa.   
Một tối trời mưa, nàng về bị ướt và hôm sau, nàng ho, khoảng một tuần lễ thì ốm. Chuyện gì đã xảy ra? Tôi không biết nữa.   
Các thầy thuốc đến, viết lách và ra đi. Người ta mang thuốc lại: một người đàn bà cho nàng uống thuốc. Tay nàng nóng, trán nàng rừng rực và ướt mồ hôi, mắt nàng long lanh và buồn bã. Tôi nói với nàng, nàng trả lời tôi. Chúng tôi đã nói gì với nhau nhỉ? Tôi không biết nữa. Tôi đã quên hết thảy, hết thảy, hết thảy! Nàng qua đời, tôi nhớ rất rõ tiếng thở dài nho nhỏ sao mà yếu ớt, hơi thở cuối cùng. Người hộ lý nói: “Ôi!”. Tôi hiểu, tôi hiểu.   
Tôi không còn biết gì nữa. Không biết gì nữa. Tôi thấy một linh mục thốt lên lời này: “Người tình của ông”. Tôi có cảm giác như ông ta xúc phạm đến nàng. Vì nàng đã khuất, người ta không có quyền biết đến điều đó nữa. Tôi đuổi ông ta đi. Một linh mục khác đến. Ông ta rất tốt, rất hiền. Tôi khóc khi ông nói với tôi về nàng.   
Người ta hỏi han tôi trăm nghìn điều về việc chôn cất. Tôi không biết nữa. Tuy thế tôi nhớ rất rõ cái quan tài, tiếng búa nện khi người ta đóng nàng vào trong đó. Ôi! Lạy Chúa! Nàng bị chôn đi! Chôn đi! Nàng! Trong cái hố ấy! Có vài người đến, những cô bạn gái. Tôi bỏ trốn. Tôi chạy. Tôi đi rất lâu qua các phố. Rồi tôi về nhà. Ngày hôm sau tôi đi du lịch. Hôm sau tôi trở về Pari.
Khi tôi thấy lại căn phòng của tôi, căn phòng của chúng tôi, đồ đạc của chúng tôi, toàn bộ ngôi nhà nơi lưu giữ tất cả những cái gì còn lại của đời một con người sau khi người đó đã chết đi, nỗi buồn của tôi tái phát dữ dội đến nỗi suýt nữa tôi mở cửa sổ, lao người xuống đường. Không thể ở lại được nữa giữa những đồ vật ấy, giữa những bức tường đã bao lấy nàng, và hẳn còn giữ lại trong những vết rạn li ti của chúng hàng ngàn nguyên tử của nàng, của da thịt nàng và hơi thở nàng, tôi cầm lấy mũ, bỏ ra đi. Thốt nhiên lúc ra tới cửa, tôi đi qua tấm gương lớn trong phòng đợimà nàng cho đặt ở đó để hàng ngày, mỗi khi ra đi nàng ngắm nhìn mình từ đầu đến chân, xem toàn bộ trang phục của mình có được hay không, có chỉnh tề và xinh đẹp hay không, từ đôi giày cho đến mái tóc.   
Và tôi đứng phắt lại trước tấm gương đã bao lần phản chiếu bóng nàng. Đã bao lần, bao lần, đến mức hẳn nó cũng còn giữ lại hình ảnh nàng. Tôi đứng ở đó run rẩy, mắt đăm đăm nhìn vào mặt gương, mặt kính phẳng, sâu, trống rỗng, nhưng đã chứa đựng nàng toàn vẹn, đã chiếm lĩnh nàng cũng y như tôi, y như cái nhìn say đắm của tôi. Tôi thấy dường như tôi yêu tấm gương ấy. Tôi sờ vào nó, nó lạnh lẽo! Ôi! Hồi tưởng! Hồi tưởng! Tấm gương xót xa, tấm gương cháy bỏng, tấm gương sống, tấm gương khủng khiếp, làm đau mọi nỗi đau quằn quại! Sung sướng thay những con người có tấm lòng, y như một tấm gương, nơi đây mọi phản chiếu lướt qua và tan biến, tấm lòng ấy quên đi hết thảy những gì nó đã chứa đựng, tất cả những gì diễn qua trước nó, tất cả những gì đã ngắm nghía, soi mình trong tình thương mến của nó, trong tình yêu của nó! Tôi đau đớn biết bao nhiêu!   
Tôi ra đi, và bất giác, không biết, không định, tôi đi về phía nghĩa địa. Tôi thấy ngôi mộ của nàng hết sức đơn sơ, một cây thập tự bằng đá trắng với mấy lời sau: “Nàng đã yêu, đã được yêu, và qua đời”. Nàng ở đó, ở dưới đó, tàn rữa! Kinh khủng bao nhiêu! Tôi đập đầu xuống đất, nức nở. Tôi ở đó rất lâu. Rồi tôi thấy trời sắp tối. Thế là một ước muốn kỳ quặc, điên rồ, một ước muốn của kẻ tình nhân tuyệt vọng choáng ngợp lấy tôi. Tôi muốn suốt đêm ở bên nàng, đêm cuối cùng, khóc trên mộ nàng. Nhưng họ sẽ nhìn thấy tôi, sẽ đuổi tôi. Làm thế nào? Tôi khôn khéo. Tôi đứng dậy, lang thang vơ vẩn trong thành phố của những người đã khuất này. Tôi đi, tôi đi. Sao thành phố này nhỏ bé như vậy bên cái thành phố kia, nơi người ta sống! Và tuy thế, những người chết này, sao họ lại đông đảo đến thế hơn những người sống. Chúng ta cần nhà cao, cần phố sá, cần bao nhiêu là chỗ cho bốn thế hệ cùng nhìn ánh sáng ban ngày một lúc, uống nước nguồn, uống rượu của cây nho và ăn bánh của đồng ruộng. Và với tất cả thế hệ người đã chết, với toàn bộ bậc thang nhân loại xuống đến tận chúng ta đây, hầu như không có gì cả, chỉ một cánh đồng, hầu như không có gì cả! Đất đòi lại họ, sự lãng quên xóa nhòa họ. Vĩnh biệt!   
Ở cuối nghĩa địa có người lai vãng, tôi bỗng thấy khi nghĩa địa bỏ hoàng, nơi những người quá cố xa xưa đã hòa mình với đất, nơi chính những cây thập tự cũng rữa nát, nơi mai đây người ta sẽ chôn những người đến sau cùng. Khu nghĩa địa đầy những hoa hồng dại, những cây trắc bá cường tráng xanh đen, một khu vườn tráng lệ và u buồn, được nuôi dưỡng bằng thịt người.   
Tôi chỉ có một mình, mỗi một mình. Tôi nép vào một gốc cây xanh. Tôi ẩn mình hoàn toàn trong đó, giữa những cành lá mỡ màng và âm u. Và tôi chờ đợi, bám chặt vào thân cây như một kẻ chết đuối bám lấy một vật trôi dạt.   
Khi đêm đã tối đen, đen nghịt, tôi rời nơi ẩn náu và đi nhẹ nhàng, êm , chậm bước trên mảnh đất đầy người chết này. Tôi lang thang hồi lâu, hồi lâu, hồi lâu. Tôi không tìm lại được nàng. Hai tay giơ ra, mắt mở, vấp tay vấp chân, vấp đầu gối, vấp cả đầu nữa vào các ngôi mộ, tôi đi và không tìm thấy nàng. Tôi sờ soạng, tôi rờ rẫm như người mù tìm đường, tôi rờ rẫm những viên đá, những cây thập tự, những hàng rào sắt, những vòng hoa bằng thủy tinh, những vòng hoa thực tàn héo. Tôi dùng ngón tay sờ trên chữ để đọc các tên người. Đêm tối làm sao! Đêm tối làm sao! Tôi không tìm lại được nàng!   
Không có trăng! Đêm tối làm sao! Tôi sợ, một nỗi sợ khủng khiếp trong những lối đi hẹp, giữa hai dãy mồ mả này! Những nấm mồ! Những nấm mồ! Vẫn những nấm mồ! Bên phải, bên trái, đằng trước tôi, xung quanh tôi, khắp nơi là những nấm mồ! Tôi ngồi lên một ngôi mộ, vì tôi không thể đi được nữa, đầu gối tôi khuỵu xuống. Tôi nghe thấy tim tôi đập. Và tôi còn nghe thấy một tiếng gì nữa. Gì nhỉ? Một tiếng động mơ hồ không biết gọi là cái gì. Phải chăng nó ở trong đầu óc hoảng loạn của tôi, trong đêm tối dày đặc, hay dưới lòng đất bí ẩn kia, dưới lòng đất gieo đầy thây người, cái tiếng động ấy? Tôi nhìn quanh tôi.   
Tôi đã ở lại đó bao lâu? Tôi không biết. Tôi bị tê liệt vì kinh hoàng, bị say vì khiếp đảm, sắp la hét lên, sắp chết. Và bỗng nhiên tôi thấy dường như phiến đá trắng tôi đang ngồi rung động. Quả thật, nó rung động, như thể người ta nâng nó lên. Tôi nhảy phắt sang ngôi mộ bên cạnh, và tôi thấy, vâng, tôi thấy phiến đá tôi vừa rời bỏ đứng thẳng dậy, và người chết xuất hiện, một bộ xương trần trụi đang khom lưng hất đá đi. Tôi nhìn thấy, nhìn thấy rất rõ, dù đêm tối đen kịt. Tôi đọc được trên cây thập tự: “Nơi đây yên nghỉ Giắc Ô-li-văng, qua đời vào tuổi năm mươi mốt. Người quý yêu gia đình. Người nhân hậu và hiền lương, và người tạ thế trong sự bằng an của Chúa”.   
Bây giờ người chết cũng đọc những điều viết trên mộ mình. Rồi y nhặt một viên đá ở lối đi, một viên đá nhỏ sắc, y cạo bỏ rất cẩn thận những điều đó. Y xóa hẳn những điều ấy, chậm rãi, đôi mắt trống rỗng nhìn vào chỗ vừa rồi chúng được khắc lên, và dùng đầu khúc xương xưa kia là ngón tay trỏ, y viết lên những chữ lấp lánh sáng giống như những dòng vạch lên tường bằng đầu diêm: “Nơi đây yên nghỉ Giắc Ô-li-văng, qua đời vào tuổi năm mươi mốt. Do tàn nhẫn, y đã làm bố y chóng chết, người bố mà y mong muốn thừa kế gia sản, y hành hạ vợ, giày vò con, lừa đảo láng giềng, hễ có dịp là ăn cắp và chết đi khốn nạn”. Khi đã viết xong, người chết im lặng ngắm nhìn công trình của y. Và quay lại, tôi thấy tất cả các ngôi mộ đều mở, tất cả các thây ma đều ra khỏi mộ, tất cả đều xóa bỏ những lời dối trá thân nhân họ gi trên mộ, để lặp lại sự thật.   
Và tôi thấy tất cả đều đã từng là đao phủ hành hạ người thân cận, đều hằn thù, bất lương, giả dối, điêu toa, lừa đảo, hay nói xấu, hay ganh ghét, họ đã ăn cắp, đã bịp bợm, đã làm mọi việc đê nhục, mọi việc xấu xa, những ông bố nhân hậu ấy, những bà vợ thủy chung ấy, những cậu con trai tận tụy ấy, những cô thiếu nữ trong sạch ấy, những thương gia liêm khiết ấy, những người đàn bà được bảo là tốt đẹp không chê trách được ấy.   
Tôi nghĩ rằng cả nàng chắc cũng phải ghi sự thật ấy lên mộ mình. Và giờ đây không còn sợ hãi, chạy giữa những quan tài hé mở, giữa những thây ma, giữa những bộ xương, tôi đi về phía nàng, tin chắc là tôi sẽ tìm được ngay nàng. Tôi nhận ra nàng từ xa, tuy không nhìn thấy gương mặt phủ vải liệm. Và trên cây thập tự bằng đá mà hồi nãy tôi đọc: “Nàng đã yêu, đã được yêu và qua đời”, tôi thấy: “Một hôm ra đi lừa dối người yêu, nàng bị mưa, cảm lạnh và qua đời”.   
Hình như người ta nhặt được tôi, bất tỉnh nhân sự vào sáng sớm, bên một nấm mồ.

Mơ-nuy-ê - Guy De Maupassant

Mơ-nuy-ê
Guy De Maupassant 
Lê Hồng Sâm dịch

Giăng Briden, một ông già độc thân mà người ta vẫn cho là kẻ hoài nghi, nói: Những nỗi bất hạnh lớn ít khi khiến tôi buồn. Tôi đã thấy tận mắt chiến tranh, tôi đã bước qua thây người, không thương cảm. Những sự tàn nhẫn thô bạo của tạo hóa hoặc của con người có thể làm chúng ta thốt kêu lên khủng khiếp hoặc công phẫn nhưng không hề khiến tim ta se lại, không hề gây cái rùng mình lướt qua lưng khi ta nhìn thấy vài điều não lòng nho nhỏ.
            Nỗi đau mãnh liệt nhất con người có thể cảm thấy, dĩ nhiên là khi người mẹ mất con, và khi người đàn ông mất mẹ. Điều ấy mãnh liệt, kinh khủng, điều ấy đảo lộn và cào xé, như người ta nguôi khây những tai họa đó như là lành những vết thương lớn đẫm máu. Vậy mà, vài cuộc gặp gỡ, vài điều thoáng thấy, phỏng đoán, vài nỗi thầm kín, vài sự lắt léo của số phận, lay động trong ta cả một thế giới xót xa những suy nghĩ, hé mở đột ngột trước ta cánh cửa bí ẩn những đau khổ tinh thần, phức tạp, không phương cứu chữa, càng sâu xa hơn bởi dường như êm nhẹ, càng nhức nhối hơn bởi dường như mơ hồ, càng dai dẳng hơn bởi dường như không thực, những điều ấy để lại trong tâm hồn ta cái gì như một giải u buồn, một vị chua chát, một cảm giác thất vọng và rất lâu ta mới xua tan được.
Tôi thường thấy luôn luôn trong mắt đôi ba điều mà người khác chắc hẳn không để ý, những điều ấy đã xuyên vào trong tôi như những vết kim châm dài, mảnh, không sao chữa khỏi. Có lẽ các bạn không hiểu niềm xúc động mà những ấn tượng thoáng qua đó để lại trong tôi. Tôi chỉ kể với các bạn một cách ấn tượng mà thôi, nó đã xưa cũ lắm, nhưng lại sinh động như vừa mới hôm qua đây. Có thể tôi mủi lòng chỉ là do tưởng tượng.   
Giờ đây tôi năm mươi tuổi. Hồi ấy tôi còn trẻ và đang học luật. Hơi buồn, hơi mơ mộng, thấm nhuần một triết lý u hoài, tôi ít ưa những tiệm cà phê ồn ào, những anh bạn ầm ĩ, những ả ngu ngốc. Tôi hay dậy sớm, và một trong những lạc thú thân thiết nhất của tôi là đi dạo một mình, vào khoảng tám giờ sáng, ở khu vườn ươm của công viên Luxemburg.
Các bạn thì các bạn chẳng biết khu vườn ươm ấy đâu. Nó như thể một mảnh vườn từ thế kỷ trước để quên, mảnh vườn xinh như nụ cười hiền của bà già tuổi tác. Những hàng tào um tùm ngăn những lối đi hẹp và đều đặn, những lối đi êm ả giữa hai bức tường hoa lá xén cắt có phương pháp. Lưỡi kéo lớn của người coi vườn luôn sửa sang ngay ngắn những tấm vách bằng nhành cây ấy, và đây đó, từng chỗ, từng chỗ, ta bắt gặp những bồn hoa, những khoảnh đất trồng các cây nhỏ xếp thành hàng như học sinh đi dạo, những đám hồng lộng lẫy hoặc những đội ngũ cây ăn quả. Cả một góc khu vườn xinh đẹp tuyệt vời ấy là nơi ở của loài ong. Những nếp nhà rơm của chúng, xếp cách quãng khéo léo trên các tấm ván, mở ra trước ánh mặt trời những khuôn cửa lớn bằng chiếc đê khâu, và suốt dọc đường, ta gặp những con ong vàng óng vi vu, những chủ nhân thực sự của cái chốn thanh bình này, những khách dạo chơi thực sự tại những hành lang yên tĩnh này.
Hầu như sáng nào tôi cũng đến đó. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế dài và đọc sách. Đôi khi tôi bỏ sách rơi trên đầu gối để mơ màng, để nghe Pari đang sống quanh tôi, và để hưởng cái yên nghỉ mênh mông của những lùm cây cảnh theo kiểu xưa cũ này.   
Nhưng tôi bỗng nhận ra rằng tôi không phải là người duy nhất lui tới nơi đây ngay từ lúc mở hàng rào chắn vườn, và đôi khi tôi chạm trán, ở góc một bồn cây, với một ông già kỳ quặc người bé nhỏ. Ông ta đi giày có nút bạc, mặc quần có mép lật, áo rơ-đanh-gốt màu thuốc sợi Tây Ban Nha, gài đăng ten thay ca-vát và đội một chiếc mũ lạ lùng không tưởng tượng nổi, màu xánh, vành rộng, tuyết dạ dài, gợi nhớ thời hồng thủy. Ông ta gầy, gầy lắm, xương xẩu, tươi cười và nhăn nhúm. Đôi mắt sắc của ông nhấp nháy, động đậy vì tai mắt luôn chớp dồn, và lúc nào ông cũng cầm trong tay một cây gậy chống tuyệt đẹp có nắm tay cầm bằng vàng chắc là một kỷ vật huy hoàng nào đó. Ông lão ấy thoạt tiên làm tôi bỡ ngỡ, rồi khiến tôi cực kỳ quan tâm. Và tôi rình ông ta qua các bức tường cây lá, tôi theo dõi ông từ xa, tôi dừng bước ở chỗ ngoặt các bụi cây để ông khỏi trông thấy.
Và thế là một buổi sáng, tưởng rằng chỉ có một mình, ông ta bèn làm những động tác lạ lùng: thoạt tiên vài bước nhảy khẽ, rồi cúi chào một cái, và đạp cẳng chân khẳng khiu nhảy một điệu Entrechat hãy còn lanh lẹn, rồi ông bắt đầu lịch thiệp xoay người, nhún nhảy, uốn éo một cách kỳ khôi, mỉm cười như trước công chúng khán giả, yểu điệu làm duyên, khuỳnh tay, vặn vẹo cái thân hình con rối tội nghiệp, gửi vào khoảng không những cái chào khẽ, cảm động và lố lăng. Ông ta khiêu vũ.
Tôi ngây người vì kinh ngạc, tự hỏi trong hai người thì ai điên, ông ta hay tôi.
Nhưng ông ta đột nhiên dừng lại, tiến lên như các diễn viên tiến trên sân khấu, rồi nghiêng mình lùi bước, mỉm cười duyên dáng và tay run run gửi những cái hôn như của đào hát cho hai hàng cây xén thẳng. Và ông ta lại trịnh trọng đi dạo tiếp.   
Từ hôm đó, tôi không rời mắt khỏi ông ta, và mỗi sáng ông lại tái diễn cái trò kỳ lạ không tưởng tượng nổi ấy. Tôi thèm nói chuyện với ông ta đến phát điên len. Tôi đánh bạo, và sau khi cúi chào, tôi nói với ông ta:
- Thưa ông, trời hôm nay đẹp quá.
Ông ta nghiêng mình:
- Vâng, thưa ông, thật quả là tiết trời thuở xưa.
Tám ngày sau, chúng tôi thân nhau, và tôi biết chuyện ông ta. Ông là thầy dạy khiêu vũ ở rạp Opera, thời vua Louis mười lăm. Cây gậy đẹp của ông là tặng vật của bá tước De Clemont. Và hễ nói chuyện khiêu vũ với ông là ông bèn thao thao bât tuyệt. Thế rồi một hôm ông tâm sự với tôi:
- Tôi lấy đào Ca-xtơ-ri đấy ông ạ. Nếu ông muốn, tôi sẽ giới thiệu bà ấy với ông, nhưng chốc nữa bà ấy mới đến đây. Ông thấy đó, khu vườn này là niềm vui và cuộc sống của chúng tôi. Đấy là tất cả những gì của ngày xưa còn lại với chúng tôi. Dường như nếu không có nó, chúng tôi không thể tồn tại được nữa. Nó cũ kỹ và thanh nhã, có phải không ông? Tôi tưởng như được hít thở ở đây một không khí không hề thay đổi từ thuở tôi còn trai trẻ. Chiều nào nhà tôi và tôi cũng ở đây. Những tôi thì tôi đến từ sáng, vì tôi hay dậy sớm.
Ăn trưa xong, tôi quay lại vườn Luxemburg, và chẳng mấy chốc, tôi đã thấy ông bạn của tôi đang trịnh trọng kiểu cách khoác tay một bà lão bé nhỏ, mặc áo đen, và tôi được giới thiệu với bà cụ. Đó là đào Ca-xtơ-ri, vũ nữ trứ danh được các ông hoàng yêu dấu, được nhà vua yêu dấu, được cả cái thế kỷ hào hoa ăn chơi yêu dấu, cái thế kỷ dường như đã để lại trên đời một hương vị yêu đương.
Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế dài. Đó là vào tháng năm. Hương hoa thoang thoảng bay lượn trong những lối đi sạch sẽ tinh tươm, mặt trời ấm áp lướt qua kẽ lá, rắc xuống chúng tôi những giọt nắng lớn. Tà áo dài đen của đào Ca-xtơ-ri như đầm đia ánh sáng.
Khu vườn vắng vẻ không người. Xa xa nghe tiếng xe ngựa lăn bánh. Tôi nói với nhà khiêu vũ già:
- Xin ông giảng cho tôi thế nào là điệu Mơ-nuy-ê?
Ông giật mình.
- Điệu Mơ-nuy-ê, thưa ông, là bà hoàng của các điệu vũ và là điệu vũ của các bà hoàng, ông hiểu chứ? Từ khi không còn vua, không còn điệu Mơ-nuy-ê nữa.
Và ông bắt đầu, một cách văn hoa, một bài ca tụng tràng giang mà tôi chẳng hiểu gì hết. Tôi muốn được miêu tả những bước nhảy, mọi động tác, các dáng điệu. Ông ta lẫn lộn, bực dọc vì sự bất lực của mình, kích động và phiền muộn. Và đột nhiên ông quay sang bà vợ cổ kính của ông nãy giờ vẫn lặng lẽ và trang nghiêm.
- Ê-li-dơ này, mình có đồng ý không, này, mình chịu khó nhé, mình có đồng ý chúng ta chỉ cho ông đây biết nó như thế nào không?
Bà đưa mắt e ngại nhìn khắp chung quanh, rồi đứng dậy không nói một lời và đứng trước mặt ông.
Thế là tôi được thấy một điều không sao quên nổi.
Họ đi đi lại lại với những điệu bộ trẻ thơ, mỉm cười với nhau, lắc lư người, nghiêng mình, nhảy nhót như hai con búp bê cũ kỹ nhảy múa được nhờ một bộ máy cổ đã gãy hỏng đôi chút, xưa kia do một người thợ cực kì khéo léo chế tạo nên, theo kiểu cách thời ấy. Và tôi nhìn họ, lòng xôn xao vì những cảm giác lạ lùng, tâm hồn bồi hồi vì một nỗi u hoài khó tả. Tôi tưởng như trông thấy một hồn ma thảm hại và hài hước, bóng dáng lỗi thời của một thế kỷ. Tôi buồn cươi và muốn khóc.
Bỗng họ dừng lại, họ đã nhảy xong các hình của điệu vũ. Hai năm trôi qua, khi tôi trở lại Pari, người ta đã phá mất mảnh vườn ươm. Họ ra sao rồi khi không còn khu vườn thân thương ngày xưa, với những khoảnh vườn ngoắt ngoéo, với hương vị quá khứ và những lùm cây cảnh quanh co duyên dáng?
Hay là họ đã chết? Hay là họ lang thang ở những đường phố tân thời như những kẻ lưu đày vô vọng? Hay là họ đang khiêu vũ, những bóng ma hài hước tức cười, đang nhảy một điệu Mơ-nuy-ê kỳ ảo giữa những cây trắc bá trong nghĩa địa, dọc các lối nhỏ hai bên là những nấm mồ, dưới ánh trăng?   
Kỷ niệm về họ ám ảnh tôi, quấy nhiễu tôi, giày vò tôi, canh cánh trong tôi như một vết thương. Vì sao? Tôi chẳng biết.
Các bạn cho như vậy là lố bịch, hẳn thế?

Cô Rô-za-li Pruy-đăng - Guy De Maupassant

Cô Rô-za-li Pruy-đăng
Guy De Maupassant 
Trần Thanh Ái dịch

Trong vụ này, quả thật có một điều huyền bí mà các quan tòa, viên chánh án và viên biện lý của Nhà nước Cộng hòa không sao tìm hiểu được.   
Cô Rô-za-li Pruy-đăng, người ở của vợ chồng Va-răng-bô ở Măng-tơ, có mang mà ông bà chủ không biết, đã hạ sinh một cháu bé ở trên gác, vào ban đêm, rồi giết con và đem chôn ngoài vườn.   
Đó là chuyện giết con phổ biến thời bấy giờ, mà thủ phạm là những chị đầy tớ. Nhưng có một điều vẫn chưa giải thích được. Cuộc lục soát trong phòng chị Pruy-đăng đã dẫn đến việc khám phá ra một đống đầy đủ quần áo của bé sơ sinh, do chính Rô-xa-li thức đêm cắt, may ròng rã trong ba tháng trời. Tay chủ tiệm tạp hóa, nơi chị đã mua nến bằng đồng lương của mình, cũng đến để làm chứng. Hơn nữa, ông ta quả quyết rằng bà đỡ trong làng đã được cô ta cho biết tình trạng của mình, đã dẵn dò cô mọi điều thiết thực trong trường hợp mà tai nạn có thể xảy ra không ai hay biết. Ngoài ra, bà còn tìm ở Poa-xy một việc làm cho cô Pruy-đăng đề phòng khi cô bị đuổi việc, bởi vì ông bà Va-răng-bô không đùa về chuyện đạo đức bao giờ. Hai vợ chồng ấy, những người hưởng lợi tức thường niên ít ỏi ở tỉnh lẻ, cũng đến dự phiên tòa, họ phẫn nộ vì vết nhơ này đã làm ô uế gia đình họ. Có lẽ họ mong người ta đem chém cô ngay lập tức, không cần xét xử, và họ hành hạ cô bằng những lời khai hằng thù, chúng trở thành lời tố cáo cô nơi cửa miệng họ.   
Thủ phạm, một cô gái cao lớn, xinh đẹp, người xứ Nooc-măng-đi, hiểu khá rõ tình cảnh của mình, cô khóc lóc không ngớt, và không chịu trả lời gì cả. Do đó, mọi người đành phải tin rằng cô ta phạm tội ác man rợ ấy trong giây phút tuyệt vọng và điên cuồng, bởi vì mọi bằng chứng cho thấy cô vẫn hy vọng gìn giữ và nuôi nấng đứa con. Viên chánh án còn cố gắng thêm một lần nữa để cho cô hé môi, để mong nghe được lời thú tội, và khi năn nỉ cô bằng một giọng hết sức ngọt ngào, cuối cùng ông cho cô biết rằng những người tụ tập tại đây để xét xử không hề muốn giết cô, thậm chí còn có thể khiếu nại cho cô.
Lúc ấy cô mới quyết định nói. Ông ta hỏi: “Xem nào, trước hết hãy nói cho chúng tôi biết, ai là cha đứa bé?”. Từ trước đến nay, cô khăng khăng giấu giếm điều này. Chợt cô trả lời và đưa mắt nhìn ông bà chủ, những người vừa mới vu cáo cô một cách điên cuồng.
“Ông Giô-dép, cháu ông Va-răng-bô”.
Hai vợ chồng ông chủ giật mình đánh thót, và đồng loạt kêu lên: “Sai! Nó nói láo! Thật là nhục nhã!”. Viên chánh án bảo họ im, và nói tiếp: “Xin cô cứ tiếp tục, và hãy nói cho chúng tôi biết sự việc đã xảy ra như thế nào?”
Rồi thình lình cô bắt đầu nói liên hồi, để xoa dịu con tim khép kín của cô, một con tim khốn khổ, đơn độc và bị giày vò, để trút hết nỗi muộn phiền của cô, trước mặt những con người nghiêm khắc mà cô đã coi như kẻ thù và những quan tòa ngoan cố.
- Vâng, chính ông Giô-dép Va-răng-bô, năm ngoái, khi ông về đây nghỉ.
- Ông Giô-dép làm nghề gì?
- Thưa ông, ông ấy làm hạ sĩ quan pháo binh. Ông ấy về nhà nghỉ hai tháng. Hai tháng hè. Còn tôi, tôi chẳng suy nghĩ chi cả, khi ông ấy bắt đầu để ý đến tôi, và tán tỉnh tôi, và vuốt ve tôi suốt ngày. Tôi đã để yên cho ông ấy. Ông ấy lặp đi lặp lại rằng tôi là một cô gái đẹp, tôi vui tính…rằng tôi hạp nhãn ông ấy…còn tôi, chắc chắn là ông ấy làm tôi hài lòng…Biết sao bây giờ?...Khi người ta cô độc, hoàn toàn cô độc như tôi, thì người ta sẽ tìm những chuyện ấy. Tôi cô độc trên thế gian này, thưa ông…tôi chẳng có ai để mà trò chuyện, để mà kể lể những muộn phiền…Tôi chẳng còn cha mẹ, anh em, chẳng còn ai cả! Khi ông ấy bắt chuyện với tôi, tôi có cảm giác ông như một người anh đi xa mới trở về. Và rồi, một buổi tối nọ, ông ấy rủ tôi đi xuống bờ sông, để tán gẫu mà không sợ gây ồn ào. Tôi đã đến đấy…Chuyện gì xảy ra sau đó?...Ông ấy ôm tôi…Không, không, tôi không muốn, chắc chắn như vậy…Tôi không thể…Tôi muốn òa lên khóc, nhưng không khí thật là êm ả…Hôm ấy có trăng sáng…Tôi không thể…không…tôi xin thề với các ông rằng…tôi không thể…Ông ấy đã làm tất cả những gì ông ấy muốn…và cảnh ấy còn kéo dài suốt ba tuần lễ sau đó, khi ông ta còn ở đấy…Lẽ ra tôi phải đi theo ông ấy đến tận cùng trời cuối đất…Ông ấy đã ra đi. Còn tôi thì không biết rằng mình đã có mang!...Tôi chỉ biết điều đó vào tháng sau.   
Cô ta lại òa lên khóc to đến nỗi mọi người phải để cho cô có thời gian trấn tĩnh lại. Đoạn viên chánh án nói tiếp bằng giọng của một linh mục trong lễ thú tội: “Xem nào, cứ nói tiếp đi”.
Cô lại tiếp tục nói: “Khi biết rằng mình đã có mang, tôi liền báo cho bà đỡ Bu-đanh, bà đang ngồi kia kìa, để làm chứng điều ấy; và tôi hỏi bà cách thức xử lí trong trường hợp tôi trở dạ mà bà không đến được. Và tôi chuẩn bị tã lót quần áo cho đứa bé, đêm này qua đêm khác, đến tận một giờ sáng; và tôi tìm chỗ làm khác, vì tôi biết rằng mình sẽ bị đuổi việc, nhưng tôi muốn ở lại nhà này cho đến phút chót, để dè xẻn tiền nong, vì rằng tôi chẳng có tiền bạc là bao, trong khi tôi rất cần nó để lo cho cháu bé…
- Vậy là cô không muốn giết cháu?
- Ồ, chắc chắn là không, thưa ông.
- Vậy thì tại sao cô lại giết nó?
- Đấy là vấn đề. Tôi trở dạ sớm hơn tôi tưởng. Lúc ấy tôi đang ở trong bếp, khi vừa rửa chén bát xong.
Ông bà Va-răng-bô đã đi ngủ. Tôi leo lên gác một cách khó nhọc, hai tay bám lấy tay vịn cầu thang mà đu người lên, và tôi nằm xuống sàn nhà để không làm bẩn giường chiếu, cứ như thế suốt một giờ, hai giờ hoặc cũng có thế là ba giờ, tôi không hề biết, vì tôi đau quá; và tôi, tôi dùng hết sức để đẩy nó ra. Tôi cảm thấy nó vừa chui ra, và tôi nhặt nó lên. À! Vâng, tôi rất hài lòng, chắc chắn như vậy! Tôi đã làm tất cả những gì bà Bu-đanh khuyên tôi. Rồi tôi đặt nó lên giường. Rồi cơn quặn đau lại đến hành hạ tôi thêm nữa, một cơn đau muốn chết đi được! Nếu các vị biết được điều đó, các vị đàn ông ấy, thì các vị sẽ không gây ra đến độ như vậy, nhỉ? Tôi khuỵu người xuống, rồi nằm dài ra sàn nhà; rồi chuyện ban nãy lại lặp lại, thêm một hoặc hai giờ nữa, chỉ một mình tôi…và rồi một đứa bé khác chui ra. Hai đứa bé, vâng, hai đứa…thế đấy! Tôi bế cháu lên, như đã bế đứa đầu, và tôi đặt lên giường, cạnh đứa kia. Hai đứa, có thể được chăng? Hai đứa bé! Trong khi mỗi tháng tôi chỉ có thể kiếm được hai mươi quan! Các ngài xem, có thể được chăng? Một đứa, vâng, có thể được, bằng cách nhịn ăn nhịn mặc…Nhưng không thể hai đứa được! Điều ấy làm tôi quẫn trí! Biết làm gì bây giờ? Tôi không thể chọn lựa được!   
Biết làm gì bây giờ? Tôi cảm thấy muốn chết đi được. Tôi lấy chiếc gối để lên trên mà không biết…Tôi không thể nuôi hai đứa được…Và tôi còn nằm lên trên đó nữa. Và tôi, tôi lăn lộn, gào khóc cho đến khi nhìn thấy ánh sáng ban ngày xuyên qua cửa sổ. Hai đứa đã chết dưới gối, chắc chắn rồi. Đoạn tôi bế chúng xuống cầu thang, tôi đi ra vườn, và chôn hai đứa xuống đất, sâu đến độ tôi không thể đào thêm được nữa, một đứa ở chỗ này, một đứa ở chỗ kia, không chôn chung nhau, để chúng không thể nói với nhau về mẹ chúng được, nếu chúng có thể nói. Biết làm sao bây giờ?
Và rồi tôi trở về phòng nằm, tôi đau đến độ không thể ngồi dậy nổi. Người ta đi mời bác sĩ lại. Ông ta hiểu ngay tất cả. Đó là sự thật, thưa quan tòa. Xin các ông cứ làm những gì các ông thích, tôi sẵn sàng chấp nhận.”   
Phân nửa bồi thẩm đoàn khịt mũi liên hồi, để khỏi phải khóc. Các bà thì nức nở trong phòng xử. Viên chánh án hỏi thêm:
- Chị chôn đứa kia ở đâu?
Cô hỏi lại:
- Ông muốn đứa nào?
- Nhưng…đứa ở vườn rau…
- À, còn đứa kia ở vườn dâu, bên bờ giếng.   
Và cô lại khóc nức nở, cô rên rỉ làm não lòng mọi người. Cô Rô-za-li Pruy-đăng được xử trắng án.

Cái thùng con - Guy De Maupassant

Cái thùng con
Guy De Maupassant 
Lê Hồng Sâm dịch

Chủ quán Si-cô, bán hàng ăn ở Ê-prơ-vin, dừng xe trước trại của mụ Magloarơ. Đó là  một gã cao lớn trạc bốn mươi tuổi, đỏ đắn, bụng phệ, nghe đồn là ranh ma. Gã buộc ngựa vào cọc hàng rào, rồi vào trong sân. Gã có chút tài sản giáp với mảnh đất của bà lão, mà gã thèm muốn từ lâu. Có đến hai chục lần gã dạm mua, nhưng mụ Magloarơ khăng khăng từ chối. Mụ bảo:
- Tôi sinh ra ở đây, tôi chết ở đây.
Gã thấy mụ đang gọt khoai trước cửa nhà. Bảy mươi tuổi, mụ khô đét, răn reo, lưng còng, nhưng làm lụng dẻo dai như con gái. Si-cô thân thiện vỗ vào lưng mụ, rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh mụ.
- Thế nào? Bà lão, vẫn khỏe chứ?
- Không đến nỗi, còn bác, bác Prô-xpê?
            - Ấy! Ấy! Đau nhì nhằng, không thì cũng khá.
- À, tốt đấy!
Rồi mụ chẳng nói gì nữa. SI-cô nhìn mụ làm. Những ngón tay khoằm khoằm, khẳng khiu, cứng tựa càng cua, nhặt như quắp lấy các củ màu xám nhờ trong giỏ, và xoay xoay rất nhanh, gọt ra từng khoanh vỏ dài bằng con dao cũ mụ cầm trong bàn tay kia. Rồi khi khoai đã vàng nõn, mụ liền ném vào xô nước. Ba con gà mái dạn người, từng con xán vào tận bên váy mụ nhặt vỏ, rồi cun cút chạy đi, mỏ ngậm mồi. Si-cô ra vẻ bứt rứt, ngần ngại, lo lắng, có cái gì ở cửa miệng mà không thốt ra được. Cuối cùng, gã quyết định:
- Này, mụ Magloarơ…
- Bác cần gì hử?
- Cái trại này ấy mà, mụ vẫn không muốn bán cho tôi hả?
- Chuyện ấy thì không. Không được đâu. Dứt khoát rồi, dứt khoát, bác đừng nói lại nữa.
- Chả là tôi tìm được cách thu xếp ổn thỏa cho cả hai đằng.
- Gì vậy?
- Thế này nhé. Mụ bán nó cho tôi, ấy rồi mà mụ vẫn cứ giữ lấy nó. Mụ không hiểu à? Mụ nghe tôi bảo đây.
Bà lão ngừng gọt khoai, cặp mắt tinh nhanh dưới đôi mi nhăn nheo nhìn gã chủ quán chằm chằm. Gã tiếp:
- Tôi nói rõ nhé. Tôi cho mụ, mỗi tháng trăm rưởi quan. Mụ nghe rành chứ? Mỗi tháng tôi đi xe ngựa, đem đến đây cho mụ ba chục đồng ê-quy loại năm quan. Và rồi chẳng có gì khác cả, chẳng có gì hết. Mụ vẫn ở nhà mụ, mụ không bận tâm gì về tôi, mụ chả nợ nần gì tôi sất. Mụ chỉ có việc lấy tiền của tôi thôi. Mụ thấy thế được không?
Gã nhìn mụ với bộ dạng tươi cười, với bộ dạng vui vẻ. Bà lão ngắm gã một cách nghi ngại, tìm xem cái bẫy ở chỗ nào. Mụ hỏi:
- Thế món ấy, là phần tôi; nhưng phần bác, cái trại này, món ấy không đem trại cho bác chứ?
Gã tiếp:
- Mụ đừng lo chuyện ấy. Trời cho mụ sống được chừng nào thì mụ vẫn ở đây. Đây là nhà mụ. Có điều mụ làm cho tôi cái giấy ở chỗ ông công chứng để rồi sau này tôi được hưởng. Mụ không con cái, chỉ có cháu họ mà mụ chả thiết mấy. Mụ thấy thế được không? Mụ còn sống thì mụ cứ giữ gìn lấy tài sản của mụ, còn tôi cho mụ mỗi tháng ba chục đồng năm quan. Phần mụ rất có lợi thôi.
Bà lão vẫn ngạc nhiên, lo ngại, nhưng bị hấp dẫn. Mụ đáp:
- Tôi chả bảo là không. Có điều, tôi muốn ngẫm xem thế nào đã. Tuần sau bác đến bàn lại. Ý tôi muốn sao tôi sẽ bảo bác.   
Thế là chủ quan Si-cô ra về, hài lòng như ông vua vừa chinh phục được một vương quốc. Mụ Magloarơ đâm nghĩ ngợi. Đêm sau mụ không ngủ. Bốn ngày trời mụ như bị sốt vì băn khoăn do dự. Mụ cảm thấy rõ trong ấy có cái gì không hay cho mình, nhưng nghĩ đến ba chục ê-quy hàng tháng, đến những đồng bạc thật cứ dốc vào tạp dề của mình, từ trên trời rơi xuống cho mình như thế, chẳng phải làm gì, mụ bồn chồn thèm muốn.
Mụ bèn đến gặp ông công chứng và kể lại câu chuyện. Ông ta khuyên mụ nhận lời Si-cô, nhưng đòi năm mươi đồng ê-quy chứ không phải ba mươi, vì trại của mụ rẻ ra cũng đáng sáu ngàn quan. Viên công chứng bảo:
- Nếu bà sống mười lăm năm nữa, thì như thế gã cũng chỉ phải trả có bốn mươi lăm ngàn quan.   
Bà lão run lên khi nghĩ đến năm chục đồng ê-quy hàng tháng, nhưng vẫn còn nghi ngại, sợ trăm ngàn điều bất ngờ, sợ những mưu ngầm, và mụ ngồi lại hỏi han đến tối, không dứt ra về được. Cuối cùng, mụ bảo viên công chứng thảo giấy tờ, rồi ra về bồi hồi rối loạn như thể vừa uống bốn bình rượu táo mới.
Khi Si-cô đến xem mụ trả lời ra sao, mụ để cho gã nài nỉ thật lâu, tuyên bố mình không ưng, song rất sợ gã không thuận đưa năm chục ê-quy. Cuối cùng, thấy gã nằn nì, mụ nói ra ý mụ. Gã giật nảy mình vì thất vọng và gã không chịu. Thế là, để thuyết phục gã, mụ bèn bàn luận về tuổi thọ của mình:
- Chắc là tôi chỉ dăm sáu năm nữa là cùng. Bảy mươi ba rồi, mà có khỏe khoắn gì cho cam. Tối hôm nọ, tôi đã tưởng mình đứt. Người cứ như rỗng ra, họ phải khiêng tôi vào giường đấy.
Nhưng Si-cô không mắc mưu.
- Thôi, thôi, bà lão, bà vững như gác chuông nhà thờ ấy. Xoàng ra bà cũng sống đến trăm linh mười tuổi. Bà sẽ đưa ma tôi, dám chắc như thế.
Mất cả một ngày bàn cãi. Song vì bà lão không nhượng bộ, gã chủ quán, cuối cùng thuận đưa năm mươi ê-quy.
Hôm sau họ lý giấy. Và mụ Magloarơ đòi mười ê-quy lót tay.   
Ba năm trôi qua. Bà cụ khỏe mạnh như có bùa phép. Dường như mụ không già đi lấy một ngày, và Si-cô tuyệt vọng. Gã tưởng chừng gã đã trả món phụ cấp ấy từ nửa thế kỷ nay, gã đã bị lừa, bị bịp, bị phá sản. Thỉnh thoảng gã lại đến thăm mụ chủ trại, như người ta thăm đồng vào tháng bảy, xem lúa đã chín hay chưa cho lưỡi hái. Mụ tiếp gã với cái nhìn ranh mãnh. Cứ như thể mụ khoái chí vì đã chơi cho gã một vố, và gã leo ngay lên xe, mồm lẩm bẩm:
- Thế là mày chẳng ngoẻo đâu, của nợ!
Gã không biết làm thế nào. Nhìn mụ, gã những muốn bóp chết mụ. Gã ghét mụ với niềm căm ghét dữ tợn, nham hiểm, niềm căm ghét của anh nông dân bị mất cắp. Gã bèn tìm kế.
Thế rồi, một hôm, gã đến thăm mụ, xoa xoa hai bàn tay như cái lần đầu tiên, khi gã ướm chuyện mua bán với mụ. Và sau khi gã đã trò chuyện vài phút:
- Này, bà già, sao mụ không đến nhà tôi dùng bữa, khi mụ đi qua Ê-prơ-vin? Họ bàn tán đấy, họ bảo thế là mình không bạn bè với nhau, chuyện ấy làm tôi buồn lắm. Mụ biết đấy, ở nhà tôi, mụ không phải trả tiền đâu. Tôi chẳng so sẻn gì một bữa ăn. Mụ ưng thì mụ cứ đến tự nhiên, cho tôi vui lòng.
Mụ Magloarơ chẳng để phải được mời lại, và ngày hôm sau nữa, nhân đi chợ bằng xe ngựa do anh đầy tớ Xê-lê-xtanh cầm cương, mụ không nề hà gì, cho luôn ngựa vào chuồng nhà Si-cô, và đòi bữa ăn gã hứa. Tay chủ quán tươi roi rói, tiếp đãi mụ như bà lớn, thết mụ gà giò, đùi cừu quay, thịt mỡ nấu bắp cải. Nhưng mụ hầu như chẳng ăn gì, quen thanh đạm từ thuở bé, suốt đời chỉ dùng ít súp với một mẩu bánh mì phết bơ.
Si-cô nài nỉ, thất vọng. Mụ cũng chẳng uống gì. Mụ từ chối cà phê. Gã bảo:
- Thế bà dùng tí rượu nhé!
- À! Cái ấy thì được.
Thế là gã gọi váng lên, từ đầu này đến đầu kia quán:
- Rô-da-li, đem rượu đây, loại cực ngon, thượng hảo hạng ấy.
Và chị hầu gái bước ra, tay cầm cái chai thon dài có trang trí một lá nho bằng giấy. Gã rót đầy hai cốc.
- Bà lão, nếm thử này, loại trứ danh đấy.
Bà già uống từ từ, nhấm nháp, kéo dài niềm thích thú. Khi cốc đã cạn, mụ dốc cho hết rồi tuyên bố:
- Ừ phải, rượu ngon thật!
Mụ chưa nói xong, Si-cô đã rót luôn cho mụ đợt nữa. Mụ toan từ chối, nhưng không kịp, và mụ lại nếm náp rất lâu, như cốc trước. Thế là gã muốn mời cốc thứ ba, nhưng mụ không chịu. Gã nài nỉ:
- Cái này, như sữa ấy mà, mụ thấy đấy, tôi à, tôi uống mươi, mười hai cốc êm ru. Nó trôi tuột đi như đường. Bụng chả sao hết, đầu chả sao hết, như thể vào đến lưỡi là bốc hơi luôn. Lợi cho sức khỏe nhất hạng đấy!
Bởi muốn uống quá nên mụ nhận lời, nhưng chỉ nửa cốc thôi. Thế là Si-cô, trong cơn hào hiệp, reo lên:
- Này, vì mụ thích, tôi sẽ cho mụ một thùng con để mụ thấy rằng chúng ta bao giờ cũng là bạn bè với nhau.   
Bà lão không từ chối và ra về, hơi chếnh choáng.
Hôm sau, gã chủ quán vào sân nhà mụ Magloarơ rồi lôi trong đáy xe ra một cái thùng con có đai sắt. Rồi gã muốn mụ nếm thử để chứng tỏ là đúng thứ rượu ấy, và sau khi mỗi người đã uống ba cốc, gã tuyên bố lúc ra về:
- Mụ biết đấy, khi nào không còn, thì lại có nữa. Mụ đừng ngại, tôi không so sẻn đâu. Càng hết mau tôi càng vui bụng.
Rồi gã trèo lên xe.
Bốn ngày sau gã trở lại. Bà già ngồi trước cửa đang cắt bánh để nấu súp. Gã đến gần, chào mụ, nói sát vào mặt mụ cốt để ngửi hơi thở mụ. Và gã thoảng thấy mùi rượu. Thế là mặt gã rạng lên. Gã bảo:
- Mụ mời tôi một cốc chứ?
Và họ chạm cốc hai ba lượt.
Nhưng chẳng bao lâu sau trong vùng có tiếng đồn là mụ Magloarơ nghiện ngập say sưa một mình. Người ta nhặt được mụ khi ở trong bếp, khi trong sân, khi trên những nẻo đường quanh đấy, và phải khiêng mụ về, sõng sượt như xác chết.
Si-cô không đến nhà mụ nữa, và khi người ta nói với gã về bà già, thì gã khẽ bảo với bộ mặt buồn rầu:
- Vào tuổi mụ mà mắc chứng ấy thì cũng gay đấy nhỉ? Già rồi thì vô phương cứu chữa. Rồi ra chẳng hay cho mụ đâu!   
Quả là chẳng hay cho mụ thật. Mùa đông năm sau mụ chết, quãng gần lễ Nô-en, vì quá say, ngã trong tuyết
Còn Si-cô thừa hưởng trại, và bảo rằng:
- Cái nhà mụ này mà không rượu chè ấy à, còn là đậu được chục năm nữa.