Mợ Du
Nguyên Hồng
- An! An!
Tiếng gọi vừa dứt, một bàn tay nắm
chặt cánh tay tôi lôi tôi đi. Tôi mở to mắt nhìn người đàn bà này. Còn tôi,
càng nhìn vẻ mặt hốt hoảng của mợ Du tôi càng hồi hộp và nóng lòng chờ một câu
nói của mợ ta. Đến đầu phố mợ mới dừng lại, ghé miệng vào tai tôi:
- Thằng em Dũng đâu hở con? Con đi
tìm nó cho mợ. Con bảo nhỏ thằng em Dũng chứ! Nếu nó ở trong nhà thì con chờ nó
ra ngoài đường rồi hãy gọi.
Đoạn mợ ta ẩy mạnh tôi:
- Mau lên con! Mợ đứng chờ con và em
Dũng ở bên đường ông Hào đấy!
Mợ Du! Mợ Du! Một người đàn bà mà hiện
giờ tôi còn nhớ từng nét mặt, tiếng nói. Mợ có một gương mặt trắng mát, gò má
hơi cao, mắt có quầng thâm và lúc nào cũng ướt át, lờ đờ. Tiếng nói của mợ nhẹ
và ấm. Mợ đã là người bạn buôn bán thân nhất của mẹ tôi. Nhưng từ ngày mợ bỏ cậu
Du, tôi ít thấy mẹ tôi chuyện trò với mợ, cho đến ngày nghe đâu mợ vào Vinh
cùng với một người thợ may tây rồi đẻ con với người ấy.
Mợ Du bỏ chồng! Mợ Du phải bỏ chồng
vì bị mẹ chồng và em chồng bắt được quả tang tình tự với anh thợ may trai trẻ,
có duyên, làm cho nhà mợ! Tôi đã không hiểu tại sao mợ Du đã có con lớn lại bậy
bạ như thế. Và, như những người lớn, tôi đã ghét và khinh mợ mỗi khi nghe nhắc
đến mợ với cái tội không thể tha thứ ấy.
Nhưng sau một đêm kia, đối với mợ Du
tôi bỗng đổi ra thành lòng thương và mến. Rồi từ đêm ấy trở đi, tôi căm tức vô
cùng trước những kẻ bêu riếu mợ hay ra vẻ ghê tởm thằng Dũng con mợ.
Đêm ấy là một đêm trăng và tôi không
nhớ về tháng tám hay tháng chín, chỉ nhớ là một đêm trăng sáng lắm. Mợ Du cũng
bỗng nhiên hiện ra trước mặt tôi và nắm chắc cánh tay tôi.
- An! An! Con giúp mợ việc này rồi mợ
cho một xu nhé.
Tôi chau mày lại nhìn người đàn bà
đã vắng mặt ở phố tôi và không biết đi đâu đã sáu bảy tháng nay:
- Tôi chịu thôi! Mợ nhờ đứa nào thì
nhờ.
Mợ Du giọng ngọt ngào van lơn:
- Con chịu khó một chút mà! Chóng
ngoan! Đây mợ cho con hai hào đây.
Đồng hào đôi sáng loáng dúi vào tay
tôi có ngay một hiệu lực rất mạnh. Tôi không còn thấy khó chịu vì sự nhờ vả của
mợ, và tôi như không còn nghĩ đến cái tai tiếng không ra gì của mợ khiến mợ trở
nên một người chịu đựng sự khinh bỉ và nguyền rủa của cả các gia đình.
Tôi vẫn làm ra bộ khó khăn, nhìn mợ
bằng cặp mắt do dự. Mợ Du liền kéo tôi vào một hàng hiên. Mợ nói nhỏ, giọng
càng run run:
- Con vào nhà rủ thằng em Dũng ra đường
chơi với mợ. Con đừng cho ai biết! Và con rủ nó sang gốc ổi vườn ông Hào đằng đầu
phố ấy.
Tuy nhỏ tuổi, nhưng chỉ nghe mợ Du
nói ngần ấy câu, tôi nhận thấy ngay tại sao có sự gặp mặt vụng trộm giữa hai mẹ
con này, và tôi cảm thấy rõ ràng sự lo lắng và đau khổ của một người đàn bà bị
đuổi ra khỏi cửa một gia đình nay lẩn lút trở về để được thăm nom con giây
phút.
- Ừ con, - tôi đổi tiếng xưng hô -
con đi gọi thằng Dũng cho mợ, nhưng nhỡ nó đương đọc sách cho cậu nó nghe trong
khi cậu nó hút thuốc phiện thì sao?
Mợ Du chớp chớp mắt rồi lờ đờ nhìn về
một cửa hàng đã đóng cửa. Trong bóng tối giữa hàng hiên, cặp mắt mợ Du bỗng
long lanh như hai viên ngọc:
- Thì con chịu khó ngồi bên nó rồi
thừa cơ bấm nó rồi bảo nhỏ nó ra ngoài.
Tôi liền gật đầu, chạy vút đi.
May quá, tôi vừa tới cửa nhà cậu Du
thì thằng Dũng ở trong nhà đâm bổ ra gọi hàng mía. Nó không để tôi nói thêm với
nó một nhời, chạy theo tôi ngay và luôn luôn bắt tôi đưa xem đồng hào đôi mới.
Chúng tôi vừa mới đến cổng vườn nhà
ông Hào, mợ Du ở một bụi râm bụt lao sầm ra, ôm chặt lấy thằng Dũng vừa nức nở
kêu tên Dũng:
- Dũng! Dũng! Dũng con ơi!
Mợ bế xốc Dũng lên, đẩy cánh cổng chạy
vào trong cùng vườn. Tôi theo vào. Mợ Du đặt Dũng xuống đất, mợ quỳ hẳn đầu gối,
hai tay choàng lấy người Dũng. Vẫn cái giọng nghẹn ngào ấy:
- Dũng! Dũng! Dũng có nhớ mợ không!
Bà có đánh Dũng không? Cậu có bênh Dũng không? Dũng có nhớ mợ không? Có thương
mợ không?
Dũng không đáp, ngả đầu vào vai mẹ mếu
máo:
- Hự! Hự... mợ về nhà với con cơ...
Mợ Du hôn hít vào má, vào trán, vào
cằm Dũng rồi khóc nức nở:
- Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất!
Dũng ơi! Dũng ơi!
Ánh trăng vằng vặc đã gội tràn trề
xuống hai gương mặt đầm đìa nước mắt áp lên nhau và hai mái tóc ngắn dài trộn lẫn
với nhau. Hương hoa cau và hoa lý sáng và ấm đã xao xuyến lên bởi những tiếng
khóc dồn dập vỡ lở ở một góc vườn, rì rì tiếng dế.
Tôi dần thấy nghẹn ở cổ. Tôi phải
bưng lấy mặt và quay đi chỗ khác: "Mợ ơi! Mợ ơi!".
Đằng kia Dũng cũng: "Mợ ơi! Mợ
ơi!".
Tiếng khóc của Dũng và cả chính tiếng
khóc của tôi càng xé lòng tôi ra.
Chợt mợ Du đứng vùng lên, hất mạnh mớ
tóc xõa ra đằng sau.
Thoáng cái, mắt mợ quắc lên sáng ngời
và gương mặt trắng mát của mợ tái hẳn đi. Mợ cắn chặt môi dưới, lắc mạnh đầu
luôn mấy cái. ánh trăng càng chảy cuồn cuộn trong những đợt tóc đen ánh trở nên
hung dài chấm gót của mợ Dũng.
Mắt người mẹ khốn nạn, mắt đứa con đầy
đọa và mắt tôi đắm vào nhau không biết trong bao nhiêu phút, yên lặng và tê
mê...
Một lúc sau, mợ Dũng dắt Dũng ra
ngoài vườn. Tôi chực chạy ra hè trước, mợ vội chạy theo, kéo tôi lại. Mợ, một
tay nắm tay Dũng, một tay xoa đầu tôi, giọng khàn khàn và vẫn nghẹn ngào:
- An và em Dũng về nhà nhé. Mấy hôm
nữa mợ lại về. Mợ đã dặn ông Hào rồi đấy, An và Dũng muốn thức ăn gì thì ăn.
Nói đoạn, mợ cúi xuống lại hôn hít
vào trán, vào má vào cổ, vào gáy Dũng.
Toàn thân tôi lại rung chuyển trước
sự quyến luyến này.
Nhìn sự chia lìa đau xót của hai mẹ
con Dũng, tôi đã có cảm tưởng chính tôi là Dũng, và tôi đã có ý muốn ôm ghì lấy
mợ Du, ôm ghì mãi mãi, ôm ghì lấy rồi dù bị chết cũng cam tâm...
Từ đấy trở đi, mỗi lần mợ Du ở Vinh
về là tôi đi gọi Dũng. Tôi không còn nhớ rõ là tôi đã gọi Dũng tất cả bao nhiêu
lần. Chỉ biết rằng trong một thời gian khá dài - hơn ba năm - lần nào sự gặp gỡ
của hai mẹ con Dũng cũng làm tôi sung sướng, và lần nào sự chia lìa của mẹ con
Dũng cũng thấm cả nước mắt tôi và làm tôi bùi ngùi trong sự thương tiếc mênh
mông như cái bàng bạc của đêm thu đầy trăng.
... Bẵng đi 17, 18 năm tôi không một
lần nào gặp Dũng và người mẹ của Dũng đã một thời kỳ từng tai tiếng. Dũng, tôi
gần quên hẳn. Vả lại, dẫu chúng tôi có gặp mặt nhau, tôi cũng khó nhận ra Dũng
sau bao năm đằng đẵng có thể là một nửa đời người non yếu này.
Nhưng, tôi đã được gặp mợ Du. Thì đó
lại là lần cuối cùng, cuối cùng của cả một đời tắt mãi mãi và cuối cùng của những
dòng chữ viết về một người.
Ấn tượng của cái kỷ niệm này không
bát ngát bàng bạc như xưa kia nó hằn với tâm hồn tôi trong cái đêm trăng sáng,
hương hoa cau, hoa lý ngát không khí. Trưa hôm ấy nắng. ánh nắng vàng rực, các
vật ngoài trời đều chói lòa trong những tiếng rào rào của ánh sáng bị gió thổi
cuồn cuộn như sóng.
Sau đấy, nhất là giờ đây, bất cứ một
hình sắc gì của mợ Du trong cái cảnh buổi ấy đều ngùn ngụt trước mặt tôi qua một
thứ lửa tê tái tỏa ra cả ở trong da thịt tôi.
Lúc đó vào khoảng hai giờ, hầu hết
những người đi làm đã đến sở mình.
Ngoài phố, những ngã ba, ngã tư, sự ồn
ào trào lên chỉ ở từng khu và cảnh tấp nập không lầm lụi, rối loạn như trưa
nay. Nắng trong dần đi. Sắc xanh pha-lê trên cao bao la thêm. Nhưng cảnh xuân ở
thành thị vẫn không rõ rệt tươi tốt bằng ở nhà quê với những cánh đồng lúa, những
đình chùa, những con đường đất nổi lên nhịp nhàng dưới vùng trời khoáng đãng1
và, với tiếng cười nói, hỏi gọi của người ta cứ vang vang trong gió. éây vẻ
xuân ăn chơi, vui quên chỉ còn sót lại ở mấy phố ta trong những nhà cửa vôi mới
quét lại hớn hở lên vì nắng, trong mấy hiệu tạp hóa và trong những đám súc sắc,
xóc đĩa2 đương họp lén lút với những đám trẻ con bẩn thỉu mà tôi, thằng bé An
xưa kia, hễ có tiền là sống chết cũng sục vào.
Tôi đương viết tập cho một đứa cháu
thì thấy có tiếng súc sắc, và đứa cháu tôi không nhìn trộm ra ngoài nữa mà chạy
hẳn ra. Bà ở chung nhà với tôi, đi vào, lắc đầu:
- Thế mà chết rồi!...
Trước nét mặt nhăn nhó chỉ có vẻ buồn
cười của bà ta, tôi bật lên hỏi:
- Thưa bà ai thế? Sao thế?
Bà ta càng làm ra bộ ảo não:
- Cái người mới đến ở nhờ bà cụ Ký
bên kia, bán quà ở gần rạp hát và đầu ngõ ấy mà.
Tôi vẫn không thể nhớ ra là ai. Thấy
tôi băn khoăn, bà ta vừa gắt vừa cười:
- Cái người một hôm cậu bảo tôi gọi
lại mua chuối ấy. Tôi gọi ba bốn lượt, nhưng chị ta cứ đi lùi lũi làm cậu tức
mình, đến tối chị ta rao bán, cậu không mua mà cho các cháu đi mua hàng khác.
Tôi "à" lên một tiếng, gật
gật đầu. Bà nọ cho thế là đã thỏa cái công việc tò mò của mình và làm trọn cái
sự cổ động lòng thương xót một kẻ xấu số rồi, lại ngồi xuống vừa chẻ củi chan
chát vừa quát tháo chỉ bảo người nhà. Xong hai trang viết tập cho đứa cháu, tôi
giở sách ra đọc tiếp. Một dòng, hai dòng... năm dòng, mười dòng... rồi hết một
trang, sang trang bên. Những chữ in nhỏ ấy trước còn từ từ đi vào tâm trí tôi,
hơi chập chờn, lộn xộn với những nghĩa không đằm thắm mấy. Sau, tôi càng trấn
tĩnh bao nhiêu, chú hết cảm tưởng vào những hình ảnh, những tình tứ trong truyện,
thì chỉ thấy đầu óc càng bừng bừng. Tất cả những cái tôi đọc để nghiền ngẫm chỉ
là một sự rối loạn khô khan.
Tôi đành phải để sách xuống, mắt lim
dim, chân tay duỗi mềm mại, mặc bất cứ cái gì đến trong tâm trí. Nhưng câu nói
trên của bà cùng nhà với tôi bỗng trở lại bên tai tôi rành mạch từng tiếng.
Theo liền những tiếng thì thầm này, một dáng người co ro, những mảng quần áo vá
víu và một mẹt quà lèo tèo hiện ra, mờ mờ, lành lạnh. Tôi thấy lòng nao nao và
sau thì khó chịu vì sự vơ vẩn này. Tôi cau mày, định cầm sách lên đọc nốt để
còn làm mấy việc khác.
Một người ở nhờ ở vả, chết đột nhiên
và cô độc không ai thân thích ma chay, một người khốn nạn như thế nhan nhản ra
muốn xem lúc nào chả có. Đằng sau nhà tôi, trong những xóm nhà lá của những đám
người tha phương cầu thực3 kia, thường thường lại nổi lên những tiếng khóc lóc,
rên rỉ về sự chết chóc, mà người chết tuy không một thân một mình nhưng cũng chỉ
được đến cỗ ván mỏng, bát cơm, quả trứng, vài thẻ nhang, và bốn người khiêng đi
vùn vụt như chạy trốn, họ chuyên sống với cái nghề này và uống rượu...
Tôi đã nghĩ như thế. Tâm trí tôi dần
trở nên sáng sủa, tỉnh táo. Đọc hết cuốn sách, tôi ra đi thong thả ngoài sân,
khoan khoái lâng lâng.
Bọn người chuyện trò vang vang, ra
vào nhà có người đàn bà chết đã ngớt. Bà cụ chủ nhà mượn được cái mành bèn che
chắn ngay lấy chỗ người chết nằm. Trời vẫn nắng to. Sau bức mành lọc nhẹ đi,
làn ánh sáng vàng rực, cái chõng và thi hài chăm chú trông lại rõ hơn. Tôi thấy
cả những đợt khói lừ lừ tản ra trên đầu người chết và những đốm lửa nhang rung
rung khi gió nổi lên thổi tan tác những mảnh nắng ở ngoài trời và loạn xạ những
cát bụi trong cái khoảng mầu che cho người chết. Không tiếng kèn tỉ tê, không
tiếng khóc kể lể rên rỉ, không nồng mùi bồ kết đốt với mùn cưa, cái tử khí đây
kia thăm thẳm, chứa đầy những độc ác, như của một nơi mà các người chung quanh
không còn ai sống...
Bất giác tôi sang sân vào nhà bà cụ.
Thoạt thấy tôi, bà cụ, và mấy người đàn bà sang hỏi thăm, ra đón:
- Cậu sang chơi. Đấy! Cậu xem có khổ
không, nhà chị ta đã sắp thúng định đi chợ mua thêm hàng, nhưng ra khỏi cửa lại
về nằm lịm đi một lúc thế mà đã chết rồi. Tôi chẳng là họ hàng gì mà phải làm
ma đấy. Các bà ấy cứ trách tôi dễ dãi quá, nhưng thôi, mình cứ ăn ở cho hết cái
tình cái nghĩa đối với những kẻ bơ vơ, khốn khổ còn thì mặc giời kiêng cho.
Thấy tôi chăm chú nghe, bà lại kể lể
tiếp, giọng rất trơn tru, nào người đàn bà nọ nói không có chồng con gì cả, nào
đi buôn bán mãi Vàng Danh, Cẩm Phả về ốm yếu quá định về đây lần hồi, nào bà cụ
thương tình cho ở nhờ hẳn một nửa gian, giường chiếu, bát đĩa của bà cụ tha hồ
dùng, nào bao người năn nỉ thuê nhà bà cụ không được vì các con cái bà cụ đi
làm xa, bà cụ chỉ cần có người sạch sẽ chịu khó và hiền lành bầu bạn với cụ và
các cháu bé của cụ cho vui thôi.
Bà cụ sai cháu rải chiếu cạp điều5
ra trường kỉ và rót nước thân mời tôi. Chè hột có gừng, ủ trong bình, tuy còn
nóng sôi nhưng tôi vẫn thấy lờ lợ. Tôi chỉ nhấp qua rồi sau một lúc yên lặng, đứng
dậy đến chỗ người chết nằm. Bà cụ lại bỏ khách đi theo tôi. Khi chúng tôi đứng
sát cái chõng, bà cụ trỏ vào người chết:
- Chị ta chỉ có mấy cái quần áo mặc theo
đi ấy là lành lặn thôi, còn mấy cái kia rách mướp mườn mượp tôi còn để đấy mà
cũng chẳng ai muốn lấy cả. Một bà trong ngõ phải mua lại cái chăn của phu xe
gán ngoài hàng cơm để liệm với cái chiếu của tôi. Sáng mai một bà cho cỗ ván nữa
là xong.
Để chứng thực sự ngay thẳng và lòng
ăn ở khác thường của mình, bà cụ kéo ở xó cửa đằng kia ra một cái thúng. Bà cụ
lật vỉ buồm lên, chìa ra trước mặt tôi từng cái xống áo cũ rách một. Chợt bà
kêu lên, qua gọi đứa cháu gái lớn:
- Khổ quá mày ơi! Những thứ chuối
chăn, kẹo bỏng kia mày còn để đây làm gì! Cho người ta không lấy thì vứt đi chứ!
Cả tôi cũng phải cau mày lại trước
những quả chuối đã đen nhũn, lấm tấm những lỗ ngó ngoáy và những kẹo vừng, bỏng
bắp ướt át, kiến bâu chi chít. Những đồ hàng cuối cùng của người đàn bà! Nếu y
bán rẻ đi thế nào chả hết. Nhưng đời nào y chịu lỗ vào cái vốn nghèo ngặt sống
còn của mình. Chẳng phải y, bất kỳ người đầu đường cuối chợ buôn thúng bán bưng
nào cũng thế hết, trong sự làm ăn bát cơm đổi bằng bát mồ hôi của mình. Và đến
phút hấp hối, người đàn bà nọ vẫn không thể tin được mình chết. ở cái buổi sáng
tưng bừng hôm ấy, phố xá tấp nập, đâu đâu cũng ồn ào đầy những hình ảnh của sự
cố gắng, mải miết để được sống, ai mà không bíu lấy sự tin tưởng tốt đẹp?!
Những người trong xóm đi chợ đã lác
đác về. Họ đi từng tốp, chuyện ríu rít, rủ nhau tối nay tắm rửa sạch sẽ để đi lễ
đền, lễ chùa. Xuyên qua bọn họ, những người gánh nước làm nhớp nháp thêm cái lối
vào xóm chật hẹp, mấp mô tách ra hàng mười ngõ. Bên trong ở những vườn rau diếp,
rau cải, sà lách, và những vườn trồng hoa bán trên phố tây, những thùng tưới cứ
rào rào đưa trên những luống đất nhỏ tơi, kín sắc xanh mượt và những sắc hồng
tím, vàng, nhung, trắng, tươi mọng... Nắng và gió tỏa ra lênh láng. ánh sáng
trong suốt reo lên trên những cây cỏ nẩy nở như thổi.
Đứng ở trong này, tôi đã thấy lòng
run run. Tôi nghĩ đến cái giây vừa thở hắt ra, vừa quằn quại của một con người
cách tôi không đầy chục thước mà tôi và cả mọi kẻ chung quanh đều không hay biết.
Tâm trí tôi lắng sâu hơn nữa. Tôi nghĩ đến cả cái kiếp người kia chắc chỉ toàn
những sự đày đọa, cái kiếp làm thân đàn bà không chồng con, không thân thích,
đâu có kẻ thân mến là quê hương, gia đình mình, và tất cả sự no ấm chỉ trông cậy
vào sức mình, sự chịu khó của mình.
Tôi hồi hộp nhắc cái vuông khăn tay
dòng dọc đỏ phủ mặt người đàn bà lên. Tôi lặng đi, tê tái nhìn cái bộ xương hốc
hác, gồ ghề, xám xịt. Thay cho gối, tóc y cuốn thành một mớ đầy, vẫn còn đen
nhánh, giá cắt đi làm một cái đuôi gà thì phải dài, óng ả lắm.
- Cậu này! Cậu xem cái giấy gì và
hình gì thế này?
- Vâng! Vâng!
Tôi phải quay lại với bà cụ. Tôi vội
vàng đón lấy mấy tờ giấy đã nhầu nát, nhòe nhoẹt và tấm hình nhỏ tí bà cụ đưa
cho. Không!... Không!... không phải là những miếng giấy vứt đi, mà là bốn bức
thư. Bức, chữ viết ngòng ngoèo, bức đã thẳng dòng, bức đã có những câu chấm gẫy
gọn và những dấu chấm than và bức, chữ lại nguệch ngoạc, nhưng rắn rỏi và lời lẽ
gay gắt như trong một bài báo tranh biện. Tất cả, dưới đều kí tên Dũng, từ những
nét ngây ngô trở nên những nét sắc trơn. Tôi đã suýt kêu lên nhưng cổ họng nghẹn
hẳn. Tôi giơ hẳn tấm hình ra ngoài cửa xem.
Tấm ảnh chụp hai mẹ con kia rõ ràng
là mợ Du và thằng Dũng. Người mẹ ấy đôi mắt vẫn sáng, và cái sống mũi dọc dừa,
cái cằm thon trong gương mặt vẫn đầy tươi trẻ, tinh anh6. Còn thằng nhỏ thì bế
nâng lên trước mặt người mẹ, một tay y bịt lấy rốn nó, mặt hơi cúi xuống với nó
nhưng mắt vẫn ngước lên như trỏ cái sự vật đằng trước cặp mắt bỡ ngỡ của nó cho
nó cười thêm. Dưới tấm ảnh mà tôi không thể nào lầm lẫn được ấy lại còn có thêm
dòng chữ này:
- Kỷ niệm ngày con Dũng của mợ lên
hai nhưng mới được tám tháng.
Và ở một góc có hai dòng chữ nhỏ như
kim:
- Dũng ơi! Con của mẹ ơi! Biết đến
bao giờ mẹ mới được gặp con?!
° ° °
Mợ Du đã chết rồi?! Người mẹ khốn nạn
kia bị người chồng sau tình phụ, hay vì y chết, mợ sa sút và cho mình đã phạm một
trọng tội, mợ đành sống lén lút, để khỏi dây dính đến Dũng? Hay mợ đã tìm đến
Dũng nhưng không được nhìn nhận? Hay Dũng chết rồi? Hay những giấy má, hình ảnh
kia chỉ là của người đàn bà chết bắt được?!
Tôi đã nhiều lúc tự hỏi nhưng chỉ thấy
thêm rằng chắc chắn mợ Du đã chết và những cảm tưởng về mợ chỉ càng thấm thía,
tê tái trong tâm hồn tôi, thằng bé An xưa kia không còn những dòng nước mắt
tràn trề để khóc nữa.
(1939 - 1943)
1
Khoáng đãng: rộng rãi, bát ngát.
2
Súc sắc, xóc đĩa: hai hình thức cờ bạc, đỏ đen (súc sắc: gieo những quân súc sắc
bằng xương. Xóc đĩa: úp bát xuống đĩa xóc những đồng tiền hai mặt sấp ngửa).
3
Tha phương cầu thực: kiếm ăn nơi đất khách quê người.
4
Bất giác: không có chủ ý gì.
5
Chiếu cạp điều: chiếu cạp vải đỏ chung quanh - chiếu sang, quý.
6
Tinh anh: phần tinh túy, tốt đẹp; ở đây có nghĩa là sáng sủa, linh lợi.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét
namkts57@gmail.com