Phố nhà binh
Chu Lai
Tất nhiên căn phố dài một ngàn hai trăm
mét đó có tên gọi đàng hoàng nhưng lâu nay, do quen miệng, người ta cứ kêu là
phố Nhà binh cho khỏi lẫn với các khu phố dân sự khác.
Chỉ mới cách đây chừng đôi ba năm thôi,
cảnh sắc nơi này còn vắng lặng thâm trầm lắm. Dường như tất cả các căn hộ to nhỏ,
ngắn dài đều bảo nhau khinh khỉnh xây lưng ra đường, khiến cho dãy phố đã tăm tối
lại càng hun hút nỗi đe dọa rập rình mỗi khi ai đó có việc phải đi sớm về khuya
qua đây. Chao ôi là những đêm đông khuya khoắt, cả dãy phố chỉ độc tôn còn lại
tiếng giày đinh quân cảnh gõ uể oải hai bên hè, tiếng trai gái run rẩy thì thầm
nhòa chìm vào những vùng tối gốc cây và tiếng cành sấu khô rụng đơn côi xuống mặt
đường mỗi khi có làn gió lạnh thổi qua...
Vậy mà bỗng một ngày, lại như tuân thủ
nhất loạt một khẩu lệnh của đấng toàn năng, sau vài đêm hỗi hả đục tường, trổ cửa,
nới mái... phắt một cái, các căn hộ rùng rùng chuyển động ngỡ ngàng quay mặt ra
với cuộc đời. Bao mảng tường rêu phong tựa hồ đã bị bỏ quên hàng ngàn năm in nhờ
nhờ dấu chịn ngọt ngào của thân người bỗng phát khởi thành những khuôn sáng
vuông tròn chan hòa đủ màu đỏ, vàng, xanh, của đủ loại kiốt thấp cao: mỹ phẩm,
uốn sấy tóc, photocopi, giày dép da, điện lạnh, cà phê Berr, cà phê Noa, bún phở,
xe máy, thuê và ghi hình video và sự sang trọng đến ngốt người của các đại diện
giao dịch Mếch này, Tếch kia... Phố nhà binh ngày ngày bị phá vỡ cấu trúc từ
bên trong để hóa thân thành một khu phố thương mại náo hoạt. Và người nhà binh
cũng tự vặn mình phá vỡ mọi mặc cảm, định kiến, mảnh giáp trụ quân phục, vị thế
cố hữu của phẩm hàm tướng tá, gia phong gia phả... để cố gắng hòa nhập vào dòng
đời đang cuộn chảy bên ngoài, mong tìm được cuộc sống khả dĩ còn gọi được là...
Cuộc sống.
Tôi cũng có một anh bạn thân ngụ tại một
căn hộ trong phố đó mà mỗi khi về Hà Nội, tôi không thể không ghé qua ăn nghỉ.
Sau một ly rượu ngà ngà, nhìn Thẩm (tên người bạn) trẻ trung, cường tráng, lanh
lợi và có đôi phần viên mãn, lại liếc nhìn căn hộ hai buồng không to tát nhưng
xinh xắn, tiện nghi và ấm cúng, tôi bất giác buột miệng nói ra một câu mà đáng
lẽ ở vào cái tuổi tôi chẳng nên nói:
- Giả dụ như mình Thẩm ạ... Tất nhiên
nói theo cảm nhận cá nhân thì... thì mình...
- Thì dù có ăn rau ăn cháo, một thằng
đàn ông chân chính không bao giờ được phép để vợ đi như thế chứ gì? - Thẩm nói
tiếp hộ tôi với cái cười dễ dãi, rất tươi - Khỏi lo đi! Mỗi người một quan niệm,
mỗi người một hoàn cảnh, một phận số, mình tin ở cô ấy. Mà... Hả? Dù có thế đi
nữa thì đã làm sao nào? Miễn là khi cô ấy trở về, bọn mình sẽ sống ổn hơn, nhân
quyền hơn, tương lai con bé Hương Thảo sẽ được đảm bảo. Ðó là cái chính, chứ
ông bảo lứa bọn mình còn làm được gì nữa, coi như bỏ đi rồi. Hả?
Nó "hả" cái kiểu nện quả tạ
vào mặt người ta như thế thì còn cách nào khác là lặng lẽ gật đầu. Rồi tôi cũng
bỗng dưng bật cười vì cái suy nghĩ ngồ ngộ rằng không còn nhận ra thằng Thẩm
ngày xưa nữa. Một thằng Thẩm to cao như lực sĩ, cười ha hả, giọng oang oác, vui
chửi tục, buồn cũng chửi tục, mặt mày lúc nào cũng tươi tỉnh rỡ ràng như sắp sửa
vào cơn hưng phấn. Còn giờ đây, bộ pi gia ma trưởng giả đã thay thế cho chiếc
quần cụt thể thao nó thường mặc ở nhà, thoạt trông giống như cái thằng đàn ông
mắc bệnh phong tình, bữa cơm đã có cốc nước đá lạnh để cạnh mâm, vừa ăn vừa
chiêu dần dà, xem ra lời ăn tiếng nói, dáng đi dáng đứng đã mềm mại khoan thai
lên nhiều lắm. Còn Hương, vợ Thẩm, vốn là con một vị tướng tư lệnh binh chủng,
Căn hộ hai buồng dễ thương này là ông cho con gái rượu. Trước đây hai người
cùng công tác trong một đơn vị công binh cầu đường, chỉ khác kẻ ở văn phòng,
người nằm sâu dưới đơn vị. Yêu cái vẻ yêng hùng chiến trận, yêu tính cách đàn
ông khoáng đạt bạo liệt của chàng kỹ sư tiểu đoàn trưởng vốn gốc gác con nhà
làm ruộng, cô đã lạnh lẽo khước từ không ít chàng trai tốt người đẹp mẽ, học vị
đến nơi, lại con nhà môn đăng hộ đối để chấp nhận tình yêu của Thẩm, tất nhiên
sau khi đã quần cho cu cậu chỉ còn thiếu nước đập đầu vào tường.
- Này - Tôi hỏi - Ðằng nào thì cậu cũng
đã trót khoét tường, trổ cửa rồi, cớ sao không cho thiên hạ thuê mở cửa hàng mỗi
tháng kiếm vài trăm ngàn nuôi con?
- Chả bõ. Thà đất đai rộng rãi như mấy
ông tướng về hưu ở phố này, mỗi tháng ít nhất cũng trên dưới một triệu tiền cho
thuê mặt bằng thì lại đi một nhẽ. Nói đùa! Chờ mẹ bé Hương Thảo về đã. Hình như
cô ấy có ý định làm ăn lớn, cứ nhắn về là đừng ham lợi nhỏ, tập trung cho con
bé có khoảng tĩnh tối thiểu để học hành, chớ để con sớm va đập vào chuyện buôn
bán lời lãi, méo mó đầu óc đi. Mình ô kê ngay! Nàng còn dặn: ba tháng sẽ gửi về
một va li, nửa năm gửi về một cái kích, cứ bán đi mà tiêu, đừng dành dụm.
- Cậu hạnh phúc thật!
- Thật lòng đấy chứ?
- Hương vẫn như ngày nào, đảm đang, tốt
bụng và rộng rãi.
- Còn cậu - Ðôi mắt khá đẹp của Thẩm ánh
lên vẻ cảm động chấp chới - Cũng phải tìm đường làm một cú mã hồi về Hà Nội đi.
Hơn bốn chục tuổi mà vẫn cứ thanh gươm yên ngựa mãi?
- Stop - Tôi lấy lại cái giọng của Thẩm
- Mỗi người một quan niệm, một lối sống. Dòng người còn trôi chảy dài dài, cứ
thử xem từng số phận sẽ lênh đênh đến đâu. Dẹp! Kiếm rượu uống bậy cái đã.
Thế đấy! Không gặp thì nhớ, gặp rồi lại
thường cãi lộn những chuyện không đâu và bao giờ cũng được kết thúc bằng mấy
chén rượu cay nồng ở cái quán chè khuya gần đầu đường như thế!
Phố vắng, gió lạnh, ngọn đèn dầu cháy thắc
thỏm, các cánh cửa chính, cửa sổ của mọi ngôi nhà đã lần lượt được khép kín, xa
lắm mới có một tiếng rao bán bánh khúc nóng khàn khàn vẳng đến. Có lẽ chỉ về
đêm, cái phố nhà binh đang biến tướng này mới yếu ớt phục hồi lại cái vẻ thâm
trầm xưa cũ. Vẫn lại tiếng cành sấu rơi, tiếng đế giày quân cảnh, tiếng quét
rác... Chỉ khác, cả chiều dài dãy phố không còn những cặp tình nhân đứng lả người
trong tay nhau.
Khoảnh khắc ấy, tầm mắt đã có chiều bảng
lảng của tôi không hiểu sao lại vô cớ ngập ngừng dừng ở góc phố, nơi có một gia
đình nhỏ đang loay hoay tìm chỗ ngủ đêm. Một luồng đèn pha xe máy từ đâu đó xa
lắm quét tới, đủ cho tôi kịp nhận ra đó là một cặp có vẻ là vợ chồng, một cởi
trần vận quần đùi hay vận khố gì đó, một bế đứa con đang ngủ tựa một cái xác
trên tay. Vang lên tiếng nhai mía rôm rốp của người đàn ông và tiếng nựng à ơi
vụng dại nhọc nhằn của người đàn bà...
- Uống đi, để ý làm gì, cảnh đời thường ở
đâu chẳng có.
Mặc Thẩm huých nhẹ vào vai, mắt tôi vẫn
dán vào đấy.
- Ðôi vợ chồng từ quê lên ăn xin à? Hay
dân Phúc Xá chạy lụt?... Nhưng mùa này đâu có phải là mùa lũ?
- Không biết!
- Hay dân chạy chợ, dân lỡ độ đường? Có
cả đứa bé nữa kia kìa!
- Ơ hay cái cậu này! - Giọng Thẩm đã cao
lên - Ra đây uống rượu hay điều tra xã hội học đấy?
- Ờ... Vừa có tốp quân cảnh đi qua, sao
không thấy họ xua đuổi như mọi bận?
- Ðuổi cả tỉnh, cả nước - Thẩm gắt khẽ -
Nếu xỉn rồi thì mời ông về ngủ, ông ạ!
Có lẽ động lòng trước cái vẻ ngơ ngơ của
một kẻ ở xa đến như tôi, chị hàng nước lúc này mới cất tiếng khẽ khàng.
- Họ đã cư trú ở đây gần một năm rồi đấy
chú ạ! Tội lắm! Mưa thì chạy vào núp trong hàng hiên toà báo, tạnh lại dắt díu
nhau ra đây. Mùa hè còn đỡ, đông về, cha con vợ chồng ôm nhau thành một cục
tránh gió. Cũng có đận họ bỏ đi đâu cả tháng, tưởng đi luôn cũng mừng, nhưng rồi
lại thấy họ trở về xơ xác, tiều tụy hơn. Ðứa bé này mới sinh được có sáu tháng.
Con gái, còi cọc chỉ bằng đứa mới nở.
- Sinh ngay trên hè phố ạ? - Tôi buột miệng.
- Còn chỗ nào khác nữa!
- Trời đất! ¡n ở vật vã thế này mà lại
còn bày chuyện đẻ đái! Rồi đứa bé sẽ ra sao? Rồi họ lấy gì mà sống?
- Vậy mà vẫn sống đấy - Chị hàng nước cười
hiền từ - Sống quấn quít đáo để. Còn đứa nhỏ, dường như ông trời cũng thương, cấm
có bệnh tật sài đẹn bao giờ.
- Hết chưa? - Thẩm đột ngột đứng dậy.
- Cái gì hết?
Thẩm bật cười:
- Là tôi hỏi cái cơn tò mò của cậu đã
qua chưa?
- Cậu về trước đi! - Ðến lượt tôi gắt lại
- Cứ mặc tôi ngồi đây một mình.
- Tuỳ! Cấp thêm cho cậu một thông tin để
có cớ mà tò mò: người đang ngồi chuyện trò với cậu là một giáo sư đại học vừa về
nghỉ tạm không ăn lương.
Nói xong, Thẩm quay người đi vào. Ðến
lúc này tôi mới chú mục nhìn chị bán quán. Khoảng bốn mươi nhăm tuổi, tóc uốn
cao, cặp mắt hay nhìn lơ đãng lên vòm cây, miệng thi thoảng lại cố tạo ra một
cái cười mỉm nhẫn nại.
- Xin lỗi! Chị dạy ở trường nào ạ? - Tôi
hỏi.
- Thôi! Biết làm gì chú. Mỗi người một cảnh,
chẳng nên nói ra, mà có nói cũng đâu có ai thông cảm, có khi còn gây bực mình.
Ðấy, cứ ngẫm như cái đôi vợ chồng khốn khổ kia kìa. ở đã mòn cả vỉa hè rồi
nhưng tịnh chưa thấy một ai tỏ ý giúp đỡ, chưa thấy một ai hỏi han trò chuyện nửa
câu. Thiên hạ coi đó như việc tất nhiên, dễ hiểu. Buồn không? Ôi dào! - Chị thoắt
thở dài - Cũng một kiếp người, đêm ôm nhau ngủ còng queo như con sâu cái kiến,
ngày chồng bế con èo ẽo cho vợ đi kiếm tiền.
- Chị ta làm ở tổ sản xuất thủ công nào ạ?
- Tổ thủ công... chợ. Ra chợ, ai thuê gì
làm đó, không ai thuê, nói phải tội, đành phải chôm chỉa, con móc túi. Miễn là
có tiền. Nói vô phép chú, thậm chí có lần ông nhà tôi còn bắt gặp cô ta đi bắt
khách ngoài ga. Khổ! Người ngợm cóc cáy, thịt da tong teo như thế có ma nào nó
màng. Nếu có thì lại là mấy gã du côn, say rượu chơi quỵt, vừa chơi vừa trấn,
có đồng nào mất hết.
- Anh chồng chấp nhận?
- Sao chú lại hỏi thế? Trên thế gian này
thử hỏi có người chồng nào lại chấp nhận cho vợ mình đi làm cái việc kia, nhưng
đói thì đầu gối phải bò thôi. Song cũng sầu thảm lắm! Hầu như không đêm nào cậu
ta không đánh vợ, có bận đánh thâm tím cả mặt mày, tôi phải đỡ vào nhà lấy rượu
mật gấu xoa bóp cho. Vậy mà chị ta không hề hé răng chửi lại, cãi lại một câu,
cứ như con nô lệ tận tụy, cung cúc. Tối tối vẫn mang về cho chồng nào rượu, nào
thuốc, có bữa còn khệ nệ cả một xoong to thứ bốc mả toàn xương bò.
- Vậy ra anh chồng lại chỉ lo làm nhiệm
vụ trông con ạ?
- Cũng tùy lúc. Những buổi chiều mưa,
nhìn cậu ấy bế con, mắt nhìn ảm đạm ngọn sấu già, thương lắm! Lại còn thỉnh thoảng
ru con nữa chứ. Tiếng ru như tiếng nấc khan. Vào những ngày đông gió hay cô vợ ốm
mệt, không ra chợ được, cậu ta trao con lại, một bị một gậy đi trèo sấu. Trèo cả
ngày, có bận ngã trẹo xương vai, may lắm mới kiếm đủ tiền mua một vài cân gạo.
Nghe tới đó, tôi đứng dậy:
- Chị cho tôi mua gói thuốc.
- Thuốc gì?
- ... Du lịch thôi. Thuốc ngon hơn không
đủ tiền. Lính mà.
- Ðừng lo, chú cứ cầm gói Hê rô, tất cả
đã có chú Thẩm thanh toán. Chú ấy là con người đàng hoàng, trọng nghĩa khinh
tài, thỉnh thoảng vẫn sai con bé Thảo đem ra cho đôi vợ chồng kia lúc thì hộp sữa,
khi lại gói thuốc, cân đường. Mà... gói này vẫn đang còn nhiều, chú mua làm gì
nữa?
- Muốn ra chuyện trò với họ một chút.
- Thôi đi chú ơi! Cậu ta chả mở miệng
đâu. Suốt ngày lầm lì, buồn thì nhai mía, vui thì ngơ ngẩn cười, mắt lúc nào
cũng gườm gườm như sắp sửa đánh nhau với ai. Có lẽ cậu ấy mặc cảm?
- Ðã khi nào chị nghĩ rằng cậu ta là người
đã từng có tiền án chưa?
- Ôi giời, mấy cái ông này! Nhìn đâu
cũng thấy tội phạm cả. Cậu ấy là bộ đội đấy, bộ đội đóng ở biên giới hết nghĩa
vụ trở về. Nhà ở cách đây vài dãy phố thôi, nghe nói cũng khá giả và nền nếp. Vậy
mà chả rõ phải lòng phải dạ, bắt tình bắt thóp nhau thế nào mà lúc trở về lại dẫn
một cô gái giang hồ, gia đình làm nghề trồng mía về theo. Tức là cô gái này đấy.
Tất nhiên là gia đình không chấp nhận, đuổi thẳng. Vậy là kéo nhau ra tá túc ở
đây. Công an khu vực cũng đã có đôi phen làm dữ, tống xuất họ ra khỏi thành phố,
đưa đi tập trung cải tạo ở tận đẩu tận đâu nhưng cũng chỉ ba bảy hai mốt ngày
là đâu lại nguyên đấy. Rút cuộc công an họ cũng chán, thây kệ không phải chỉ có
một gia đình này đâu. Ôi, thời buổi nó vậy. Chả nhẽ thiên hạ đua nhau đục tường
trổ cửa, kiếm tiền ngàn tiền triệu như chơi mà lại nỡ khép những con người khốn
khổ vào khuôn vào phép? Ðằng kia có ánh sáng, đằng này cũng phải nhường cho người
ta một khoảng bóng tối chứ. Tất cả còn đang bung bét, tất cả đang đòi hỏi phải
sắp xếp lại kia mà.
Tôi chán nản đứng dậy. Ðành rằng câu
chuyện chị kể là có thật, lại kể bằng một cái giọng hết sức xót xa nhưng sao
tôi vẫn không muốn nó được nói ra từ chị, từ một người đàn bà đã giảng dạy qua
cấp đại học. Lạ thế!
- Chào anh!
Tôi cố dọn một nụ cười thân thiện, một
giọng nói bỗ bã có thể và chìa gói thuốc ra trước mặt người đàn ông đang gặm
mía. Nhìn cái cách anh ta gặm mía mới khiếp chứ! Gần như ăn cả vỏ, ăn cả bằng
răng hàm lẫn răng cửa, chỉ ba cái rốp rốp là bay gọn một đẫn dài, bã mía đùn dưới
chân cả đống. Anh ta lầm lì rút một điếu thuốc giắt chéo lên vành tai. Im lặng...
Vẫn chỉ là tiếng nổ rốp rốp trong cái miệng khá rộng.
- Rét vậy mà ăn mía không cóng răng sao
ông bạn? - Tôi ngồi hẳn xuống.
Ông bạn không trả lời, chỉ gúc goắc cái
đầu to tướng. Lại im lặng... Lại rốp rốp... ánh sáng đèn cao áp xanh lét vừa đủ
để soi tỏ một khuôn mặt không ra già, không ra trẻ, xanh bợt, tóc gần chấm vai,
cặp môi dày trễ ra, thâm xì như cái vẻ lúc nào cũng thèm ăn thèm uống. Tóm lại
là một khuôn mặt hơi bệnh hoạn và gần như không có tư duy. Anh ta chỉ mặc độc một
chiếc quần đùi rộng ống đã rách te tua ở gấu, để lộ đôi bắp chân dài thõng sần
sượng nhưng có vẻ còn săn rắn, vắt trên vai là chiếc áo bộ đội nhàu nát đang bốc
ra mùi chua lòm khen khét.
Lui về sau một chút, chị vợ đang âm thầm
ngồi ôm con sát chân tường. Nghe được cả tiếng muỗi vo ve bay ra từ đó. Cũng là
khuôn mặt nửa già nửa trẻ, tiều tụy, không rõ hình nhưng đường nét gãy gọn,
nhìn kỹ thấy cũng có duyên. Bất ngờ, chị ta nháy mắt với tôi và làm một động
tác xin thuốc rất láu bằng hai ngón tay đen đúa, khô xác.
- Cái gì?
Bất thần anh chồng quát lên một tiếng
quát hùng dũng, có lẫn cả đờm, có cả nước mía bắn ra. Như bị điện giật, hai
ngón tay kia vội thụt lại, cùng lúc mái tóc xơ xước chắc tới hàng tháng nay
không được chải gội gục xuống cam chịu như một tội nhân tử hình.
- Này - Tôi vỗ vỗ vào xương vai hắn -
Cô ấy muốn hút thuốc thì để cô ấy hút, cũng là một cách chống lạnh.
Không thèm trả lời, hắn chuyển ánh mắt
gườm gườm dài dại từ người vợ lên cành cây rồi lại... rốp rốp...
Biết rằng có nán lại cũng vậy thôi, có
khi còn làm cho cái gã quân chủ độc tài đầy quyền uy này nổi quạu, tôi lén để
gói thuốc xuống mép chiếu rồi lẳng lặng đi trở về. Ðuổi theo tôi là tiếng ru
con nghèn nghẹn như nói mơ của người vợ, và trên cao, trong một căn hộ còn sáng
đèn, có một nét nhạc gầm gào vọng xuống.
Thẩm vẫn thức chờ tôi bên bản vẽ thiết kế.
- Ðã chưa? - Không ngẩng lên, nó hỏi.
- Chưa.
- Cậu vẫn như cũ, ngớ ngẩn và lành bụng.
Hơi khó chịu một tí nhưng ít nhất tôi cũng còn có một thằng bạn ra bạn để chơi.
- Cám ơn!
- Cám ơn cái con khỉ. Rượu nữa không?
Hay nước mát?
- Cậu vẫn vẽ thuê đấy à?
- Không! Vẽ công trình thứ thật. Lạy Phật!
Từ ngày cô ấy đi đến giờ, mình đã thoát được cái kiếp gục đầu đi nhận vẽ cầu
tiêu hố xí cho bọn trọc phú mới. Mặc sức đi sâu vào nghiên cứu, cũng thú. Hả?
Tôi gật đầu ừ hữ và rón chân đi đến giường
bé Hương Thảo. Nó đang nằm nghiêng, một bàn tay kê dưới má, tay kia buông xuôi
theo người, thỉnh thoảng lại chun mũi một cái như vừa ngửi thấy mùi kẹo thơm
trong mơ, đôi mi dài và cong tự nhiên của nó khẽ động đậy tưởng chừng sắp mở bừng
đôi mắt to giống mẹ ra mà quàng cánh tay mũm mĩm ôm níu lấy cổ tôi: "A!...
Chú Hà! Chú Hà bế Thảo... ". Trời đất! Thì ra cái sinh vật xinh xắn dễ
thương này mới là lý do chính yếu và sâu xa để mỗi lần về Hà Nội không thể
không ghé qua chứ chưa hẳn đã là tính tình của bố nó, vẻ dịu dàng đoan trang của
mẹ nó cũng như sự tiện lợi, ấm cúng của căn hộ mặt tiền.
- Cậu có thấy con bé khi ngủ, nó bỗng
khoác một đôi cánh thiên thần như thế nào không? - Thẩm cũng khẽ đến bên tôi,
giọng nói không giấu được một chút tự hào chìm đắm - nếu đẻ thì nên đẻ con gái
đầu lòng cậu ạ! Vừa ngoan, vừa là bạn tâm sự của bố lúc chẳng may cơ nhỡ. Mà cuộc
đời, cơ nhỡ nhiều chứ may mắn được mấy... Mình nhớ có khi tiễn cô ấy ra sân
bay, cả hai mẹ con đều thi nhau khóc. Lúc máy bay cất cánh rồi, nó còn thất
thanh hét với theo: "Mẹ Hương ơi!... Mẹ Hương đừng bỏ con nhé!". Mình
cũng khóc.
Tôi tin điều đó vì lúc này kể lại, cặp mắt
của Thẩm cũng đang rơm rớm ướt thật. Bị lây cái cảm xúc muôn thuở ngậm ngùi của
nỗi chia ly, tôi nói rì rầm như cầu nguyện:
- Cầu mong cho cô ấy mau trở về. Cứ về
cái đã rồi mọi chuyện tính sau. Trẻ con có thể sống xa bố nhưng xa mẹ, trông tội
lắm! Cậu có để ý thấy ngấn nước còn đọng ở khóe mắt nó không?
- Không... Làm gì có. Không có!
Thẩm trả lời yếu ớt và vội vàng. Bỗng
dưng tôi khẽ rùng mình khi chợt thấy một vệt xám nhờ bay rất nhanh trong đôi mắt
vừa mới đây thôi còn trong trẻo, rờ rỡ yêu thương của Thẩm.
Tôi bỏ vào phòng trong, buông màn đi nằm.
Ðêm ấy, trong giấc ngủ nặng nề, dường như bên tai tôi lúc nào cũng nghe văng vẳng
tiếng ru còn ngàn ngạt của người mẹ trẻ trộn hòa vào tiếng muỗi ong ong dưới
chân tường. Rồi cuộc sống của họ sẽ đi đến đâu? Bình ổn dần? Ði tập chung vĩnh
viễn? Hay một ngày nào đó lại cùng rủ nhau vào nhà giam trong một tội danh hình
sự giết người cướp của nào đó? Hoặc... Tôi bỗng ngồi phắt dậy, mồ hôi túa ra khắp
lưng khi cái hình ảnh đứa bé chết cóng trên tay mẹ vụt nóng đỏ trong đầu.
Sau đó phải bẵng đi đến hơn một năm, do
công việc của quân khu quá bận rộn nên tôi không lựa được dịp nào rảnh rang để
về thăm bé Thảo.
Vào khoảng trung tuần tháng giêng, khi
công việc đã vãn vãn, tôi nhận được thư của Thẩm. Vẫn cái giọng bỗ bã:
"...Này bỏ ngay cái lối phản bạn phản
bè ấy đi nhé! Hiện giờ cậu đang ở đâu, làm gì, đang phải lòng con nào, vẫn công
việc cũ hay đã bỏ đi đào vàng, đào đá thì kệ cha cậu, tôi đếch biết! Nhưng cậu
không được mất mặt như thế chứ. Sư cậu! Chỉ khổ cho đứa con gái bé bỏng của tôi
nó cứ nhắc tới thằng bạc tình bạc nghĩa hoài. Lại còn ăn cắp thuốc lá của tôi
nhét đầy gối cho hôi sặc lên, bảo là để dành cho cậu nữa!".
Ðọc đến đây, sống mũi tôi cay cay, nước
mắt chực ứa ra... Những dòng tiếp theo, tôi chỉ lướt mắt gọi là...
"... Tin vui đây: tháng sau mẹ
Hương Thảo sẽ về! Có nên soạn một mâm tế sống ngài Hen-mút Côn không nhỉ? Nhờ
ngài và sự chuyển động chính trị thần thánh trong tổ quốc ngài mà bà xã của tôi
sẽ làm cú mã hồi với một lưng vốn kha khá. Hai mươi ngàn đê mác, gần mười tám
ngàn đô la, tức là tương đương 150 triệu tiền mình, cậu nghe rõ chưa? Từ nay đến
ngày về, cô ấy nói sẽ cố kiếm thêm vài nghìn đô nữa. Chịu đàn bà thật!
Vì thế, chúng tôi muốn cậu, cha đỡ đầu của
bé Hương Thảo sẽ có mặt trong ngày ấy. Phải có mặt! Tiền của tôi cũng như tiền
của cậu, thằng bạn duy nhất còn sót lại của tiểu đoàn công binh đã cõng tôi vượt
suốt mười cây số đường rừng. Chỉ bằng một phần mười số tiền trời cho đó, chúng
tôi sẽ lấy vợ cho cậu, kiếm cho cậu một căn hộ và buộc cậu từ bỏ núi rừng ở lại
phố luôn với chúng tôi. Ðược chưa?
Bù lại, cậu chỉ cần làm độc một việc:
thiết kế cho tôi một căn hộ ba tầng với đầy đủ tiện nghi ở ngay trên nền nhà
cũ. Có ban công uống trà, sân thượng trồng hoa, có các cánh cửa sắt đóng mở tự
động bằng điện tử, có ga ra xe máy, có máy lạnh, bồn tắm và có cả nơi nuôi vài
con chó giống ngoại cho vui, có... Mà thôi, để cậu về, ta bàn kỹ. Tóm lại, hai
tầng để ở, còn bảy chục mét vuông tầng trệt sẽ cho một công ty, một đại diện
sang trọng, làm ăn đứng đắn nào đó thuê. Có thể là hãng JVC hoặc hãng
VIETRONICS của Sài Gòn, theo ý của cô ấy. Tôi muốn chính tay cậu vẽ bởi vì
trong đó có cả diện tích của... vợ chồng cậu.
Tin thêm: Tôi vừa nhận hàm thượng tá.
Thượng tá! Khỉ không? Ðáng lẽ phải đại tá luôn cho rảnh một chuyện. Ðang thượng
chuyển sang đại bây giờ đang đại lại hất xuống thượng. Không hiểu các cụ nhà ta
còn ngẫu hứng điều lệnh đến tận bao giờ? Cũng chẳng sao. Tôi dự định nếu cô ấy
về, vui thì a lê hấp! Tôi sẽ xin về hưu, giã từ binh nghiệp. Giã từ cơ chế bụi
bặm luôn. Phần đời còn lại lo đọc sách, thăm thú bạn bè, trồng tỉa mấy cây hoa
và cái chính là chăm bẵm cho bé Hương Thảo nên người.
... Ðừng nôn! Chắc thằng bạn lẩn thẩn của
tôi lại đang cáu kỉnh muốn biết về thân phận cảnh đời? Thí dụ: Phố Nhà Binh
(tên gọi của cậu) đã sắp sửa thành một thứ Hàng Ngang, Hàng Ðào. Gia đình ông
tướng Ðiều Lệnh vẫn bán cà phê, ông tướng Bảo Vệ vẫn cho thuê hàng điện lạnh,
ông tướng Cán Bộ đợt này nới rộng cho thuê cả hai mặt tiền - nói chung, khi đã
làm ông tướng thì đời nào cũng sướng - Và, gia đình đôi vợ chồng kẻ khó ấy
(đúng tủ chưa?) vẫn kiên trì bám trụ ở đầu đường. Hình như cô vợ lại đang có chửa
đứa thứ hai, sức sống của nhân dân bất diệt thật!
Ðiều chót cùng: sự phá vỡ kiến trúc của
một dãy phố là phản ánh cái trở dạ đau đớn của lề thói suy nghĩ cũ, đồng thời sẽ
dẫn đến phá vỡ sự ổn định cổ kính trong từng gia đình, từng số phận, có thể tốt
lên nhưng cũng có thể xấu đi. Ví dụ như gia đình tớ...".
Rút cuộc cô ấy đã trở về. Dù sao cũng đã
trở về. Chỉ cần như vậy thôi. Tôi thở phào, trút được cái day dứt nặng nề đã
mai phục kín trong lòng bấy lâu nay.
***
Ấy vậy mà tôi vẫn về chậm mất gần một
năm so với cái thời điểm hệ trọng đó. Một công trình xây dựng liên doanh với Bạn
đã giữ chân tôi suốt một mùa mưa bên kia biên giới Việt - Lào.
Trở lại Quân khu, tôi tính nhảy ô-tô về
Hà Nội luôn nhưng hỏi cậu văn thư không có lá thư nào gửi cho mình, lại ngần ngừ.
Nó giận ư? Hay Hương chưa về? Không về? Hoặc... Ðã nghĩ thì nghĩ cho đủ hướng
theo đúng tác phong tác chiến người lính, hoặc nó đã nghĩ lại về cái gọi là một
phần mười tính sẵn cho tôi? Không có lý. Nó không phải là người như thế và tôi
cũng chẳng phải là cái thằng dễ chấp nhận mọi sự cưu mang của người đời. Khổ!
Khi còn nghèo, bạn bè đến chơi với nhau dễ dàng biết bao, bây giờ khá giả rồi,
mỗi sự đến là nỗi đắn đo hèn cả người. Song tôi vẫn quyết định đi, bởi lẽ có một
sinh vật đứng trên mọi đắn đo tầm thường đó. ấy là bé Thảo, hơn hai năm không gặp
nó rồi.
Ðến Hà Nội, trời vừa sập tối. Tôi bước về
phía nhà Thẩm mà chân tay líu ríu như bước về chính ngôi nhà của mình, bụng dạ
cứ cồn lên không hiểu giờ đây ngôi nhà nó ra sao?
Muốn đến Thẩm, tôi buộc phải đi qua các
gia đình của kẻ ăn mía đêm độ nào ở góc phố. Ðúng là phố Nhà Binh năm nay đã ra
cái dáng vàng son choáng ngợp của một vị thế thương trường buôn bán lắm! Mải
nhìn ngó, tôi đập mắt vào góc phố lúc nào không hay. Và hơi dừng lại. Góc phố
trước trống trơn nay đã mọc lên vài ba hàng quán, đèn điện sáng trưng. Nơi có
chiếc chiếu rách trải ra năm nọ lúc này là một điểm chữa xe máy bình dân với đầy
đủ các loại đồ nghề vá chín, cờ lê, mỏ lết... nằm xếp lớp trong thùng gỗ. Gần đấy,
có chừng hai, ba chiếc cúp xanh đỏ đang chờ đến lượt mình được sửa chữa. Quái lạ
hơn, quái lạ đến nỗi tôi khó có thể tin vào mắt mình được nữa; tay thợ xem ra
có vẻ đầy uy tín nghề nghiệp đó lại chính là... gã đàn ông hay ăn mía đêm ngày
nào! Thùng thình trong bộ quần áo bò Liên Xô lem luốc mỡ dầu, một hàng râu quai
nón chạy lộn xộn xuống tận cằm, anh ta rõ ràng ra phong thái một tay thợ lành
nghề đang hết sức càu cạu vì cớ sao cho đến tận giờ này vẫn còn khách đến quấy
rầy! Quả thật nếu không nhờ vào cặp môi dày phồn thực vẫn đang trễ xuống kia và
cái lối nhìn gườm gườm đầy tính quân chủ độc tài ấy thì có lẽ tôi đã không tài
nào nhận ra anh.
Lia mắt sang phòng nhỏ tuềnh toàng như
chiếc lô cốt còn nguyên màu vôi ve nham nhở quét ẩu bên cạnh, tôi lại vấp tiếp
phải một điều quái lạ nữa: người đàn bà cóc cáy làm nghề chôm chỉa giờ đây đang
ngồi trước bàn bán tiết canh cháo lòng, gọn gàng, tươi tắn và không ngơi tay
múc cháo cho khách. Tất nhiên, cái để tôi nhận ra vẫn là đôi mắt lá răm liếc
xéo xéo qua mặt mọi người và điếu thuốc lá loại rẻ tiền ướt nhoèn đang gắn trên
môi.
Chưa hết! Bên trong, trên một chiếc giường
ọp ẹp, giữa vùng ánh sáng đỏ quạch, có hai đứa nhỏ, con chị nựng con em đang cười
rinh rích. Cha trời! Chả lẽ đây là hai sinh mạng đã được ra đời trên cùng một vỉa
hè võng vãnh muỗi bay?
Bất giác tôi quay người đi nhanh sang
bên kia đường. Chán quá! Thì ra người ta không chỉ chạy trốn những ấn tượng nặng
nề mà còn có xu hướng trốn chạy cả những cú sốc ngọt ngào mà trái tim chai sạn
ít khi được nếm trải.
Quán nước quen thuộc có ngọn đèn dầu thắc
thỏm dường như đang chờ tôi trong vẻ buồn tênh cố hữu của nó. Người đàn bà giáo
viên không còn ngồi ở đó với nụ cười cố tạo ra nữa. Chị đã được người ta mời đi
dạy trở lại. Thay chị bây giờ là ông chồng, vốn là đạo diễn phim tài liệu vừa
nghỉ hưu hoặc do công việc làm nhiều người khôn của khó mà xin về nghỉ sớm (?).
Chính nhà đạo diễn đã có một thời tên tuổi này kể cho tôi nghe đoạn đời kế tiếp
của gia đình gã đàn ông hay gặm mía kia. Từ nơi đóng quân cạnh vườn mía. Anh ta
quyết định thuê dài ngày một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu ngày ngày thồ mía từ Ðan Phượng
đi buôn bán ở các huyện. Sau mấy tháng kèo kẽo, người gầy rộc đi đến năm cân,
anh ta đã có một khoản tiền để đầu tư vào lò đường của chính ông bố vợ trên mạn
ngược. Lỗ cùng chịu, lãi chia đôi, lại trúng. Một năm sau, anh ta rút chân ra
khỏi nghề đường, tạm biệt vợ con, nhảy tàu vào Ðà Nẵng tìm gặp một người bạn
cùng đơn vị cũ, học nghề sửa chữa xe máy. Hai tháng sau trở về, anh ta bỏ tiền
thuê dài hạn cái nhà kho bỏ đi này, sang sửa một chút ít và quyết định sống suốt
đời ở đây, nơi góc phố có nhiều kỷ niệm...
Câu chuyện giống như một dòng sông mùa hạ
mát mẻ mà tôi vừa được trầm mình xuống. Tôi không muốn hỏi thêm về Thẩm bởi lẽ
tôi muốn dành cho chính tôi một sự bất ngờ mới mẻ tiếp theo. Vậy là dòng đời
đang xuôi chảy thuận chiều. Gia đình kẻ khó đã có bát ăn bát để, bà giáo thạo
việc đã trở lại bục giảng và Thẩm, chắc chắn đang tồn tại ở một cấp độ khác
hơn.
Tôi bước đến ngôi nhà ba tầng của nó...
Chao ôi, màu sắc, đường nét, sự bề thế mới gợi lên dáng dấp một cái vila sang
trọng làm sao! Chợt thấy buồn... Rốt cuộc, nó vẫn có được tất cả mà khỏi cần đến
tôi. Thôi được, miễn là nó đã có. Thế là mừng.
Phía bên cánh cửa xếp bằng sắt sơn nhũ bạc
là tấm bảng đề: đại diện hãng X thành phố Hồ Chí Minh. Chà! Gớm thay cho vợ chồng
nhà này, nghĩ gì làm đó, ghê thật! Tôi bấm chuông... Cùng với tiếng chó hộc lên
ồm ồm, một khuôn mặt thiếu niên chất phác ló ra trên khoen tròn cánh cửa nặng nề
đang đóng kín.
- Bác tìm ai ạ? - Cậu thiếu niên hỏi, tiếng
nói vẫn còn ngầy ngậy chất quê.
- Mình là Hà, bạn thân của ông chủ nhà
đây.
- A... Bác là bác Hà! Cô chú cháu nhắc đến
bác luôn. Bác tránh ra tí để cháu mở cửa... Thế!
Sao lại phải tránh? Tôi lùi lại và nghe
tức khắc tấm cửa đồ sộ được dồn xếp sang hai bên ngọt xớt. Khá, hóa ra cửa tự động
thật! Tôi thầm kêu lên và không thể không né người đi tránh qua mõm con béc-giê
lông xám to tướng đang nằm phục ở góc nhà, bên cạnh những đống vỏ đồ hộp JVC rỗng
không. Khá! Tôi lại thầm kêu lần nữa.
- Chú cháu có nhà không? - Tôi hỏi khẽ.
- Có ạ!... - Nó trả lời ngập ngừng - Ðể...
Ðể cháu lên báo.
- Vẽ! Tao là chiến hữu ruột, báo biếc
gì.
- Dạ, nhưng...
Vừa lúc đó, từ trên tầng gác sáng xanh
ánh đèn nê-ông bay xuống một tiếng trẻ khóc ré, liền đó là một cái bát hay cái
cốc đập choang vào tường. Rồi một tiếng rít nhừa nhựa:
- Mày có câm đi không, cái con tội nợ
kia! Không ăn thì cút xéo đi chứ không phải bữa nào cũng chống đũa, nước mắt ngắn
nước mắt dài như thế.
Tiếng khóc được kìm nén khổ sở, chuyển
sang tức tưởi. Tiếng khóc của bé Hương Thảo! Bỗng dưng thấy xót ruột, tôi bước
nhanh lên cầu thang... Trời ơi, cái gì thế kia? Trước mặt tôi, qua cánh cửa
khép hờ là một người đàn ông râu ria xa lạ, tóc dài bờm xờm, áo quần nhàu nát
ngồi bên mâm cơm lỏng chỏng mấy cái bát, cái đĩa lạnh ngắt, bên cạnh có chai rượu
trắng đã cạn gần sát đáy. Bằng đôi mắt đỏ quạch và u tối, ông ta gằn gằn nhìn
vào góc tường, nơi bé Hương Thảo tội nghiệp của tôi đang đứng khoanh tay, mặt
úp vào cánh cửa sổ đóng kín, đôi vai thon nhỏ cứ từng chập từng chập rung
lên... Tôi vẫn đứng chết sững. Sao lại thế này? Thằng Thẩm đâu? Mẹ Hương nữa
đâu? Gã đàn ông phàm phu điên dại kia là ai?
Chả lẽ lại là bố dượng ư?
- Mày còn thương lắm à? Hừ? - Tiếng quát
tiếp tục bật ra từ bộ râu lùng nhùng nửa trắng nửa đen.
- Cút! Cút đi theo con đĩ mẹ mày! Cút!
Giời ạ! Sao tôi khổ nhục thế này?
Lão ta lúc lắc cái đầu to tướng, mặt
nhăn quắt lại ghê sợ và, thật bất ngờ, từ hai hốc mắt sâu hoắm của lão, anh ánh
hai giọt nước mắt rịn ra... Tôi bỗng rủn người! Thằng Thẩm!... Chính thằng Thẩm
chứ không phải ai khác. Ngày xưa, trước nấm mồ đồng đội, mặt nó cũng nhăn quắt
lại tột cùng đớn đau và nước mắt cũng chỉ âm thầm rịn ra như thế này.
- Mẹ ơi!...
Tiếng con chim non bật lên ai oán gọi mẹ
đây đó đã đẩy tôi lùi nhanh trở lại. Tôi không đủ can đảm đứng đó lâu hơn nữa
và cũng không đủ tỉnh táo để bước vào với cha con Thẩm lúc này.
Cậu thiếu niên chất phác ngửa mặt đón tôi
ở chân cầu thang, đôi mắt mở to đầy vẻ dáo dác:
- ồ bác... Bác sao lại xuống ạ?
Tôi kéo nó ra một góc sát cửa.
- Này! Nói đi! Cái gì đã xảy ra ở đây thế?
Da mặt cậu bé thoắt tái nhợt, khẽ rùng
mình một cái rồi nhìn lảng đi, nước mắt rơm rớm:
- Ðã một tháng nay rồi, tối nào chú cháu
cũng như thế này! Khổ lắm! Trước kia...
Giọng cậu bé vừa sợ hãi vừa rề rà đến sốt
ruột. Tôi cắt ngang:
- Trước kia làm sao? Cháu là thế nào với
chú Thẩm?
- Chú Thẩm là em ruột bố cháu, ở mãi tận
dưới quê kia, khi cô cháu về, bố cháu cho cháu lên đây phụ giúp công việc với
chú. Lúc ấy cô chú cháu vui vẻ lắm, lúc nào cũng nói cười như nhà có hội, thỉnh
thoảng lại cho bé Thảo lên xe máy đi chơi, có bận đi đúng hai, ba ngày mới về.
Khi cái chú gì tre trẻ, nói tiếng Nam Bộ, nghe nói là giám đốc hãng điện tử
cùng với ba người nữa đến thuê nhà làm cửa hàng, lại càng vui, không ngờ...
- Không ngờ cái gì? - Tôi gắt khẽ - Nói
nhanh đi!
- Có một lần cô cháu bảo đi thăm bạn gái
cùng ở bên kia hai ba ngày nhưng đến ngày thứ tư cũng không thấy về. Ngày thứ
năm thì chú cháu có giấy khẩn gọi ra Sầm Sơn nhận thân nhân bị nạn... Lúc trở về,
chú cháu bỗng trở nên như thế này.
- Biết rồi, nhưng ai bị nạn? Bị nạn thế
nào?
Cậu bé cúi gằm đầu xuống, nói lí nhí:
- Chết đuối... Chết đuối cả hai! Chỉ tại
không biết bơi mà lại đưa phao ra xa nên bị sóng đánh tuột tay... Mãi ba ngày
sau xác mới nổi, vẫn đang còn dính cứng vào nhau, bụng nghe bảo trương to lắm...
- Ai dính cứng? - Tôi gần như nắm lấy ngực
áo cậu bé - Dính cứng cái gì?
- Dạ!... - Mắt cậu ta nhớn nhác nhìn lên
gác - Dạ, dính vào chú giám đốc thuê nhà ở tầng dưới ạ!... Khi cái phao không
giạt vào bờ, mấy ông đánh cá đêm còn bảo... Nói bác bỏ lỗi, vẫn còn giắt lại
hai cái đồ lót đàn ông và đàn bà...
- Thôi... Im đi!
Tôi gần như nhao ra mặt đường, đầu óc
choáng váng không hiểu mình đang ở đâu, mình vừa nghe thấy gì nữa. Phố Nhà Binh
lúc ấy vẫn đang chan hòa ánh sáng và ngan ngát hương thơm mỹ phẩm.
Sầm
Sơn, 25-8-1991
0 nhận xét:
Đăng nhận xét
namkts57@gmail.com