Truyện ngắn dịch
       
Thơ
       
Thơ dịch Truyện ngắn khuyết danh Truyện ngắn Truyện dịch cực ngắn
       
19/3/13

Thời đại @ - Kim Ba

Thời đại @
Kim Ba
Vũ Công Hoan dịch

Chuyên gia mạng in tơ nét Vương Lộ Nhi, thuở nhỏ gia cảnh bần hàn, tốt nghiệp xong trung học phổ thông liền bỏ học. May gặp thời đại nối mạng, đã lắp một máy vi tính, cắm vào một sợi dây điện thoại, được theo học trở lại. Anh học miễn phí đại học trên mạng năm năm, lần lượt học được ba nghề, nối mạng, thư ký văn phòng và quan hệ giao tiếp công cộng, ba năm có văn bằng chuyên nghiệp, năm năm có học vị thạc sĩ. Sự tích của anh được lưu truyền rộng khắp trên mạng in tơ nét, làm chấn động thế giới mạng.
Có một công ty nối  mạng mến mộ tên tuổi lừng danh của anh, gửi thư mời Vương Lộ Nhi hợp tác, bổ nhiệm anh làm  biên tập tập san mạng, kiêm chuyên gia vạch sách lược kết mạng, không phải ngày ngày chen xe khách đi làm, cứ việc ngồi nhà lên mạng là được. Lương hàng tháng được gửi trả vào ngân hàng trên mạng, rồi chuyển về tài khoàn cá nhân.Mua hàng trên mạng ngày một đổi mới, phần lớn những đồ dùng như ăn mặc, cứ việc bấm vào thị trường phân loại trên mạng, là biết hết các loại kích cỡ, vừa ý thứ nào, phát ra chỉ lệnh mua hàng, lập tức đưa đến, trả tiền thanh toán trên mạng, chẳng khác nào đích thân đi đến siêu thị. Bạn thấy không, trái đất đã trở nên chật hẹp bé nhỏ biết chừng nào, ngồi trong phòng nhỏ mười mét vuông, một mình thao túng cả thế giới.
Vương Lộ Nhi chính là một con người ưu tú giỏi giang của thời đại in tơ nét, cũng là mục tiêu theo đuổi của nhiều người say mê mạng. Lần nào lên mạng, tôi cũng không kìm nổi tâm trạng, bấm vào trang oét cá nhân của Vương Lộ . Nhìn thấy khuôn mặt trắng trẻo béo tốt và ánh mắt long lanh của anh trên bức chụp ở mạng, tôi không khỏi bồi hồi xúc động, mở xem tin tức mới nhất của anh, từ trái tim mình, tôi  vô cùng khâm phục  đối với từng thành tích anh đạt được. Có thể nói, anh đã dẫn dắt tôi đi vào thời đại kết nối mạng. Tôi đã kết bạn trên mạng với anh rất chóng vánh, tuy nhiên tôi là số 606 của anh, còn anh lại là số 001 của tôi. Lần nào mở máy, tôi cũng gọi 001, 001 cũng lập tức trả lời và nói chuyện với tôi say sưa  sôi nổi. Ngôn ngữ của anh sao mà dí dỏm thú vị biết chừng nào, thuật ngữ mạng anh sử dụng hết sức thuần thục trong sáng , thường trêu tôi cừơi ha ha. Anh còn biết rõ tâm tư con gái, chiều theo sở thích của tôi.Câu hỏi của tôi có khó đến đâu anh cũng giải ngay một cách chóng vánh. Do đó tôi coi anh là tri âm, chủ động xin anh ở chung. Thế là chúng tôi đã xây trên mạng một “tổ tình yêu”, do anh thiết kế một buồng ngủ nhỏ nhắn xinh xinh, bên trong có giường đôi, có chăn nệm, có người mô hình của chúng tôi, cạnh giường có tủ quần áo, có ti vi và tủ lạnh. Sau khi lĩnh “giấy chứng nhận kết hôn”, chúng tôi xưng nhau là vợ chồng. Tối nào cũng về “nhà” rất đúng giờ.Anh thích gọi tôi là “cô gái mềm yếu”. Tôi ưa gọi anh là “chàng trai cứng rắn”. Mới đây chúng tôi còn nuôi một đứa con trai, lấy tên là “Tiểu nhân nhi”.
Mạng in tơ nét là như thế, có thể biến một đôi trai gái chưa biết mặt bao giờ thành quen biết và yêu nhau, tạo nên một gia đình viên mãn, thể nghiệm được mùi vị ngọt ngào đầm ấm của hôn nhân.Lẽ nào chuyện này không mới lạ? Một hôm trái tim tôi bỗng dưng hồi hộp lạ thường. Bởi vì trong tôi đã nẩy sinh ý nghĩ làm vợ chồng thật với Vương Lộ Nhi. Anh có tri thức uyên bác, biết giỗ giành người  trở nên vui nhộn, còn biết đảm đang việc nhà, cũng dày dạn trò chơi vợ chồng, thu nhập cũng khá, là ứng cử viên lý tưởng của tôi. Thật tình, trong trái tim mình tôi luôn luôn coi anh là chồng thật, tôi làm nũng với anh, khóc lóc với anh, vui cười với anh, mở toang cánh cửa trái tim mình với anh. Ngoài vợ chồng ân ái, hỏi ai làm được điều này? Tôi cũng biết đây chỉ là  mô hình không có thật. Nhưng một khi chuyển hóa thế giới ảo thành thế giới thật,  xe nhẹ quen lối, không phải lần mò khai phá, giống như đã từng trải qua thử sống chung, há chẳng ổn thoả hơn lúc mới cưới...?
Khó khăn lắm tôi mới tìm đến được nhà Vương Lộ Nhi. Gõ cửa một lúc lâu mới có một người đi ra, khuôn mặt tê dại, ánh mắt đờ đẫn, mái tóc bù xù, quần áo xộc xệch, tinh rthần  ẻo lả, không có một chút nào giống dáng vẻ trên ảnh, cũng không phải con người trong tưởng tượng của tôi. Anh ngơ ngác nhìn tôi, chờ tôi lên tiếng.
- Anh là ...Vương LộNhi phải không?- Tôi hỏi liều.
- Tên mạng “Ta luôn luôn hướng lên phía trước”
- Hì hì, đúng đúng. Em là bạn mạng của anh, số 606.
- Bạn mạng ư?- Vương Lộ Nhi chớp chớp mắt một cách khó khăn - Bạn mạng của tôi trên mạng, sao em lại đến đây?
- Ha ha, anh vẫn hóm hỉnh như thế! Hôm nay ....tiện đường qua đây em đến thăm anh. - Tôi chìa tay ra nói.
- Ồ, hoan nghênh hoan nghênh!- Vương Lộ Nhi khẽ bắt tay tôi. Tôi cảm thấy ngón tay trỏ của anh búng nhẹ lên mu bàn tay tôi, liền cúi xuống nhìn.
- Xin lỗi xin lỗi – Vương Lộ Nhi cũng ý thức được, vội vàng buông tay – Quen mất rồi, dù nắm cái gì cũng  không kìm nổi búng mấy cái.
Ngồi đối diện Vương Lộ Nhi, hai người nhìn nhau không biết nói gì. Vương Lộ Nhi lại đột nhiên dơ ra một đầu ngón tay vẽ một vòng tròn chung quanh đầu tôi, cười hì hì
- Gì thế?- Tôi không hiểu đứng lên.
- Đầu em giống một chữ a, vẽ một vòng tròn tức là @.
- Mẹ kiếp ! – Tôi hít một hơi lạnh.
Tôi hơi buồn nôn. Tôi nhìn kỹ Vương Lộ Nhi, lại một lần nữa không dám tin vào mắt mình, cứ thầm hỏi bản thân hết lượt này đến lượt khác: - Anh chàng có cử chỉ quái dị lại lôi thôi lếch thếch này chính là Vương Lộ Nhi, chuyên gia mạng in tơ nét, đối tượng tôi sùng bái, bạn mạng và là chồng “chàng trai cứng rắn” của tôi sao?
- Anh bận lắm – Vương Lộ Nhi ngoái đầu nhìn chiếc máy vi tính  đèn đỏ đang nhấp nháy – Em đành phải chờ năm phút.
- Hôm nay chủ nhật, anh còn bận gì nữa? – Tôi hỏi.
- Ôi, ngoài tám tiếng đồng hồ làm việc, tám tiếng đồng hồ nghỉ ngơi, thời gian còn lại anh đều phải tiếp khách. Chẳng phải em đã nhìn thấy bao nhiêu là bạn mạng hô gọi anh đó sao? Đặc biệt là hai ngày nghỉ thứ bảy và chủ nhật, các bạn của anh đều gửi tin đến, anh phải trả lời từng người, lại còn phải chọn mấy bạn mạng trọng điểm trao đổi. Mỗi ngày cứ đến tối, anh còn phải về tổ tình yêu gặp vợ.
- Thế ư? Thật ra, thật ra em chính là vợ anh “cô gái mềm yếu” đây. - Tôi đỏ bừng mặt e thẹn nói.
- Cái gì? em là “cô gái mềm yếu” ư? - Sắc mặt Vương Lộ Nhi bỗng dưng thay đổi, nhưng không phải mừng rỡ, mà là giận dữ -  Tại sao em không lên mạng, lại tìm đến đây, khiến anh hốt hoảng hô gọi lâu lắm vẫn không thấy động tĩnh, Tiểu nhân nhi đang đói khóc hu hu, em cũng không sốt ruột hay sao?
- Anh lảm nhảm cái gì vậy? – Tôi liền đứng phắt lên, nhịn cũng không nhịn nổi - Người ta đến thăm anh, sao anh lại nổi nóng? Em còn định cầu hôn với anh! Đúng là  không nên đến!
- Cầu hôn ư? – Vương Lộ Nhi chớp chớp mắt, - Lạ thật chẳng phải chúng mình đã kết hôn?
- Đồ dở hơi! Ngay đến hư ảo và hiện thực cũng không phân biệt nổi – Tôi  lạnh lùng cười gằn.
- Vậy em có đòi hỏi gì đều có thể nêu ra trên mạng, việc quái gì phải từ nơi xa tít xa tắp lặn lội đến đây, làm mất thời gian quí báu của người khác. Có phải đầu em nóng, não em có vấn đề? Làm sao có thể trông chờ vào con  người như em...
- Này, xét đến cùng đầu ai nóng, não ai có vấn đề?- Tôi vênh mặt hỏi vặn lại.
- Em đi đi, có chuyện gì  hãy về nói trên mạng, ở đây không hoan nghênh em!
Tôi đã bị cưỡng bức ra khỏi nhà. Một tiếng sầm đuổi  theo ngay sau lưng. Tôi nghe thấy Vương Lộ Nhi đang bực tức càu nhàu,  gắt một tiếng: “bệnh tâm thần”!
            Đau khổ vô cùng, nước mắt tôi giàn dụa. Vừa về đến nhà, tôi lập tức rút dây điện, tống táng máy vi tính ra ngoài chợ đồng nát.  
( Theo tiểu tiểu thuyết năm 2006)

Trinh tiết - Akutagawa

Trinh tiết
Akutagawa, Ryunosuke
Cung Ðiền dịch

Xế trưa ngày 14 tháng 5 năm Minh Trị thứ nhất, chính phủ ra thông cáo: “Sớm mai, quan quân sẽ tấn công bọn phiến loạn Shôghi đang ẩn náu tại ngọn đồi Tôei. Lệnh cho toàn thể dân cư vùng Ueno phải tùy nghi lánh đi nơi khác”. Ở xóm số 2 khu Shitaya, trong tiệm tạp hoá mà ông chủ tiệm Kogaya Seibei cũng vừa mới bỏ đi, một con mèo tam thể lớn cong lưng nằm thu mình trong góc bếp, trước một vỏ bào ngư.
Vì cửa đóng kín mít, bóng tối bao trùm căn nhà mặc dù trời mới xế trưa. Ngôi nhà vắng tanh, không tiếng người, có chăng là tiếng mưa dầm không ngừng từ mấy bữa rày. Chỉ nghe đôi lúc tiếng mưa ào ạt trên mái nhà, rồi nhẹ dần như bay vút lên không mất hút. Mỗi lần mưa gieo nặng hạt, đôi mắt hổ phách của con mèo lại mở tròn xoe. Trong bóng tối của căn bếp, lờ mờ không thấy đâu là lò, đôi mắt ánh lân tinh hiện ra ghê rợn. Con mèo sau khi biết chắc chẳng có gì lạ xảy ra ngoài tiếng mưa càng ngày càng nặng hạt, khép dần đôi ngươi, se lại như sợi chỉ. Sau nhiều lần nhắm mắt, mở mắt, con mèo bất động chìm dần trong giấc ngủ. Mưa vẫn tiếp tục rơi, khi nhặt, khi khoan. Hai giờ, rồi ba giờ chiều. Ngày tàn dần theo nhịp mưa.
Bốn giờ vừa điểm thì con mèo như linh cảm điều gì, mở to mắt, đồng thời vểnh đôi tai nghe ngóng. Mưa rơi dịu hẳn. Ngoài tiếng chân phu kiệu chạy ngoài đường, không nghe gì khác. Nhưng sau một vài giây yên ắng, căn bếp trước đây tối om, bắt đầu tỏ ra không biết tự lúc nào. Mọi vật hiện rõ dần, từ cái lò choán một phần lớn trên sàn gỗ mộc của căn bếp nhỏ, cái chum không nắp lóng lánh nước, bàn thờ ông địa có nhánh tùng, sợi dây thòng dùng để mở cánh cửa sổ thông hơi… Con mèo càng lúc càng tỏ vẻ lo lắng, mắt nhìn về phía chỗ cửa căn bếp vừa mở, vươn vai nặng nề đứng dậy.
Kẻ bước vào là một gã khất thực, người ướt như chuột lột. Gã hết mở cái cánh cửa kéo bên ngoài lại mở cả cánh cửa dán giấy bên trong. Ðầu quấn một cái khăn cũ, gã nhô người về phía trước, mắt láo liên tai nghe ngóng căn phòng yên lặng một lát. Yên chí không có ai khác, gã để nguyên tấm rơm bện làm áo mưa còn lấp lánh mấy giọt nước, vật duy nhất xem ra còn mới trên người, nhẹ nhàng bước lên sàn bếp… Con mèo cụp đôi tai, lùi lại hai ba bước. Gã khất thực không mảy may kinh ngạc, quay lại khép cánh cửa, từ từ cởi cái khăn quấn trên đầu. Trên khuôn mặt đầy râu có dán hai ba miếng thuốc cao. Người gã tuy cáu bẩn nhưng mặt mũi không có vẻ hạ cấp.
Vừa rũ nước trên tóc, vừa chùi mặt, gã khất thực gọi khẽ con mèo:
- Mikê, mikê.
Không biết con mèo có nhận ra giọng của gã khất thực hay không, nó vểnh hai tai, không rời chỗ, thỉnh thoảng đưa mắt nghi ngờ, xoi mói nhìn kẻ lạ mới vào. Gã khất thực cởi áo tơi ra, đôi cẳng lấm đầy bùn xếp bằng lên sàn, trước mặt con mèo.
- A chú mãn… có chuyện gì vậy, không còn ai ở đây à, chú bị bỏ rơi hả?
Gã cười một mình, tay vuốt đầu con mèo. Con vật rụt người chực chạy trốn, nhưng rồi thay vì nhảy về phía sau, ngồi lại rồi khép dần đôi mắt. Gã khất thực ngừng tay vuốt mèo, rút từ phía trong vạt áo yukata cũ rích một khẩu súng lục bóng loáng dầu mỡ. Trong khoảng tối lờ mờ, gã bắt đầu thử lại cò súng. Một gã khất thực thử súng trong căn bếp ngôi nhà hoang ngập mùi chiến tranh, thật là một cảnh tượng lạ lùng khó hiểu. Con mèo đôi mắt lim dim, co tròn bất động, thản nhiên như đã thấu hết ngọn nguồn.
- Này Mikê, chú hãy chờ đến mai mà xem, súng đạn sẽ rơi xuống đây như mưa, chú nghe chưa? Nếu chú bị trúng một viên đạn thì thể nào cũng ngoẻo. Ngày mai, tớ khuyên chú mày nên nấp dưới sàn hiên nhà suốt ngày.
Vừa coi lại khẩu súng, đôi lúc gã gợi chuyện với con mèo:
- Này nói thật ra giữa tớ với chú, bọn mình đã biết nhau từ lâu. Hôm nay là ngày chót của bọn mình, chú hiểu không? Có thể ngày mai là ngày bất hạnh của chú, và đối với tớ, có thể là cái chết. Nhưng ngay nếu không ngoẻo thì tớ cũng chả còn có dịp bới thùng rác với chú nữa đâu. Chú ắt sẽ hài lòng!
Sau đó một chốc, mưa bỗng đổ ào ào. Những đám mây sà thấp hầu như phủ mờ cả hai đầu cong mái nhà. Bóng tối lại đổ ụp xuống căn bếp. Gã khất thực sau khi chăm chú xem xét khẩu súng, cẩn thận lên đạn.
- Này, chắc chú phải có điều gì nuối tiếc chứ? À không? Thiên hạ thật có lý khi phán rằng mèo là giống bạc nghĩa, hưởng ơn ba năm chúng cũng còn quên. Chẳng ai có thể trông cậy vào chú được cả, tớ e vậy...nhưng thôi...chẳng sao đâu. Thảng hoặc, nếu tớ có ngoẻo thì...
Gã thình lình ngưng nói, ai đó ở ngoài hình như đang đến gần căn bếp. Gã giấu ngay khẩu súng rồi quay ngoắt ra. Cùng một lúc, cánh cửa kéo gian bếp bỗng mở toang. Gã khất thực nhìn chầm chập người mới vào, sẵn sàng đối phó với mọi việc có thể xảy đến.
Người mới vào thoạt mở cánh cửa, khi nhìn thấy gã khất thực, thốt ra một tiếng kinh ngạc: A!! Ðó là một người đàn bà còn trẻ, đi chân đất, tay cầm cái dù giấy cán tre. Khi thấy gã khất thực, cô ta dợm chạy ra ngoài trời mưa trở lại. Nhưng khi thoáng kinh ngạc đã qua, cô ta lấy can đảm, nhướng mắt nhận diện kẻ lạ mặt trong bóng tối. Gã khất thực hầu như cũng ngạc nhiên, kiễng chân dưới vạt áo yukata cũ, nhìn mặt cô gái, và sau đó, gã mất ngay vẻ e sợ. Trong khoảnh khắc, bốn con mắt nhìn nhau im lặng. Sau khi lấy lại chút bình tĩnh, cô gái nói với gã khất thực:
- À, hoá ra là mày, Shinko?
Gã này cười bẽn lẽn, cúi đầu chào hai ba lần:
- Xin cô thứ lỗi, trời mưa quá lớn nên chi mạn phép lẻn vào nhà trong lúc cô vắng mặt, ngoài ra tôi không có ý đồ xấu xa gì cả. Không, tôi không định trộm cắp đâu.
- Này, mày cũng làm tao hoảng hồn. Tuy mày thề thốt là không có ý đồ trộm cắp, nhưng tự tiện cũng vừa vừa thôi chứ. Ði ra ngay để tao còn vào.
Cô gái vừa càu nhàu vừa rũ nước ở cái dù.
- Dạ vâng tôi xin đi ngay, nhưng làm gì cô phải quát tháo đuổi ra như vậy. Thế chứ cô không di tản à?
- Có chứ, tao đã di tản, dĩ nhiên là tao di tản, nhưng có gì liên quan gì đến mày đâu?
- Thế thì chắc cô quên cái gì rồi. Này cô hãy vào đi đã, đứng đó mắc mưa ướt hết.
Cô gái không trả lời, vẫn vẻ bất bình, ngồi xuống ngưỡng cửa nhà bếp, trước chỗ thoát nước, đoạn duỗi dài hai chân, dội nước ào ào lên trên đôi cẳng dính đầy bùn. Gã khất thực không hề bối rối, ngồi xếp bằng, tay mân mê cái cằm xù râu, mắt hau háu nhìn thân hình cô gái. Cô ta nhỏ con, dáng dấp quê mùa, nước da hơi ngăm với những nốt tàn nhang trên sống mũi, quần áo thuộc loại tớ gái, gồm một chiếc váy vải dệt tay, một cái thắt lưng bằng vải Kokura. Tuy vậy, khuôn mặt cô ta tươi tắn và thân hình tròn lẳn, chắc nịch, trông xinh như quả đào hay quả lê mới hái.
- Này nếu cô phải trở lại đây trong cảnh hỗn quan hỗn quân này, chắc chắn để lấy một vật gì quan trọng lắm. Cái gì vậy hở Otomi? Cô quên cái gì vậy hở cô, nói tôi nghe!
- Ê này, chẳng có liên quan gì đến mày. Tao đã nói mày xéo khỏi chỗ này ngay lập tức, và đừng có xía vào chuyện của tao.
Sau câu trả lời thật bốp chát, bất chợt với dáng lo âu, cô ngước nhìn Shinko, thành khẩn hỏi:
- Này Shinko, mày có biết Mikê, con mèo nhà này không?
- A, Mikê, mới thấy nó lúc nãy mà. Ấy, nó đi đâu mất rồi nhỉ?
Gã hành khất đưa mắt nhìn quanh. Con mèo, không ai để ý đã thu mình trên kệ, giữa cái cối và cái chảo. Otomi cũng nhìn ra con mèo cùng một lúc với Shinko. Gác ngay cái gáo nước, và hầu như quên cả sự hiện diện của gã khất thực, cô gái đứng dậy trên sàn gỗ, cười vui vẻ gọi con mèo.
Shinkô trố mắt ngạc nhiên, hết nhìn con mèo lại nhìn cô gái:
- À thì ra là con mèo. Này cô, cô quên con mèo hả?
- Đi kiếm mèo thì đã sao?…Mikê! Mikê! nào, xuống đi.
Gã khất thực bật cười. Tiếng cười của gã xen trong tiếng mưa rền, lanh lảnh khó ưa. Otomi má đỏ lên vì giận, to tiếng với Shinkô, không nể nang:
- Mày cười cái gì? Bà chủ nhà này như điên như dại vì bỏ quên con mèo. Bà ta cứ khóc suốt, bảo lỡ con mèo có mệnh hệ nào thì không biết bà sẽ sống ra sao. Tao mủi lòng nên đội mưa trở về đây để kiếm nó cho được đấy…
- Thôi thôi, tôi không cười nữa.
Nói thì nói, gã khất thực vẫn tiếp tục cười, và ngắt lời cô gái:
- Ðược rồi tôi không cười nữa. Nhưng này, cô cứ thử nghĩ một tý mà xem, ngay từ ngày mai, cuộc chiến sẽ bắt đầu, và trong tình trạng ấy, chuyện lo cho một hay hai con mèo thì, để rồi coi, sẽ chẳng ra đâu vào đâu. Xin lỗi phải nói trắng ra, chứ chẳng thấy ai ở trên đời lại u mê và keo kiệt hơn bà chủ nhà cô. Cứ thử nghĩ mà xem, ngay cái chuyện bắt cô đi kiếm con Mikê chẳng hạn….
- Này im đi, tao không muốn nghe những lời đặt điều nói xấu bà chủ.
Otomi run nguời vì tức giận, nhưng gã khất thực, không như ta tưởng, vẫn thản nhiên trước cơn giận của cô gái. Không những thế, gã còn nhìn cô ta chầm chập không chút ngại ngùng. Thực ra lúc đó khuôn mặt cô gái là cả một vẻ đẹp man dại. Cái áo kimono và cái váy ướt vì trời mưa dán sát vào người, không chỗ nào mà không nõn nường. Nhìn một cái cũng đủ thấy nét trinh trắng trong tấm thân trẻ trung. Shinkô mắt vẫn như dính vào người cô gái, tiếp tục cười nói:
- Ờ đúng rồi, trước tiên qua việc bà ta bắt cô trở về kiếm Mikê. Cô không đồng ý với tôi sao? Vào lúc này, toàn khu Ueno, ai mà không di tản. Nhà cửa tuy còn đó nhưng khu này vắng như chùa bà đanh. Dầu cho lang sói không ló mặt, nhưng chắc gì chả có chuyện nguy hiểm xảy ra. Đúng như thế không nào?
- Này, thay vì lo sợ vẩn vơ như thế, bắt con mèo cho tao đi. Chiến sự còn chưa bắt đầu thì nguy hiểm ở chỗ nào cơ chứ?
- Này cô ơi, đừng có đùa. Làm thân cô gái đi dạo một mình giữa thời buổi như vậy mà không nguy hiểm thì tôi không biết khi nào mới gọi là nguy hiểm. Cứ nói thẳng thừng ra, ở đây, chúng ta chỉ có hai người, cô và tôi. Giả tỉ tôi đâm ra suy nghĩ quàng xiên, thì cô, thì … cô hai, làm được gì tôi nào?
Cái giọng cợt nhả của Shinko có vẻ nửa đùa nửa thật, nhưng trong ánh mắt trong sáng của Otomi không thoáng vẻ sợ hãi. Cặp má cô nàng càng đỏ hơn vì tức giận:
- Mày nói cái gì hử? Dễ chừng mày muốn dọa tao hả? - Otomi sấn một bước về phía Shinko, nói như đe ngược lại hắn.
- Dọa cô? Nếu chỉ dọa chút chơi thì đã nhằm gì? Trên đời, thiếu gì những thằng đeo đầy lon trên vai, mà ăn ở không ra hồn người. Hơn nữa, tôi chỉ là dân ăn xin…cô hiểu chứ? Tôi dám làm thiệt chớ chẳng dọa suông đâu. Bây giờ, nhỡ tôi lên cơn thèm muốn bất chợt thì sao..
Trước khi nói dứt câu, Shinko đã nhận một cái nện trên đầu, và gã cũng không hay Otomi đã nện mình với cái dù cán tre.
- Ðừng có nói tầm bậy.
Lại một lần nữa Otomi lấy hết sức bình sinh giáng cái dù lên đầu Shinko. Gã lùi nhanh ra xa, nhưng lại ăn thêm một đường dù khác trên vai áo yukata đã cũ mèm. Con mèo, giật mình vì tiếng động, nhẩy từ cái kệ sang bàn thờ ông táo, hất văng cả cái chảo, cùng lúc đánh đổ đĩa dầu thắp và nhánh tùng trên bàn thờ xuống đầu Shinko. Trước khi chệnh choạng đứng lên, một trận mưa dù đã rơi trên người gã.
- Tổ cha mi…tổ cha mi…
Otomi vẫn hươi vũ khí, Shinko tuy bị ăn đòn, nhưng cuối cùng gã cũng giật được cái dù. Quẳng nó qua một bên, gã nhẩy xổ vào người Otomi. Hai người giằng co trong một lúc trên sàn gỗ căn bếp hẹp. Ðúng lúc cuộc vật lộn đang gay cấn, cơn mưa lại bắt đầu rơi sầm sập trên mái bếp. Theo tiếng mưa càng ngày càng nặng hạt, ánh sáng trong căn nhà yếu hẳn đi. Mặc kệ những cái vả, những cái cào cấu sướt da của Otomi, Shinko tìm mọi cách giữ chịt cô ta trên sàn. Sau nhiều lần thất bại, gã hầu như làm chủ được tình hình, nhưng thình lình gã giật bắn như lò xo, nhẩy lùi một bước về phía cửa nhà bếp:
- Ðồ giặc cái.
Ðứng trước cánh cửa kéo của căn bếp, Shinko trừng mắt nhìn Otomi. Ngồi trên sàn gỗ, đầu tóc rũ rượi, Otomi cầm dốc ngược con dao cạo trong tay mà chắc cô ta giấu trong nẹp thắt lưng. Dáng điệu dữ dằn lại làm cô trông càng gợi tình. Cô có dáng dấp như con mèo Mikê đang phồng lưng trên cái kệ. Trong khoảnh khắc, hai người im lặng rình nhau. Hai ánh mắt ghìm nhau. Shinko thoắt nhếch miệng cười nhạt, rút từ trong yukata ra khẩu súng lục:
- Nầy, giờ có giỏi thì tới đây mà hung hăng!
Ðầu súng từ từ chĩa về phía ngực Otomi nhưng cô nàng vẫn không mở miệng, tiếp tục nhìn mặt Shinko với tia mắt căm thù. Khi gã thấy cô ta không chút dao động, bèn nẩy ra một ý, quay mũi súng lên cao về phía có hai con mắt hổ phách của con mèo đang ánh lên trong khoảng tranh tối tranh sáng:
- Này, tôi bắn được không cô Otomi? - Gã cất cao giọng cười như muốn trêu chọc.
- Nếu khẩu súng này đoành một phát, con mèo sẽ ngoẻo trước tiên, và sau đó sẽ tới lượt mày. Này, thế mày có muốn không nào?
Gã để tay lên cò súng như sắp bấm.
- Shinko, - Otomi chợt hét lên.
- Không, đừng bắn.
Shinko đưa mắt nhìn Otomi, nhưng mũi súng vẫn chĩa về con mèo.
- Tao biết quá là mầy sợ tao bắn nó mà.
- Ðừng bắn, tội nghiệp con mèo, làm phúc tha nó đi.
Thái độ của Otomi thay đổi thật đột ngột. Ánh mắt lo lắng, đôi môi hé run vì xúc cảm để lộ hai hàm răng nhỏ nhắn. Shinko nhìn khuôn mặt Otomi với dáng điệu diễu cợt và tò mò, cuối cùng hạ thấp mũi súng. Lúc ấy, trên mặt Otomi mới trút bớt vẻ lo âu.
- Ðược rồi, tao sẽ tha mạng cho con mèo. Bù lại… - Shinko tiếp tục nói với giọng điệu xấc xược, - bù lại mày phải hiến thân cho tao.
Otomi tránh cái nhìn của Shinko. Trong khoảnh khắc, hình như có một cảm giác tức giận, ghét, ghê tởm, buồn chán lẫn lộn, sùng sục trong trái tim nàng. Shinko dòm chừng mọi cử chỉ của cô gái, cẩn thận đi vòng về phía sau Otomi, kéo phăng cánh cửa phòng khách. Căn phòng nầy dĩ nhiên còn tối hơn cả căn bếp. Mặc dù chủ nhà đã di tản, giữa phòng vẫn còn tủ bàn và cả một lò sưởi hình bầu dục. Shinko đứng trong phòng khách, đưa mắt nhìn cổ áo Otomi, cái cổ lấm tấm mồ hôi. Có lẽ cô ta cảm thấy cái nhìn, xoay mình, ngước mắt nhìn Shinko. Sắc mặt hồng hào đã trở lại trên nét mặt không biết tự lúc nào, nhưng Shinko lại đâm ra hoảng hốt, cặp mắt chớp nhanh một cái, lại chĩa mũi súng về phía con mèo.
- Không, đừng bắn, tao xin mày…
Otomi, vừa lên tiếng ngăn Shinko vừa liệng con dao cạo cầm trong tay xuống sàn gỗ.
- Nếu mày không muốn tao bắn, thì vào trong kia cho tao. - Mặt Shinko thoáng vẻ diễu cợt.
- Gớm, cái thằng tởm thật. - Otomi lẩm bẩm miệt thị, trỗi dậy, xăm xăm đi vào phòng khách. Trước thái độ buông xuôi nhanh chóng, Shinko có vẻ hơi ngạc nhiên. Trong khi đó, không những mưa đã thưa hạt mà có lẽ một tia nắng quái đã len được qua mây, vì căn bếp nãy giờ chìm trong bóng tối lờ mờ, bỗng sáng hẳn ra. Shinko vẫn đứng im, lắng nghe tiếng động từ phòng khách: tiếng cởi thắt lưng sột soạt, tiếng thân người buông rơi xuống mặt chiếu. Chỉ có thế, căn phòng khách lại trở lên yên lặng.
Sau một phút lưỡng lự ngắn ngủi, Shinko bước vào phòng khách lù mù. Giữa căn phòng, Otomi đang nằm dài, ngửa người bất động, tay áo phủ trên mặt. Mới nhìn cảnh tượng này, Shinko bỏ chạy như tháo thân về lại căn bếp. Một tình cảm kỳ quái không thể diễn tả hiện trên nét mặt gã, có thể nó là một sự ghê tởm, hay xấu hổ, nào ai biết.Vừa bước chân ra đến bếp, lưng vẫn quay về phòng khách, gã cười nói một cách gượng gạo:
- Tôi đùa cô đấy, cô Otomi. Ðùa đấy thôi, xin cô trở lại đây.
Vài phút sau, Otomi với con mèo trong vạt áo, cái dù trong tay, vui vẻ trò chuyện với Shinko, đang ngồi trên một cái chiếu rách gã mới trải ra.
- Này cô, tôi có một chuyện hỏi cô. - Vẫn còn đang xấu hổ, gã tránh không nhìn mặt cô gái.
- Gì vậy?
- Thật ra cũng chẳng có chuyện chi. Nhưng tôi nghĩ trao thân cho ai là một điều quan trọng trong đời người đàn bà. Otomi à, muốn hiến cả thân mình để đổi mạng con mèo…như cô hiện nay, không phải hơi khùng sao, hở cô?
Shinko im lặng một lát. Otomi mỉm cười, tay vẫn vuốt ve con mèo.
- Cô thương con mèo đến như thế à?
- Tôi thương con mèo, thế nhưng… - Otomi trả lời bỏ lửng.
- Hay là…tại cô có tiếng là người giúp việc trung thành trong xóm này. Hoặc cô sợ nhỡ con mèo bị chết thì không biết ăn nói làm sao với bà chủ…có phải đó là nỗi lo âu của cô chăng?
- Dĩ nhiên tôi thương con mèo, và tôi cũng phải trung thành với bà chủ, tất cả đều đúng, nhưng tôi…
Otomi, đầu hơi nghiêng, ánh mắt nhìn xa xôi
- Không biết phải nói sao, chỉ biết là trong lúc ấy, tôi không thể tha thứ cho chính mình, nếu tôi không hành động như đã làm… chỉ có thế thôi.
Một vài phút sau, Shinko một mình, hai vòng tay ôm đầu gối phủ chiếc áo yukata cũ, ngồi thừ người trong căn bếp. Màn đêm lên dần cùng với tiếng mưa bây giờ đã thưa thớt. Sợi dây từ cửa sổ tò vò, cái chum đựng nước bên cạnh chỗ thoát nước, tất cả sự vật chìm dần trong bóng tối từng thứ một. Chuông khu Ueno từng tiếng rót vào đám mây đen, bắt đầu rền nặng nhọc. Như chợt tỉnh với hồi chuông, Shinko nhìn khoảng không gian yên lặng vây quanh, rồi lần mò từng bước xuống chỗ thoát nước, múc đầy một gáo nước.
- Ta, Murakami Shinzaburo, Shigemitsu dòng họ Minamoto danh giá, ngày hôm nay đã bị thua một keo.
Vừa lẩm bẩm, gã uống một hơi ngon lành gáo nước của buổi chiều tà…
*
Ngày 26 tháng 3 năm Minh Trị thứ 23, Otomi cùng chồng và ba con tản bộ trên đường Hirokoji khu Ueno. Ngày hôm đó thiên hạ làm lễ khánh thành cuộc triển lãm quốc gia lần thứ 3 tại Takenodai. Trong khu phố Kuromon, hoa đào đã gần như mãn khai. Trên đại lộ Hirokoji, thiên hạ tấp nập chen nhau. Từ phía Ueno, xe ngựa và xe kéo có lẽ đi dự lễ khai mạc về, tấp nập di chuyển không ngừng. Thiên hạ nhận ra những khuôn mặt quan quyền nổi tiếng trong những chiếc xe ngựa hay xe kéo, nào là Maeda Masena, Taguchi Ukichi, Shibusawa Eichi, Tsuji Shinji, Okakura Kakujo, Shimojo Masao.
Chồng của Otomi, một tay bế đứa con trai thứ vừa lên năm. Đứa con trai lớn tay bám vào vạt áo bố, họ chen lẫn trong dòng người ồn ào di động. Ðôi lúc ông chồng ngoái lại, dáng lo âu nhìn về phía Otomi đang đi theo sau. Cô nàng tay dắt đứa con gái đầu lòng, nở một nụ cười tươi tắn cùng chồng. Dĩ nhiên 20 năm đã mang lại dấu vết già nua trên mặt nàng, nhưng ánh mắt trong sáng của tuổi thanh xuân vẫn không đổi. Nàng đã lập gia đình vào năm Minh Trị thứ 4. Chồng nàng là cháu của ông chủ Kogaya Seibei. Lúc cưới, ông chồng có một tiệm đồng hồ nhỏ dưới Yokohama. Giờ đây, ông ta mở một tiệm tại phố lớn ở Ginza.
Otomi tình cờ ngước mắt nhìn lên. Trong một chiếc xe song mã đang chạy ngang trước mặt nàng lúc đó, có Shinko nghiêm trang ngồi. Ðúng là Shinko, không thể nào lầm được, nhưng bây giờ đã đeo đầy lon vàng chói, huy chương đủ loại. Tất cả tạo cho gã một vẻ uy nghiêm. Gã đội một cái mũ giắt lông đà điểu. Khuôn mặt hồng hào với bộ râu quai nón muối tiêu quay mặt nhìn về phía nàng, đúng là khuôn mặt gã hành khất thuở nào. Otomi chậm bước lại nhưng nàng không hề kinh ngạc. Ðối với nàng, Shinko không bao giờ là một gã hành khất tầm thường, nàng không thể giải nghĩa tại sao, nhưng nàng đã thấu hiểu chuyện đó từ lâu. Vì dáng dấp khuôn mặt của gã? Vì lời ăn tiếng nói của gã? Vì khẩu súng lục gã mang trên người? Không biết vì cái gì, nhưng nàng đã chắc chắn như vậy. Otomi nhìn thẳng mặt Shinko không chớp mắt. Vô tình hay cố ý, gã cũng nhìn khuôn mặt người đàn bà. Kỷ niệm của dĩ vãng vào một ngày mưa 20 năm trước đây trào lên trong tâm trí nàng, vào đúng giây phút ấy, rõ ràng đến se sắt con tim. Ngày đó, chỉ để cứu mạng một con mèo, Otomi đã sắp hiến thân cho Shinko mà không hề suy nghĩ. Bởi vì lẽ gì, nàng cũng không hiểu. Shinko, về phía gã, không hề đụng đến nàng, dù chỉ một đầu ngón tay cái thân thể mà nàng sẵn sàng buông thả trong lúc đó. Vì lẽ gì, nàng cũng không rõ. Nhưng mặc dù với cái động cơ không biết đến từ đâu này, dưới mắt Otomi, mọi hành động lúc đó đều quá đương nhiên, tất cả phải đúng như thế thôi. Ði ngược chiều chiếc xe, nàng thấy tâm hồn như rộng ngát ra.
Sau khi chiếc xe của Shinko đi qua, chồng nàng bị đám đông chen lấn, lại ngoảnh lại nhìn vợ. Nàng đáp lại bằng một nụ cười như không có chuyện gì xảy ra, một nụ cười đầy sức sống, một nụ cười đầy dịu dàng, trìu mến.
Tháng 8 năm 1922
từ nguyên tác tiếng Nhật Otomi no teiso
18/3/13

Tiếng hát đói nghèo - Trần Lực Kiều

Tiếng hát đói nghèo
Trần Lực Kiều
Vũ Phong Tạo dịch

Tốt nghiệp trung học cơ sở, Mễ Lạp tạm thời chưa có việc làm, ở lì trong nhà cùng mẹ làm bánh khoai tây.
Làm bánh khoai tây rất nhiều việc lặt vặt, lại mất thời gian tốn sức, buồn bã khó chịu, có lúc hơi lơ đãng, còn bị bàn mài cứa rách ngón tay, những lúc máu chảy, Mễ Lạp cũng không muốn làm nữa, nhưng khốn nỗi chạm phải ánh mắt nghiêm nghị của mẹ.
Ngày hôm ấy, người cứu Mễ Lạp đã đến, đó là cô Tăng, cán bộ đường phố. Cô Tăng vừa đến, mẹ em đã mặt mày tươi tỉnh chào đón cô.
Cô Tăng nói với mẹ em: “Nghe nói Mễ Lạp nhà chị hát rất hay, tôi đến mời em đi tham gia Hội diễn hát mừng “Mùa hè thành phố ven sông”, muốn Mễ Lạp giành được giải nhất!”
Vừa nghe nói, mẹ em đã vui mừng, nói: “Mễ Lạp nhà tôi hát hay thật, nhưng chỗ các chị các anh có lo cơm ăn cho chúng tôi được không? Mễ Lạp đi rồi, nặn bánh khoai tây không có người làm, nhà tôi lại còn có người phải trông chờ cơm ăn nữa!”
Mẹ Mễ Lạp vừa nói, vừa đưa mắt nhìn vào anh trai của Mễ Lạp ốm nặng đang nằm liệt giường.
Cô Tăng vội nói: “Chính vì lo chuyện cơm ăn cho gia đình ta, tôi mới đến tìm Mễ Lạp, tôi biết gia đình chị khó khăn, lương thực không đủ ăn, Mễ Lạp đi tập hát, nửa tháng đã có thể tiết kiệm được sáu cân lương thực, như vậy còn lợi hơn làm bao nhiêu bánh khoai tây chứ?”
Mẹ em không nói không rằng, bà làm sao tính toán giỏi bằng cô Tăng. Cô Tăng  là Chủ nhiệm khối phố, mấy nghìn hộ trong khối phố đều thuộc sự quản lý của cô, mẹ em dù không muốn, cũng không dám nói năng tuỳ tiện.
Ngày hôm sau, Mễ Lạp đã đi tập hát. Giọng hát của Mễ Lạp, có chất giọng trời cho, âm vực cao vang mà tròn, các ca khúc nói chung đều hát đúng âm điệu, khi hát bài “Sông Cái” của Quách Lan Anh, em không phải hạ giọng, vừa mềm vừa mượt, dư âm du dương, những người trong nghề nhắm mắt vừa nghe, bỗng như thấy đang thưởng thức giọng hát ngọt ngào của Quách Lan Anh, bất giác trố mắt ngạc nhiên lườm Mễ Lạp.
Các nhạc công lâu lắm rồi không nghe thấy âm thanh như vậy, ca khúc vừa dứt, họ buông nhạc cụ trong tay đều im lặng, họ hoàn toàn trầm lặng, họ bị tiếng hát của cô gái trẻ này chinh phục.
Cô Tăng đứng ngay bên cạnh, tận mắt nhìn thấy mọi chuyện, cô tuy không hiểu âm nhạc, song Mễ Lạp hát rất hay thì cô biết, các nhạc công ngây người ra, cô cũng  nhìn thấy cả.
Cô Tăng hứa hẹn ngay tại chỗ: “Mễ Lạp luyện giỏi hát hay, Hội thi nếu đoạt giải nhất, cô sẽ giới thiệu em đi Đoàn Văn công!”
Lời nói của cô Tăng khuấy động tâm tư của Mễ Lạp, nằm mơ em đều muốn vào Đoàn Văn công, như vậy em sẽ không phải ngày ngày làm bánh khoai tây nữa. Mễ Lạp sung sướng hát hết bài này đến bài khác, giọng hát của em có năng lực thích ứng mạnh, có thể hát hay nhiều ca khúc lạ lẫm, còn hát rất đúng những giọng ca tuyệt vời Hồ Truyền Khấu, An Khánh Tẩu, Điêu Đức Nhất.
Trong một thời gian, Mễ Lạp đã trở thành minh tinh. Khi mọi người ăn cơm đều muốn ngồi sát bên Mễ Lạp, hỏi em bắt đầu tập hát từ bao giờ, bắt đầu thích loại ca khúc này từ bao giờ. Mễ Lập thận trọng trả lời, nhưng có lúc tư tưởng mất tập trung. Ăn uống ở trong nhà ăn rất tốt, mỗi bữa một món ăn, hai chiếc bánh bao. Mễ Lạp bỗng nhớ đến anh trai. Anh trai bị bại liệt nằm trên giường, từ trước đến giờ chưa từng được ăn bánh bao bột trắng. Vừa nghĩ đến anh, Mễ Lạp bèn ăn không nổi nữa. Em bèn hỏi cô Tăng: Có thể đem một chiếc bánh kia của mình đem về cho anh trai của mình không?
Nếu là người khác, thì cô Tăng đã không đồng ý, nhưng em là Mễ Lạp, một ca sĩ có hy vọng nhất giành được giải thưởng lớn. Cô Tăng bèn gật đầu. Bắt đầu từ hôm ấy, mỗi bữa Mễ Lạp đều chỉ ăn một cái bánh bao, để giành một cái bánh bao kia mang về cho anh trai.
Một cái bánh bao tiêu hoá hết rất nhanh, Mễ Lạp rất nhanh cảm thấy đói, song em biết chuyển hướng, hễ đói là em bèn hát, hễ hát là quên béng tất cả mọi chuyện. Biện pháp này đã giúp ích Mễ Lạp rất nhiều, vừa đuổi nhanh cái đói vừa tập hát tốt hơn. Mễ Lập trở thành cục cưng của mọi người.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, Hội diễn mừng “Mùa hè về thành phố ven sông” đã đến gần, tập luyện cũng càng khẩn trương ráo riết. Hôm hợp luyện ấy, thực tế là lãnh đạo kiểm tra tiết mục.
Cô Tăng rất coi trọng buổi hợp luyện, cô nói: “Chủ tịch huyện trực tiếp phụ trách công tác văn hoá, tới xem; Trưởng phòng Văn hoá đến xem, lần diễn xuất này, không thua kém gì diễn xuất chính thức!”
Mễ Lạp lên sân khấu đầu tiên, cô Tăng cổ vũ động viên em: “Hát cho tốt, Chủ tịch huyện thấy em hát hay, sẽ đặc cách phê chuẩn em vào Đoàn Văn công!”
Mễ Lạp là một em bé ngoan, chỉ cần có thể vào Đoàn Văn công, em chẳng sợ gì cả, đừng nói lên sân khấu hát một hai bài.
Mễ Lạp thoải mái tư tưởng, quả nhiên khiến tên tuổi của em vượt trội lên, tiếng  hát như một con chim xinh đẹp, bay vào lòng của mỗi người có mặt, khiến mọi người mãi mãi không quên. Chủ tịch huyện bước lên sân khấu, khi chụp ảnh chung với các diễn viên, còn ưu ái kéo Mễ Lạp lại gần, hỏi han thân mật, ngoài ra còn bảo phóng viên nhiếp ảnh chụp riêng cho hai chú cháu một kiểu ảnh.
Trước biểu diễn thành công của Mễ Lạp, cô Tăng phấn khởi khỏi phải nói nhiều.
Ba ngày sau, Hội diễn hát bắt đầu. Thứ tự biểu diễn của đơn vị cô Tăng xếp vào buổi chiều. Để tăng cường sĩ  khí của các diễn viên, bữa cơm trưa, cô Tăng đổi bánh bao thành miến. Lại ưu ái xếp Mễ Lạp cùng ngồi chung một bàn ăn với một diễn viên nhí. Nhưng, diễn viên nhí ấy đột nhiên bị đau bụng, miến cũng không ăn nổi, mặt tái xanh trở về nhà. Mễ Lạp rất tiếc bát miến ấy, nếu như là bánh bao, em sẽ để giành mang về cho anh trai.
Diễn viên nhí đột nhiên rời khỏi đội tuyển khiến cô Tặng rất không vui, song nghĩ đến Mễ Lạp cứng cỏi, có thể một giỏi thắng trăm kém, đám mây đen trong lòng cô Tăng rồi cũng tan biến. Nhưng, sự tình thường không chiều theo lòng người, thường là chỉ biết con không biết công dưỡng dục của cha mẹ, biết làm ruộng mà không quan tâm đến gặt lúa. Chẳng ai ngờ Mễ Lạp có ưu thế như vậy, lại có thể làm vỡ mộng lần diễn xuất này. Khi Mễ Lạp biểu diễn, âm vực cao không tài nào lên được, hơn nữa âm thanh khản đặc, lại còn phá hỏng âm điệu nữa.
Cô Tăng thất vọng quá, lúc ấy nhăn mặt. Bản thân Mễ Lạp cũng thất vọng, rời khỏi sân khấu, chưa kịp tẩy trang, bèn một mình khóc mếu trở về nhà. Chẳng cần nói chuyện vào Đoàn Văn công đã trở thành bong bóng xà phòng nữa.
Mễ Lạp lại bắt đầu làm bánh khoai tây rồi, chẳng có một ai hỏi ra nguyên nhân thất bại của em, và nó đã trở thành một câu đố, nhức nhối ám ảnh lòng người.
Cho đến tận mười năm sau, Mễ Lạp thi đỗ vào Học viện Âm nhạc. Một cơ hội ngẫu nhiên, Mễ Lạp gặp lại một nhạc công năm ấy, nhạc công mời Mễ Lạp ăn cơm.  Trong bữa ăn, nhạc công dò hỏi đến chuyện này.
Nghe câu hỏi của nhạc công, trầm tư mặc tưởng hồi lâu, cuối cùng Mễ Lạp mới   hóm hỉnh nói: “Bát miến ấy, bỏ đi thật đáng tiếc!”

Cuốn sổ nợ của mẹ kế - Ngải Phi

Cuốn sổ nợ của mẹ kế
Ngải Phi
Nguyễn Ngọc Phụng dịch

1.
Cô không có ấn tượng gì về mẹ ruột của mình, lúc mẹ cô bỏ nhà ra đi cô còn quá nhỏ, hai tuổi là cái tuổi không có ký ức đối với một đứa bé. Sống với cha cho đến năm tuổi, thì cô có mẹ kế. Không giống những gia đình khác là cha con cô sống ở nhà mẹ kế, xài tiền của mẹ kế.
Mẹ kế có người con trai lớn hơn cô ba tuổi, không ức hiếp cô, nhưng lại ít nói, thỉnh thoảng cũng dùng ánh mắt lơ đễnh nhìn cô. Bà có một sạp bán trái cây, tình cảm đối với cha cô cũng tốt, cơm nấu xong phải chờ cha cô về mới được ăn, còn chuẩn bị cho cha cô một ít rượu ấm. Lúc đó cha cô đang làm thời vụ cho một công trường với mớ lương ba cọc ba đồng.
Cô là một đứa bé sống lặng lẽ, ít nói, không thân thiện với mẹ kế lắm. Mẹ kế đóng học phí cho cô, giặt quần áo cho cha con cô. So với những đứa trẻ khác, cô không quá hạnh phúc, nhưng cũng sống yên ổn.
Cuộc sống bình dị cứ lặng lẽ trôi qua, cho đến năm cô lên mười tuổi, công trường nơi cha cô đang làm việc bị sập do quá cũ, bốn người bị vùi trong đống đổ nát, trong đó có cha cô.
Lúc cô chạy đến bệnh viện, cha cô đã được người ta phủ vải trắng lên người, bên cạnh là mẹ kế đang khóc lóc vật vã. Cô đứng như trời trồng trước cửa phòng bệnh, con của mẹ kế ở phía sau đẩy lưng cô “ Mau đi nhìn cha lần cuối…”, cô định thần lại, nhảy bổ đến, khóc thét lên một tiếng rồi ngất đi trên mình cha cô.
Ngày đưa quàn, cô thẫn thờ bê bức di ảnh của cha, nghe những người xung quanh xì xào, đứa bé thật tội nghiệp, không biết có bị mẹ kế đuổi khỏi nhà không? Tối đó, cô mơ thấy mình quần áo rách rưới, ăn xin ở ngoài đường, lâu lâu lại bị mấy thằng choai choai chửi bới, ném đá vào người. Tỉnh lại, lần đầu tiên trong đời cô cảm thấy tột cùng sợ hãi.
Sáng sớm, mẹ kế giống như thường ngày, thức dậy nấu cơm, sau đó kêu cô dậy tựa như chưa hề xảy ra chuyện gì. Đầu cô nhức, cô thấp giọng van nài “ Hôm nay con có thể không đi học không? Con nhớ cha.”
Cô nghĩ bà sẽ đồng tình với cô, nhưng bà lạnh lùng nói : Không được! Không đi học thì cha cô sẽ sống lại được hay sao? Nếu ông ấy có sống lại cũng cho cô vài cái tát.
Hôm đó, cô đến trường trong nước mắt. Trước lúc ra khỏi nhà, mẹ kế từ phía sau la tới : “ Châu Gia Ngọc, cô nhớ cho kỹ, bắt đầu từ hôm nay tôi không muốn nhìn thấy cô khóc.”
Cũng từ hôm đó, mẹ kế hầu như không bao giờ cười với cô, nói chuyện với cô cũng toàn nạt nộ, hoàn toàn khác xa so với lúc cha cô còn sống. Cô nghĩ, quả thật là hành vi của những bà mẹ kế. Mình nhất định phải mau lớn, nhanh chóng rời khỏi cái nhà này, không bao giờ trở về nữa.
Năm học lớp bảy, lần đầu tiên có chu kỳ, cô sợ hãi, hốt hoảng. Mẹ kế biết chuyện, vứt cho cô miếng băng vệ sinh. Nhón lấy miếng băng mà cô không biết dùng như thế nào, bà không giúp cũng không chỉ, nghiêng mắt nhìn cô, quát “ Châu Gia Ngọc, chuyện gì cũng dựa vào người khác dạy mới làm được à?”
Chính giây phút đó, nước mướt uất ức bỗng tuôn trào, cô biết bắt đầu từ đây, chuyện của mình tự mình làm, đừng bao giờ trông chờ vào người khác.
Cô bắt đầu học cách giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa, ngay cả khâu nút áo. Mẹ kế nói được làm được, bà không còn giặt đồ cho cô lần nào nữa, và cũng không cần cô giặt đồ cho cả nhà.
2.
Mẹ kế không được học nhiều, con trai của bà thành tích học tập thuộc loại bình thường, tốt nghiệp trung học xong thì chuyển sang học trung cấp. Nhưng bà ra lệnh cho cô phải được hạng nhất, nên không thì đừng hòng trở về nhà.
Cho dù thành tích học tập của cô cũng không đến nỗi tệ lắm, nhưng để giành được hạng nhất thì đó là một khoảng cách quá xa. Cô hận, hận người mẹ kế độc ác, đối xử hà khắc với cô, cô có cảm giác bà ta đang tìm trăm phương ngàn kế đuổi cô ra khỏi nhà này, nhưng bây giờ cô không thể ra đi, cô không muốn trở thành một kẻ ăn mày.
Không còn cách nào khác, cô lao đầu vào học. Học ngày học đêm. Đèn nhà người ta đã tắt hết, chỉ có đèn nhà cô vẫn sáng. Có nhiều lúc  không chịu nỗi cô nằm dài xuống bàn thiếp đi một lúc, tỉnh dậy đi rửa mặt lại ngồi vào bàn học tiếp. Cô chán ghét việc học, nhưng cô không có quyền lựa chọn, bắt buộc phải giành được hạng nhất.
Kết quả thi cuối năm công bố, tên của cô vượt lên hai hai mươi mấy người, xếp hạng ba. Đến chủ nhiệm lớp còn kinh ngạc, một cô bé vốn dĩ lặng lẽ ít nói lại có thể xếp thứ ba trong lớp. Ban bè ngạc nhiên nhìn cô, nhưng cô chỉ biết cắn chặt môi, không có chút niềm vui của kẻ chiến thắng.
Tan học, cô ngập ngừng bước vào nhà, mẹ kế chỉ vào góc tường mắng “ Đúng là đồ phế vật không có chí, quỳ xuống.” Thì ra, trước khi cô về, mẹ kế đã đến nhà bạn học của cô hỏi thăm kết quả.
Tối đó, cô cứ quỳ mãi như thế, đối diện với bức tường cô không hề rớt một giọt nước mắt nào, cũng không nói một câu yếu lòng. Vì hai tiếng “ phế vật” cô thề sẽ thi đậu đại học – trường điểm, tốt nghiệp xong cô sẽ kiếm thật nhiều tiền, sau đó sẽ đem tiền quăng vào mặt bà ta mà hỏi “ Năm xưa bà nói ai là đồ phế vật?”
3.
Chuyện mua bán của mẹ kế không được như trước. Trước đây, thỉnh thoảng bà đem về một ít trái táo nhỏ, vài trái cam, hay là những quả chuối đã chín rục, nhưng bây giờ rất hiếm thấy. Mỗi ngày bà ngồi trên giường đếm từng tờ tiền, Tiền càng ngày càng ít. Cô nhìn thấy hết, bây giờ cô chỉ cầu nguyện ông trời phù hộ đừng để cho mẹ kế không kiếm không ra tiền, nếu không cô sẽ không được đi học.
Lần đó, một bạn học ở gần nhà đến tìm cô, mẹ kế mở cửa, bạn cô nói “ Châu Gia Ngọc mượn sách tham khảo của cháu, không biết đã xem xong chưa. Sắp tới thi tốt nghiệp phổ thông rổi, cháu cần dùng gấp.”
Sách tham khảo không rẻ chút nào, một bộ hai quyển dày cộp, giá hơn năm chục đồng một quyển, vì thế nhiều lần cô muốn xin tiền mua nhưng không biết làm sao mở miệng. Không ngờ hôm sau bà đưa cho cô tờ một trăm đồng, nói đúng ra là vứt vào mặt cô tờ bạc một trăm, tựa như bố thí rồi nói “ Cầm tiền đi mua giống sách của người ta”. Cô nhặt lấy, lòng vừa ấm lại một chút đã bị tạt nước lạnh “ Một trăm này tôi sẽ ghi nợ, kiếm được tiền rồi phải trả tôi hai trăm, chính cô nói sẽ trả tôi gấp đôi.”
Khi cô thật sự đậu vào trường điểm cấp ba, tưởng mẹ kế sẽ nhìn cô khác đi, sự thật đã chứng minh cô giỏi hơn đứa con suốt ngày chỉ biết ham chơi hơn ham học của bà ta. Nhưng mẹ kế chỉ cầm lấy tờ giấy báo trúng tuyển cặm cụi lo tính tiền học phí, lâu lâu lại lẩm bầm trong miệng “ Đúng là quỷ đòi nợ, nếu không nghĩ đến việc sau này cô sẽ trả nợ cho tôi, thì tôi nhất định không tiếp tục nuôi cô học nữa rồi.”
Cô thương lượng với mẹ kế sẽ ở trong ký túc xá của trường, bà dí tay vào trán cô “ Ở trong trường không tốn tiền à? Cô dùng ánh mắt khinh thường nhìn khuôn mặt đang thuỗn ra của bà, không nói được gì, nghe theo lời bà ta, cô biết chỉ cần kiên nhẫn thêm ba năm nữa thôi cô sẽ thật sự chiến thắng.
Ba năm sau, khi cầm tờ giấy trúng tuyển đỏ rực trong tay, cô vẫn khóc. Lâu lắm rồi cô không khóc, nhưng lần này cô phải khóc một trận cho thỏa thích. Trước khi đến trường đăng ký một ngày, mẹ kế gói sủi cảo cho cô ăn, không nói gì, cũng không tiễn cô, đeo túi hành lý to đùng sau lưng cô rời khỏi nơi mà cô không cho là nhà. Mẹ kế quay lưng đi, để lại cho cô một bóng dáng lạnh lùng.
Dần dần, cô không cần tiền của mẹ kế gởi nữa, một mình cô kiếm thêm hai chỗ dạy kèm, dù nghỉ đông hay nghỉ hè cô cũng không về nhà, tiền kiếm tuy không nhiều nhưng cũng đủ để cô đóng học phí và trang trải cuộc sống. Mẹ kế chưa bao giờ gọi điện cho cô, càng không bao giờ đến trường thăm cô. Cuộc sống sinh viên muôn màu muôn vẻ, khi cô tìm lại được chính mình cũng chính là lúc cô xóa hình bóng của mẹ kế ra khỏi đầu mình.
4.
Năm thứ ba, trước giao thừa, cô nhận được điện thoại của con trai bà. Anh ta chỉ nói muốn cô về nhà một chuyến, không nói thêm gì. Thật lòng cô không muốn về chút nào, tại sao phải về? Ở nơi đó đâu ai có cảm tình với cô, và cô cũng chẳng có gì lưu luyến với bất cứ người nào ở đó; có chăng chỉ là nợ nần, cái được gọi là ân tình chẳng qua chỉ giống như bao nhiêu năm qua họ nuôi một con thú trong nhà mà thôi. Nhưng cô nhất định sẽ trả, cô nghĩ chỉ cần cô tốt nghiệp, kiếm ra tiền cô sẽ thực hiện lời hứa năm xưa của mình, trả gấp đôi, sau đó giữa cô và họ sẽ không còn bất cứ mối quan hệ nào.
Về đến nơi, vẫn là ngôi nhà cũ, vẫn cách sắp xếp cũ, chỉ là không gian có vẻ lạnh lẽo, cô quạnh. Anh trai ngồi một bên hút thuốc. Cô không chủ động hỏi mẹ kế đi đâu, vốn dĩ nó không phải chuyện cô cần quan tâm. Sau khi hút không biết bao nhiêu điếu thuốc, anh trai đứng dậy đưa cho cô một quyển sổ cũ.
Đương nhiên cô nhận ra quyển sổ đó. Nó là sổ nợ của mẹ kế, chuyên dành để ghi lại ngày tháng năm nào cô mượn tiền, dùng vào việc gì. Có rất nhiều lần cô bắt gặp bà tẩn mẩn ngồi ghi ghi chép chép, thấy cô bà gấp lại, nói “ Đừng tưởng cô mượn tôi bao nhiêu mà tôi không biết, tôi ghi rành rành ra đây này!”
Cô cười nhạt, cầm quyển sổ, ngẩng đầu lên nhìn anh ta một cái, hỏi “ Sao, bây giờ muốn tôi trả nợ à?”, bỗng từ trong sổ nợ rớt ra một quyển sổ tiết kiệm, cô do dự mở ra xem, phía trong ghi con số hai chục ngàn đồng.
Cô không ngờ, đó không phải là sổ nợ, mà là nhật ký của mẹ kế, càng không ngờ rằng mẹ kế đã qua đời, đồng thời để ngôi nhà cho anh trai, còn số tiền sang sạp trái cây để lại cho cô.
Cô không thấy quá đau buồn, có chăng chỉ cảm giác sững sờ, tay cô run run lật từng trang nhật ký, tiếp theo là run đến nỗi làm rơi quyển nhật ký trúng ngay chân mình. Cô ngồi thụp xuống, nước mắt  vỡ òa.
Mẹ kế nói, “Lão Châu à, ông yên tâm, tôi không đi bước nữa đâu, vả lại liệu có ai chấp nhận người đàn bà một nách hai con như tôi không? Tôi nhất định nuôi Gia Ngọc khôn lớn, trở thành một đứa làm nở mày nở mặt cho ông.
Mẹ kế nói “ Ông đừng trách tôi quá nhẫn tâm đối với con, Gia Ngọc không giống những đứa trẻ khác, nó không có cha mẹ ruột ở bên cạnh, vì thế nó phải kiên cường, tự lập, nhịn nhục, khắc khổ!”
Mẹ kế nói “ Gia Ngọc không giành được hạng nhất, tôi phạt nó quỳ là quỳ với ông, nó không thi được hạng nhất người nó có lỗi nhiều nhất chính là ông.”
Mẹ kế nói “ Lão Châu à, tôi xuất thân từ nông thôn, không được học hành nhiều, tôi không biết mình dạy con như vậy có đúng không, nhưng Gia Ngọc thi đậu đại học rồi, là trường điểm, nó có thể tự nuôi mình được rồi…Tôi cười rồi khóc, khóc xong lại cười, đến lúc tôi phải nghỉ ngơi, tôi mệt rồi!”
Mẹ kế nói “ Gia Ngọc, 5 tuổi con đã đến sống ở nhà ta, ta xem con như con ruột của mình, đánh con thì đánh, mắng con thì mắng, nhưng ta chỉ luôn hy vọng sau này con sẽ được nở mặt nở mày với thiên hạ, sao con không về thăm ta?”
Mẹ kế nói, bệnh gan của ta càng ngày càng nặng, xem ra chắc không sống được mấy ngày nữa, muốn kiếm một tấm ảnh để làm di ảnh cũng không có, mấy năm trước chỉ mãi lo kiếm sống, sao không biết phải đi chụp một tấm ảnh chứ…”